CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1. Tóm tắt về năng lực Trên cơ sở quan điểm của các nhà nghiên cứu khác nhau, khái niệm năng lực có thể được hiểu và định nghĩa theo những cách khác nhau. Phạm Minh Hạc [8] cho rằng năng lực là tổng hợp các đặc điểm tâm lý hoạt động có mục đích xác định, dẫn đến việc hoàn thành tốt hoạt động. Nguyễn Công Khanh [9] xem năng lực là khả năng nắm vững kiến thức, kỹ năng, thái độ và liên hệ chúng một cách logic để giải quyết vấn đề và thực hiện nhiệm vụ một cách có hiệu quả.
Theo ông Khanh, năng lực là một cấu trúc động, đa thành phần, không chỉ bao gồm kiến thức, kỹ năng mà còn bao gồm niềm tin, giá trị và trách nhiệm xã hội, thể hiện qua sự sẵn sàng hành động trong điều kiện thực tế và luôn thay đổi. Phù hợp với các quan điểm đó, chương trình giáo dục phổ thông định nghĩa năng lực là thuộc tính của cá nhân được hình thành và phát triển thông qua các phẩm chất vốn có và quá trình học tập, rèn luyện. Nó cho phép các cá nhân huy động và tổng hợp kiến thức, kỹ năng và các thuộc tính cá nhân như sở thích, niềm tin và ý chí để thực hiện thành công các hoạt động và đạt được kết quả mong muốn trong những điều kiện cụ thể [1]. Trong luận văn này, chúng tôi lấy quan niệm “năng lực là thuộc tính của cá nhân được hình thành và nuôi dưỡng bởi những phẩm chất vốn có, cũng như qua quá trình học tập, rèn luyện.
Nó cho phép các cá nhân đáp ứng các yêu cầu phức tạp và hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ của họ trong một bối cảnh nhất định.” Định nghĩa này nhấn mạnh bản chất năng động của năng lực và làm nổi bật vai trò của nó trong việc giúp các cá nhân thích nghi và vượt trội trong các tình huống thử thách. Tóm tắt về năng lực giải quyết vấn đề toán học 1. Khái niệm năng lực giải quyết vấn đề 14 Khi tiếp cận năng lực giải quyết vấn đề, trọng tâm là khía cạnh xử lý thông tin, làm nổi bật quá trình tư duy của người giải quyết vấn đề và bản thân vấn đề. Không gian vấn đề, bao gồm trạng thái ban đầu, trạng thái trung gian (mục tiêu) và các chiến lược để chuyển từ trạng thái này sang trạng thái khác, thể hiện sự phát triển tâm lý bên trong của người giải quyết vấn đề.
Phạm Văn Hoàn và cộng sự (1981) [7] thảo luận về giải quyết vấn đề trong toán học, xác định ba thành phần chính liên quan đến chuyển đổi biểu thức từ, trí tưởng tượng và suy luận logic. Các thành phần này bao gồm khả năng chuyển đổi thành thạo các biểu thức từ phức tạp, tìm các phương pháp thay thế để giải các phương trình, rèn luyện trí tưởng tượng và sử dụng lý luận hợp lý theo cách hợp lý và tuần tự. Trong dạy học toán, Nguyễn Anh Tuấn (2003) [22] nhấn mạnh, NLGQVĐ của HS là tổng hợp các năng lực được thể hiện thông qua các kĩ năng vận dụng tư duy và hành động trong các hoạt động học tập, giúp các em phát hiện và giải quyết các nhiệm vụ toán học. Quá trình giải quyết vấn đề có thể được xem như điều hướng trong không gian vấn đề, bao gồm các bước như tìm kiếm vấn đề, thể hiện vấn đề, lập kế hoạch giải pháp, thực hiện kế hoạch, đánh giá giải pháp và hợp nhất.
