CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC RÈN KĨ NĂNG HỢP TÁC CHO HỌC SINH TIỂU HỌC THÔNG QUA HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC 1. Một số khái niệm 1. Kĩ năng, kĩ năng hợp tác * Kỹ năng Hiện nay, có nhiều khái niệm về Kĩ năng thông qua khảo cứu chúng tôi thấy nổi lên ba hướng chính như sau: Thứ nhất: Kĩ năng là sự thể hiện của thao tác hành động hay hoạt động. Theo hướng này V.Krutretxki (1981) định nghĩa: Kĩ năng là phương thức thực hiện hoạt động - cái mà con người lĩnh hội được; A.Petrovxki cho rằng kĩ năng là sự vận dụng những tri thức, kỹ xảo đã có để lựa chọn thực hiện những phương thức hành động tương ứng với mục đích đề ra [23].
Thứ hai: Xem xét kĩ năng như một mặt của năng lực con người, kĩ năng là một trong những thành tố quan trọng để thực hiện một công việc đạt kết quả trong điều kiện thời gian cho phép và đảm bảo chất lượng cần thiết trong điều kiện có thể. Kĩ năng không những là mặt kỹ thuật mà còn là biểu hiện của năng lực của hành động. Levitop cho rằng Kĩ năng biểu hiện qua sự thực hiện một động tác nào đó hay một hoạt động phức tạp bằng cách vận dụng hay lựa chọn những phương pháp đúng đắn trong những điều kiện nhất định, người có Kĩ năng phải nắm được và vận dụng đúng đắn các phương thức của hành động và thực hiện nó một cách có kết quả.Petrovxki đưa ra khái niệm “Kĩ năng là sự vận dụng tri thức, kỹ xảo đã có để lựa chọn và thực hiện những phương thức hành động tương ứng với mục đích đề ra”. Dựa trên quan điểm này và các nghiên cứu về khoa học giáo dục, tâm lí học, tác giả Đặng Thành Hưng đưa ra quan điểm mới về vấn 9 đề Kĩ năng.
Kĩ năng của con người là những hành động thực tế chứ không phải là khả năng tiềm ẩn, càng không phải là những hành vi tự động hóa. “Kĩ năng là một dạng hành động được thực hiện tự giác dựa trên những tri thức về công việc, khả năng vận động và những điều kiện sinh học-tâm lí khác của cá nhân (chủ thể có Kĩ năng đó) như nhu cầu, tình cảm, ý chí, tính tích cực cá nhân. để đạt được kết quả theo mục đích, tiêu chí đã định hoặc mức độ thành công theo chuẩn hay quy định”. Thứ ba: Kĩ năng bản chất là hành vi ứng xử của con người.
Trong những năm gần đây, một phương pháp tiếp cận mới về Kĩ năng đang thu hút được mối quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu. Kĩ năng được xem là hành vi ứng xử của cá nhân.Sheator nhấn mạnh tầm ảnh hưởng của thái độ, niềm tin của cá nhân trong Kĩ năng.Richard xem Kĩ năng là hành vi được thể hiện ra bên ngoài và chịu sự ảnh hưởng của cảm nhận và suy nghĩ cá nhân. Kĩ năng không những chỉ là một mặt của kĩ thuật hành động mà còn là kết quả của hành động, thái độ, giá trị của con người. Do đó, cùng với việc xem Kĩ năng là hành vi, các nghiên cứu này chưa quan tâm đến khía cạnh kĩ thuật của nó.
Dựa trên các phân tích ở trên, chúng tôi cho rằng để hình thành và phát triển Kĩ năng trong một lĩnh vực hoạt động nào đó cần hội tụ đầy đủ các yếu tố sau đây: + Chủ thể phải có đầy đủ tri thức, kinh nghiệm và cách thức thực hiện các hành động một cách hiệu quả: Mục đích, điều kiện, trình tự thực hiện các thao tác hành động… + Chủ thể phải thực hiện được những hành động có ý thức dựa trên sự vận dụng những tri thức và kinh nghiệm đã có về lĩnh vực hoạt động đó vào trong từng trường hợp cụ thể, có sự kết hợp các yếu tố tâm lý khác như thái độ, tình cảm, động cơ cá nhân, ý chí. + Sau khi thực hiện phải đạt được kết quả mong muốn theo mục tiêu đặt ra. + Đạt được kết quả tương tự khi điều kiện hoặc môi trường đã thay đổi. 10 Như vậy, theo quan niệm của luận văn này: Kĩ năng là một dạng hành động dựa trên sự vận dụng sáng tạo của tri thức, kinh nghiệm để thực hiện một tập hợp các động tác chuẩn, thao tác chuẩn và cấu trúc chuẩn tạo kết quả theo mục đích hay tiêu chí đã đặt ra.
