CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1. Một số vấn đề về năng lực 1. Năng lực Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam [7]: “Năng lực là đặc điểm của cá nhân thể hiện mức độ thông thạo - tức là có thể thực hiện một cách thành thục và chắc chắn – một hay một số dạng hoạt động nào đó”. Theo Từ điển Tiếng Việt [11]: “Năng lực là phẩm chất tâm lí và sinh lí tạo cho con người khả năng hoàn thành một loại hoạt động nào đó với chất lượng cao”.
Theo Từ điển tâm lí học [4]: “Năng lực là tập hợp các tính chất hay phẩm chất của tâm lí cá nhân, đóng vai trò là điều kiện bên trong, tạo thuận lợi cho việc thực hiện tốt một dạng hành động nhất định”. Theo tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế thế giới OECD [19] thì “Năng lực là khả năng đáp ứng các yêu cầu phức hợp và thực hiện thành công nhiệm vụ trong một bối cảnh cụ thể.” Theo Chương trình giáo dục phổ thông tổng thể 2018 [1]: “Năng lực là thuộc tính cá nhân được hình thành, phát triển nhờ tố chất sẵn có và quá trình học tập, rèn luyện, cho phép con người huy động tổng hợp các kiến thức, kĩ năng và các thuộc tính cá nhân khác như hứng thú, niềm tin, ý chí,. thực hiện thành công một loại hoạt động nhất định, đạt kết quả mong muốn trong những điều kiện cụ thể.” Theo tác giả Bùi Văn Nghị [10]: Năng lực được chia làm ba bậc: Năng lực nhận biết/ tìm kiếm thông tin được xem là bậc thấp (sơ cấp), năng lực kết nối thông tin được xem là năng lực trung bình (trung cấp), năng lực khái quát, phân tích, đánh giá thông tin được xem là năng lực bậc cao (cao cấp). Năng lực của cá nhân thể hiện qua hoạt động (có thể quan sát được ở các tình huống, hoàn cảnh khác nhau) và có thể đo lường/ đánh giá được; 7 Năng lực được hình thành, phát triển ở trong và ngoài nhà trường; Năng lực được hình thành và biến đổi liên tục.
Năng lực được chia thành ba nhóm: Nhóm năng lực cơ bản; Nhóm năng lực chung; Nhóm năng lực cụ thể. Số lượng và những năng lực chung được đặt ra khác nhau ở các nước. Nhưng có thể thấy một số năng lực được hầu hết các nước quan tâm là năng lực về thông tin liên lạc, năng lực làm việc với những người khác và năng lực giải quyết vấn đề. Chẳng hạn, theo kết luận của Hội nghị giữa Hội đồng giáo dục và các Bộ trưởng Giáo dục - Đào tạo - Việc làm của Australia (9/1992), một kiến nghị về bảy năng lực cơ bản (key- competencies) của người lao động cần có được đề ra là: (1) Năng lực thu thập, phân tích và tổ chức thông tin, (2) Năng lực giao tiếp/truyền đạt ý tưởng và thông tin, (3) Năng lực lập kế hoạch và tổ chức hoạt động, (4) Năng lực làm việc với đối tác và theo nhóm, (5) Năng lực sử dụng tư duy toán học và kĩ thuật, (6) Năng lực giải quyết vấn đề, (7) Năng lực sử dụng công nghệ.
Năng lực toán học Có nhiều quan điểm khác nhau về năng lực toán học. Trong cuốn sách về nghiệp của nhà toán học, A.Kôlmôgôrov [13] chỉ ra rằng trong thành phần của những năng lực toán học gồm: 1) Năng lực biến đổi khéo léo những biểu thức chữ phức tạp, năng lực tìm được con đường giải các phương trình không theo các quy tắc chuẩn hoặc như các nhà toán học quen gọi các năng lực tính toán hay năng lực. 2) Trí tưởng tượng hình học hay là trực giác hình học. Tóm lại, năng lực toán học gắn liền với hoạt động trí tuệ của học sinh, giúp học sinh nắm vững và vận dụng tốt tri thức, kĩ năng và kĩ xảo của mình trong học tập môn toán.
Theo “Chương trình giáo dục phổ thông môn Toán năm 2018” [2] năng lực toán học của học sinh bao gồm 5 thành phần cốt lõi sau: - Năng lực tư duy và lập luận toán học, thể hiện qua việc: HS thực hiện được các thao tác tư duy như: so sánh, phân tích, tổng hợp, đặc biệt hóa, khái 8 quát hóa, tương tự, quy nạp, diễn dịch; chỉ ra được chứng cứ, lí lẽ và biết lập luận hợp lí trước khi kết luận; giải thích hoặc điều chỉnh được cách thức giải quyết vấn đề về phương diện toán học. - Năng lực mô hình hóa toán học, thể hiện qua việc: HS xác định được mô hình toán học cho tình huống xuất hiện trong bài toán thực tiễn; Giải quyết được những vấn đề toán học trong mô hình được thiết lập; Thể hiện và đánh giá được lời giải trong ngữ cảnh thực tế và cải tiến được mô hình nếu cách giải quyết không phù hợp. - Năng lực giải quyết vấn đề toán học, thể hiện qua việc: HS nhận biết, phát hiện được vấn đề cần giải quyết bằng toán học; Lựa chọn, đề xuất được cách thức, giải pháp giải quyết vấn đề; Sử dụng được các kiến thức, kĩ năng toán học tương thích để giải quyết vấn đề đặt ra; Đánh giá được giải pháp đề ra và khái quát hóa được cho vấn đề tương tự. - Năng lực giao tiếp toán học, thể hiện qua việc: HS nghe hiểu, đọc hiểu và ghi chép được các thông tin toán học cần thiết được trình bày dưới dạng văn bản toán học hay do người khác nói hoặc viết ra; Trình bày, diễn đạt được các nội dung, ý tưởng, giải pháp toán học trong sự tương tác với người khác; Sử dụng được hiệu quả ngôn ngữ toán học kết hợp với ngôn ngữ thông thường hoặc động tác hình thể khi trình bày, giải thích và đánh giá các ý tưởng toán học trong sự tương tác với người khác; Thể hiện được sự tự tin khi trình bày, diễn đạt, nêu câu hỏi, thảo luận, tranh luận các nội dung, ý tưởng liên quan đến toán học.
