CHƯƠNG 1: CO SÒ LÝ LUẬN VÀ THỤC TIẺN VÈ DẠY HỌC THEO MÔ HÌNH TRẢI NGHIỆM NHẰM TẠO HỨNG THÚ HỌC TẬP CHO HỌC SINH 1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề 1,1,1, Các nghiên cứu trên thế giới Cách đây hơn 2000 năm trước, các nhà triết học và các nhà giáo dục học dựa trên quan điểm triết học về giáo dục để đưa ra những tác dụng tích cực của HĐTN giáo dục dưới những góc nhìn khác nhau : Ớ phương Đông, người hình thành nên nho giáo nguyên thủy Khổng Tử (551-479 TCN) đã nói: “Những gì tôi nghe, tôi sẽ quên; Những gì tôi thấy, tôi sẽ nhớ; Những gì tôi làm, tôi sẽ hiểu”, tư tưởng này thể hiện tinh thần chú trọng học tập từ trải nghiệm và việc làm. Cùng thời gian đó, ở phương Tây, nhà triết học Hy Lạp - Xôcrát (470-399 TCN) cũng nêu lên quan điểm: “Người ta phải học bằng cách làm một việc gì đó; Với những điều bạn nghĩ là mình biết, bạn sẽ thấy không chắc chắn cho đến khi làm nó”. Đây được coi là những nguồn gốc tư tưởng đầu tiên của “Giáo dục trải nghiệm”.
“Giáo dục trải nghiệm” được thực sự đưa vào giáo dục hiện đại từ những năm đầu của thế kỷ 20. [32J Tại Mỹ, năm 1902, “Câu lạc bộ trồng ngô” đầu tiên dành cho trẻ em được thành lập, CLB có mục đích dạy các HS thực hành trồng ngô, ứng dụng khoa học kỹ thuật vào nông nghiệp thông qua các công việc nhà nông thực tế. Hơn 100 năm sau, hệ thống các CLB này trở thành hoạt động cốt lõi cùa tổ chức 4-H, tổ chức phát triển thanh thiếu niên lớn nhất của Mỹ, tiên phong trong ứng dụng học tập qua lao động, trải nghiệm. Tại Anh, năm 1907, một Trung tướng trong quân đội Anh đã tổ chức một cuộc cắm trại hướng đạo đầu tiên.
Hoạt động này sau phát triển thành phong trào Hướng đạo sinh rộng khắp toàn cầu. Hướng đạo là một loại hình “Giáo dục trải nghiệm”, chú ý đặc biệt vào các hoạt động thực hành ngoài trời, bao gồm: cắm trại, kỳ năng sống trong rừng, kỳ năng sinh tồn, lửa trại, các trò chơi tập thể và các môn thể thao. Cho đến năm 1977, với sự thành lập của “Hiệp hội Giáo dục trải nghiệm” (Association for Experiential Education - AEE), “Giáo dục trải nghiệm” đã chính thức được thừa nhận bằng văn bản và được tuyên bố rộng rãi. Tại Hội nghị thượng đỉnh Liên Hiệp quốc về phát triến bền vững (2002), chương trình “Dạy và học vì một tương lai bền vững” đã được UNESCO thông qua, trong đó có học phần quan trọng về “Giáo dục trải nghiệm” được giới thiệu, phổ biến và phát triển sâu rộng.
Quan điềm học qua trải nghiệm đã trở thành tư tưởng giáo dục chính thống khi gắn liền với các nhà tâm 5 lí học, giáo dục học như John Dewey, Kurt Lewin, Jean Piaget, Lev Vygotsky, David Kolb, William James, Carl Jung, Paulo Freire, Carl Rogers. và hiện nay, tư tưởng “Học thông qua làm, học qua trải nghiệm” vẫn là một trong triết lí giáo dục điển hình của nước Mĩ. Tr 36] Mô hình học tập điển hình theo quan điểm “học qua làm, học bắt đầu từ làm” đó là mô hình học tập qua kinh nghiệm cua John Dewey (1859-1952). Theo ông, quá trình sống và quá trình giáo dục không phải là hai quá trình mà là một.