Các phương pháp, chiến lược khác nhau có thể được sử dụng, dẫn đến kết quả đa dạng. Ngoài ra, các vấn đề thường xuất hiện từ các tình huống thực tế, khiến chúng ban đầu không rõ ràng, phức tạp và có thể thay đổi liên tục trong quá trình tương tác. Với sự nhấn mạnh ngày càng tăng về GQVĐ hợp tác, NLGQVĐ hợp tác đã đạt được ý nghĩa. Chương trình đánh giá học sinh quốc tế PISA 2015 đã giới thiệu khái niệm năng lực giải quyết vấn đề là khả năng của các cá nhân tham gia hiệu quả vào một quy trình hợp tác, trong đó nhiều đối tác cố gắng giải quyết vấn đề bằng cách chia sẻ hiểu biết và cùng nhau hướng tới một giải pháp.
Tác giả Nguyễn Thị Lan Phương (2014) [15] định nghĩa năng lực giải quyết vấn đề là khả năng của một cá nhân trong việc sử dụng hiệu quả các quá 15 trình nhận thức, hành động, thái độ, động cơ và cảm xúc để giải quyết các tình huống có vấn đề thiếu các quy trình, thủ tục hoặc giải pháp được xác định trước. Cấu trúc NLGQVĐ - Quá trình giải quyết vấn đề bao gồm bốn thành phần chính, mỗi thành phần liên quan đến các hành vi cá nhân khác nhau khi làm việc độc lập hoặc hợp tác: - Tìm hiểu và phát hiện vấn đề: Xác định tình huống có vấn đề và bối cảnh của nó; Nhận biết và diễn giải các thông tin liên quan; Chia sẻ và thảo luận về sự hiểu biết với những người khác để đạt được nhiều quan điểm. - Xác lập không gian vấn đề: Tập hợp, sắp xếp và đánh giá độ tin cậy của các thông tin liên quan đến vấn đề; Kết nối thông tin thu được với kiến thức hiện có; Xác định các phương pháp, quy trình, chiến lược phù hợp để giải quyết vấn đề; Đạt được sự đồng thuận về quá trình hành động để thiết lập không gian vấn đề. - Thực hiện giải pháp: Xây dựng kế hoạch rõ ràng để thực hiện giải pháp đã chọn, bao gồm các bước như thu thập dữ liệu, thảo luận, tham vấn, thiết lập mục tiêu, xem xét giải pháp và quản lý thời gian; Phân bổ và xác định việc sử dụng nguồn lực, chẳng hạn như nguồn nhân lực, nguồn lực tài chính và cơ sở vật chất; Thực hiện và trình bày bài giải một cách hiệu quả; Tổ chức và duy trì các hoạt động nhóm, điều chỉnh và giám sát chúng để phù hợp với bất kỳ thay đổi nào trong không gian vấn đề.
- Đánh giá, phản ánh giải pháp: Đánh giá hiệu lực, hiệu quả của giải pháp đã thực hiện; Suy ngẫm về giá trị và tác động của giải pháp; Đánh giá và xác nhận kiến thức thu được, rút ra các kết nối và khái quát hóa cho các vấn đề tương tự; Đánh giá đóng góp và vai trò cá nhân trong hoạt động nhóm. Năng lực giải quyết vấn đề của HS thông qua môn Toán Phan Anh Tài (2014) phân tích năng lực NLGQVĐTH, trong đó nêu bật 4 thành phần chính: hiểu vấn đề, phát hiện và thực hiện giải quyết, trình bày cách giải quyết và phát hiện giải pháp mới [17]. 16 Đồng quan điểm, Hà Xuân Thành (2017) [20] đi sâu nghiên cứu các giải pháp dạy học môn Toán theo hướng phát triển NLGQVĐTH thực tiễn thông qua vận dụng tình huống thực tiễn. Nghiên cứu nhấn mạnh việc xây dựng và thực hiện các bài tập có nội dung thiết thực, hướng tới phát triển các thành phần cụ thể trong năng lực giải quyết vấn đề.