- Năng lực sử dụng công cụ, phương tiện học toán, thể hiện qua việc: HS nhận biết được tên gọi, tác dụng, quy cách sử dụng, cách thức bảo quản các đồ dùng, phương tiện trực quan thông thường, phương tiện khoa học công nghệ phục vụ cho việc học toán; Sử dụng được các công cụ, phương tiện học toán, đặc biệt là phương tiện khoa học công nghệ để tìm tòi, khám phá và giải quyết vấn đề toán; Nhận biết được các ưu điểm, hạn chế của những công cụ, phương tiện hỗ trợ để có cách sử dụng hợp lí.Krutetxki [17], NL toán học được hiểu theo 2 nghĩa, 2 mức độ: “Một là, theo ý nghĩa năng lực học tập (tái tạo) tức là năng lực đối với việc học Toán, đối với việc nắm giáo trình Toán học ở trường phổ thông , nắm một cách nhanh và tốt các kỹ thuật, kỹ năng, kỹ xảo tương ứng. Hai là, theo ý nghĩa năng lực sáng tạo (khoa học) , tức là năng lực hoạt động sáng tạo Toán học, tạo ra những kết quả mới, khách quan có giá trị lớn đối với xã hội loài người”. Năng lực giải toán đại số của học sinh lớp 10 trung học phổ thông 1. Năng lực giải toán Năng lực giải toán là một thành phần cốt lõi của năng lực giải quyết vấn đề toán học.
Nguyễn Thị Hương Trang [14] cho rằng: Năng lực giải toán là khả năng áp dụng tiến trình phát hiện và giải quyết vấn đề vào giải một bài toán cụ thể, đòi hỏi phương thức tiếp cận sáng tạo và tính hướng đích cao, nhằm đạt kết quả sau khi thực hiện các hoạt động giải toán. Theo Đỗ Thị Trinh [15]: Năng lực giải toán là một phần của năng lực toán học, bao gồm tổ hợp các kĩ năng, đảm bảo thực hiện các hoạt động giải toán một cách hiệu quả sau một số bước thực hiện. Trong cuốn “Sáng tạo toán học” của G. Polya [5] đã viết: “Quá trình giải toán là tìm kiếm một lối thoát ra khỏi khó khăn hoặc một con đường vượt qua trở ngại, đó chính là quá trình đạt tới một mục đích mà thoạt nhìn dường như không thể đạt được ngay.
Giải toán là khả năng riêng biệt của trí tuệ, còn trí tuệ chỉ có ở con người. Vì vậy giải toán có thể xem như một trong những biểu hiện đặc trưng nhất trong hoạt động của con người”. Theo chúng tôi năng lực giải toán chính là khả năng giải quyết các bài toán thể hiện ở việc HS có thể giải quyết được các bài toán bao gồm các bài toán đã có phương pháp giải, những bài toán phải thông qua các bước biến đổi để đưa về các dạng toán quen thuộc,… Đây là yếu tố bộc lộ sự nhanh nhẹn, linh hoạt, mềm dẻo, sáng tạo giúp giải các bài toán, kể cả những bài 10 toán khó. Đây là một quá trình không ngừng trau dồi, luyện tập, học hỏi từ năm này qua năm khác, từ cái dễ đến cái khó.
Năng lực của học sinh là do chính bản thân học sinh xây dựng nên. Tuy nhiên, năng lực giải toán của học sinh cũng chịu sự tác động không nhỏ của thầy cô giảng dạy. Năng lực giải toán đại số của học sinh lớp 10 Trong luận văn này, chúng tôi quan niệm năng lực giải toán đại số chính là khả năng giải quyết các bài toán có nội dung đại số. Học sinh vận dụng các kiến thức, kĩ năng toán học của mình để giải các bài toán đại số đã có sẵn phương pháp giải hoặc những bài toán khó, phải vận dụng linh hoạt nhiều kiến thức để giải.
Những thành tố của năng lực giải toán đại số của học sinh lớp 10 trong chủ đề phương trình, hệ phương trình 1. Thành tố 1: Học sinh hiểu và diễn đạt được thông tin toán học trong các bài toán đại số Những khái niệm cơ bản của chủ đề phương trình, hệ phương trình trong Đại số 10 mà HS cần nắm được: - Hàm số [6]: Giả sử có hai đại lượng biến thiên x và y , trong đó x nhận giá trị thuộc tập D. Nếu mỗi giá trị của x thuộc tập D có một và chỉ một giá trị tương ứng của y thuộc tập số thực thì ta có một hàm số. Ta gọi x là biến số và y là hàm số của x.
- Phương trình một ẩn [6]: Phương trình với ẩn x là mệnh đề chứa biến có dạng f ( x) g ( x) , trong đó f ( x) và g ( x) là hai biểu thức của cùng biến x. Ta gọi f ( x) là vế trái; g ( x) là vế phải của phương trình. - Phương trình tương đương [6]: Hai phương trình được gọi là tương đương khi chúng có cùng tập nghiệm.