Giáo dục tốt nhất phải là sự học tập trong cuộc sống. Trong quá trình sống, con người không ngừng thu lượm kinh nghiệm và cải tố kinh nghiệm nên trẻ em phải học tập trong chính cuộc sống xã hội. Theo tư tưởng này, dạy học phải giao việc cho HS làm, chứ không phải giao vấn đề cho HS học. Những tri thức đạt được thông qua làm mới là tri thức thật.
Vì vậy, ông chủ trương đưa các loại bài tập hoạt động như: nghề làm vườn, dệt, nghề mộc. vào nhà trường. Đây là loại bài tập có khả năng phát triển hứng thú và nãng lực cùa HS, vừa phản ánh được thực tiễn xã hội [ 13,tr 50]. Theo John Dewey, học tập qua trải nghiệm được thừa nhận là phương pháp cốt lõi cùa giáo dục trải nghiệm.
Phương pháp này khiến người học sử dụng tổng hợp các giác quan (nghe, nhìn, chạm.) có thề tăng khả năng lưu giữ những điều đã học được lâu hơn. Các cách thức dạy và học đa dạng của phương pháp có thế tối đa hóa khả năng sáng tạo, tính năng động và thích ứng của người học. Người học được trải qua quá trình khám phá kiến thức và tìm giải pháp từ đó giúp phát triển nãng lực cá nhân. Việc học trở nên thú vị hơn với người học và việc dạy trở nên thú vị hơn với người dạy.
Bởi vì, khi HS được chủ động tham gia tích cực vào quá trình học họ sẽ có hứng thú và chú ý hơn đến những điều học được và ít gặp vấn đề về tuân thủ kỷ luật. HS có thế học các kĩ năng sống mà được sử dụng lặp đi lặp lại qua các bài tập, hoạt động, từ đó tăng cường khả năng ứng dụng các kĩ năng đó vào thực tế. Một mô hình “học tập qua trải nghiệm ”nổi bật là cùa David Kolb [25]. Đó là mô hình học tập dựa trên trải nghiệm nhàm “quy trình hóa” việc học với các giai đoạn và thao tác được định nghĩa rõ ràng.
Chu trình trải qua các bước: 1. Kinh nghiệm rời rạc: Người học có một số kinh nghiệm thông qua đọc tài liệu, xem video,. Quan sát có suy tưởng: Quan sát, phân tích,đánh giá,. các sự vật, hiện tượng,.
Tự mình suy tưởng về những vấn đề đó có hợp lí hay không ,. Khái niệm hóa: Ở giai đoạn này, người học đi đến việc hiểu khái niệm chung - khái niệm mà sự trải nghiệm thực 6 tế của họ là một. Thử nghiệm tích cực: Trong giai đoạn này, người học sử dụng nhừng giả thuyết đã có được ở giai đoạn hình thành khái niệm trừu tượng để đưa ra những phán đoán về tình huống trong cuộc sống thực. Ngoài ra, còn phải kể đến rất nhiều các nhà giáo dục học hiện đại như Willingham, Conrad và Hedin, Druism, Owens và Owens, Karen Warren.
Đối với các nước có nền giáo dục phát triền, đặc biệt là các nước tiếp cận chương trình giáo dục phố thông theo hướng phát triển năng lực, hoạt động trải nghiệm sáng tạo được quan tâm và triển khai dưới nhiều góc độ. Trong khu vực Châu Á, từ năm 1973, học tập trải nghiệm đà được Hồng Kông áp dụng thông qua việc dạy học qua hoạt động tham quan, dã ngoại. Tư tưởng này tiếp tục phát triến ở các nước Châu Á khác như Singapore, Đài Loan, Hàn Quốc, Trung Quốc. DHTN sáng tạo có một bước tiến quan trọng hơn khi vào năm 2002, chương trình “Dạy học vì một tương lai bền vừng” đã được UNESCO thông qua.