Dựa trên những phát hiện được trình bày ở trên, có thể kết luận rằng “năng lực giải quyết vấn đề toán học bao gồm năng khiếu của một cá nhân để sử dụng hiệu quả các kỹ năng và khả năng nhằm điều hướng các tình huống có vấn đề trong quá trình học tập, cuối cùng đạt được các giải pháp thành công. Mô tả các thành phần của NLGQVĐTH và yêu cầu cần đạt đối với HS tiểu học. Yêu cầu cần đạt đối với HS cấp Tiểu học NL giải quyết vấn đề Đối với HS các lớp 1, Đối với HS các lớp 4, toán học 2, 3 (học tập cơ bản) 5 (học tập sâu) NL1. Nhận biết, phát hiện Nhận biết được vấn đề Nhận biết được vấn đề vấn đề cần giải quyết bằng cần giải quyết và nêu cần giải quyết và phát toán học (nhận biết, phát được thành câu hỏi.
biểu thành câu hỏi. hiện vấn đề toán học). Lựa chọn, đề xuất Nêu được cách Nêu được phương pháp cách thức, giải pháp GQVĐTH đơn giản, độ GQVĐTH. Sử dụng kiến thức, kĩ Thực hiện và có thể Thực hiện và trình bày năng, công cụ toán học trình bày được cách được cách thức tương thích để GQVĐ đặt thức GQVĐTH ở mức GQVĐTH ở mức độ ra (thực hiện giải pháp độ đơn giản (có thể còn đơn giản.
Kiểm tra giải pháp đề Kiểm tra được giải Kiểm tra và điều chỉnh ra và khái quát hoá cho vấn pháp đã thực hiện. Nếu nhỏ giải pháp đã thực đề toán học tương tự (kiểm được hướng dẫn, có thể hiện. tra, đánh giá, điều chỉnh điều chỉnh nhỏ giải giải pháp GQVĐTH). Đàn vịt có 183 con, đàn gà ít hơn đàn vịt 21 con.
Hỏi đàn gà có bao nhiêu con? - Thời điểm dạy học: Tiết 42 - Luyện tập phép trừ không nhớ trong phạm vi 1000 - Chúng ta mong đợi ở HS có thể có quá trình GQVĐTH như sau: NL1- Phát hiện vấn đề: Nhận biết được cần tìm số con gà; đưa ra được câu hỏi: Bao nhiêu con gà? NL2- Đưa ra giải pháp: Phân tích được có 183 con vịt, đàn gà ít hơn đàn vịt 21 con. Từ đó đưa ra giải pháp: 183 – 21 = ?, biết số bị trừ , biết số trừ, cần tìm hiệu. NL3- Thực hiện giải pháp: Thực hiện phép tính: 183 – 21 = 162 (con gà). NL4- Kiểm tra giải pháp: Kiểm tra lại kết quả: số vịt 183, số gà 162.
Vậy đàn gà ít hơn đàn vịt 183- 162 = 21 (con) - Kết luận giải pháp trên là đúng. - Kết hợp với mô hình ASK về năng lực, chúng ta có thể mô tả về NLGQVĐTH của HS lớp 2 như sau: Bảng 1. Các mức độ cần thiết phát triển NLGQVĐTH với HS lớp 2 18 Thành phần thành tố Mức Kiến thức Kĩ năng Thái độ NL HS GV hướng dẫn HS Nêu được thành Phối hợp trung nhận biết được vấn đề câu hỏi (có thể NL1. Phát bình cần giải quyết có sai sót) hiện vấn đề HS Tự học và tự nhận Nêu được thành Tích cực khá, biết được vấn đề cần câu hỏi đúng - Phối giỏi giải quyết ngữ pháp, đúng hợp yêu cầu HS GV hướng dẫn HS Nêu được cách GV trung vận dụng các kiến GQVĐTH (có hướng NL2.
Đưa ra bình thức đã học để đưa ra thể có sai sót) dẫn HS giải pháp giải pháp phối hợp HS Tự vận dụng kiến Nêu được đúng Tích cực khá, thức đã học để đưa ra cách GQVĐ - Phối giỏi giải pháp hợp HS GV định hướng HS Thực hiện Tham gia trung tổng hợp, thực hiện GQVĐTH ở -Phối hợp NL3.