Trong chương trình này có phần quan trọng về học qua trải nghiệm sáng tạo. [5] Như vậy, DHTN đã thu hút sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu trên thể giới từ thời điểm khá sớm. Các nhà nghiên cứu này đều đánh giá cao tầm quan trọng của kinh nghiệm và các trải nghiệm mà HS có cơ hội tham gia trong quá trình học, góp phần quan trọng vào việc nâng cao hiệu quả của quá trình học tập. Trên hế giới, những công trình nghiên cứu húng thú xuất hiện tương đối sớm và ngày càng phát triến: Năm 1911, X.
Ananhin đã quan tâm đến khái niệm hứng thú, ông lo ngại việc sử dụng bừa bãi khái niệm hứng thú, đồng thời thấy được tính bất ốn và đa dạng của khái niệm [19, tr. Tuy nhiên, trong những năm đầu của thế kỷ XX, các nhà nghiên cứu hầu như muốn lảng tránh khái niệm này Năm 1931, ờ Anh tác giả E.Strong trong tác phẩm “Change of interest with age" đã đưa ra phương pháp nghiên cứu về hứng thú, nêu nhiều câu hỏi và tiến hành điều tra trên nhiều đối tượng khác nhau, trong đó ông đã chú ý đến lứa tuối HS. Tác giả cho ràng hứng thú được biểu hiện ra trong xu thế của con người có mong muốn học được một số điều nhất định, thích một vài hoạt động và định hướng tính tích cực nhất định vào những hoạt động đó [28, tr. Tuy nhiên, ông chưa đi sâu phân tích những biểu hiện, tác động của hứng thú đối với hoạt động học tập ở HS.Belaep đã có những nghiên cứu cụ thể hơn về hứng thú.
Ông 7 cho răng, ngoài những đặc trưng chung, khái niệm hứng thú còn có những đặc trưng riêng, có thề chia thành hứng thú của trẻ em với trò chơi, các sự vận động, hứng thú tìm giải đáp câu đố, tìm ra cái mới, cái bí ấn, hứng thú của người chơi khi giành chiến thắng, hứng thú khi chơi một môn thể thao như chơi cờ, chơi bóng đá, hứng thú biếu diễn, hứng thú đọc truyện. Từ khái niệm hứng thú này, tác giả cũng giải thích và xác định hứng thú của HS với các môn học, hứng thú cùa nghệ sĩ với biếu diễn, của bác học với khoa học. Tuy nhiên, Belaep chưa đưa ra những biện pháp để hình thành hứng thú cho học sinh [ 19, tr. Bên cạnh đó các nhà tâm lý học còn đi sâu nghiên cứu nhận thức hứng thú: Năm 1974, A.
Daparôgiet trong “Tâm lý học" cũng đã nghiên cứu về hứng thú nói chung và hứng thú nhận thức nói riêng. Ông quan niệm “hứng thú là khuynh hướng chú ỷ tới đối tượng nhất định, là nguyên vọng tìm hiểu chúng một cách càng tỉ mỉ càng hay" [8, tr.Marozova trong “Hứng thú nhận thức" (1976) đã cho rằng: Hứng thú là khuynh hướng lựa chọn, khuynh hướng chú ý cùa con người; là khuynh hướng tác động một cách có hiểu biết, có ý thức đối với khách thể mà con người định hướng vào đó; hay hứng thú là khuynh hướng ưu tiên chú ý vào một khách thể nào đó [19, tr. Qua các nghiên cứu của các nhà tâm lý học có thế thấy các nhà tâm lý học đã rất quan tâm đến vấn đề hứng thú, hứng thú nhận thức. Trên cơ sở những tài liệu đã được tiếp cận, chúng tôi nghiên cứu về HTHT.
Ở Việt Nam Học qua trải nghiệm đã có từ xa xưa và xuất hiện trong câu ca dao “Trăm hay không bằng tay quen” .Người xưa đã quan niệm lý thuyết hay không bằng thực hành gioi. Sinh thời Bác Hồ rất quan tâm tới thế hệ trẻ nói chung và đặc biệt công tác dạy học nói riêng .Cả cuộc đời, người chỉ có “một sự ham muốn, ham muốn tột bậc, là làm sao cho nước ta hoàn toàn độc lập. đồng bào ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành”. Trong đó Bác đã chỉ ra phương pháp dạy học “Học phải đi đôi với hành, lí luận phải gắn liền với thực tế”.