*Kỹ năng Hợp tác Hợp tác: Khái niệm này đã có nhiều nghiên cứu với những cách hiểu khác nhau, trong đó có ít nhất hai hướng quan niệm này: Hướng nghiêng về nghĩa ngôn ngữ và tâm lý học, hướng còn lại theo nghĩa rộng hơn và nghiêng về truyền thông, giao dịch và quan hệ xã hội. Theo hướng thứ nhất, có những định nghĩa như sau: - “Hợp tác là sự tiếp xúc tâm lí, tạo nên giữa hai hay nhiều người với nhau, chứa đựng nội dung xã hội - lịch sử nhất định, có chức năng tác động, hỗ trợ lẫn nhau: thông báo, điều khiển, nhận thức, hành động và tình cảm.nhằm thực hiện mục đích nhất định của một hoạt động nhất định” [2]. - “Hợp tác là sự tiếp xúc tâm lí giữa người và người, thông qua đó con người trao đổi với nhau về: thông tin, cảm xúc, tri giác lẫn nhau, ảnh hưởng tác động qua lại với nhau” [12], tr 48]. Theo hướng thứ hai có một số định nghĩa như sau: - “Hợp tác là sự tiếp xúc giữa con người với con người nhằm mục đích trao đổi tư tưởng, tình cảm, vốn sống kinh nghiệm, kĩ năng, kĩ xảo nghề nghiệp” (Ngô Công Hoàn ([16] tr11).
- “Hợp tác là bất kì sự tương tác nào giữa người này với người khác, bao gồm việc chia sẻ thông tin, ý tưởng và tình cảm với nhau. Đó là quá trình hai kênh: tiếp nhận những phản ứng của người khác đáp lại tác động của mình, và điều chỉnh suy nghĩ, cảm nhận của mình” [15]. Những định nghĩa trên gần như phản ánh đầy đủ những đặc điểm và thành phần của Hợp tác từ nhiều góc độ khác nhau, mặc dù những yếu tố này còn tản mạn, chưa có hệ thống và chưa khái quát. Sự tương tác, chia sẻ, cộng tác cũng là hình thức tiến hành Hợp tác.
Các ngôn ngữ chung ở đây được hiểu 11 theo nghĩa rộng, từ ngôn ngữ chính thức như lời nói, chữ viết, kí tự, kí hiệu… cho đến cử chỉ, vận động cơ thể, điệu bộ và bất cứ phương tiện gì thỏa mãn nhu cầu Hợp tác. Luận văn này sử dụng khái niệm Hợp tác theo quan điểm của Đặng Thành Hưng như sau: Hợp tác là quá trình tương tác dựa vào trao đổi thông tin và hành vi giữa các cá nhân và nhóm bằng các phương tiện khác nhau mà các bên đều chấp nhận, đồng thời cũng là quá trình giao lưu về mặt tâm lí nhằm hiểu biết lẫn nhau và đạt mục đích Hợp tác. Hoạt động giáo dục Hoạt động giáo dục bao gồm hoạt động giáo dục trong giờ lên lớp và hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp nhằm rèn luyện đạo đức, phát triển năng lực, bồi dưỡng năng khiếu, giúp đỡ học sinh rèn kĩ năng hợp tác. Hoạt động giáo dục trong giờ lên lớp được tiến hành thông qua việc dạy học các môn học bắt buộc và tự chọn trong Chương trình giáo dục phổ thông cấp Tiểu học do Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành.
Hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp bao gồm hoạt động ngoại khóa, hoạt động vui chơi, thể dục thể thao, tham quan du lịch, giao lưu văn hóa; hoạt động bảo vệ môi trường; lao động công ích và các hoạt động xã hội khác. Trên cơ sở phối hợp giữa phương pháp giáo dục và phương pháp dạy học, đồng thời cần có sự phù hợp giữa nội dung và hình thức nên có nhiều phương pháp tổ chức hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp như: Phương pháp gợi mở, thảo luận: Phương pháp này nhằm tìm hiểu và đáp ứng nhu cầu của học sinh, các em tự đề xuất các phương pháp sau đó thảo luận để tạo ra môi trường thuận lợi để chính bản thân có thể kiểm chứng được ý kiến của mình, có cơ hội làm quen với nhau, hiểu nhau và dễ hoà mình với tập thể. Phương pháp giải quyết vấn đề: Thường vận dụng khi học sinh phải phân tích, xem xét và đề xuất những giải pháp trước một hiện tượng, sự việc nảy sinh trong quá trình hoạt động. Giải quyết vấn đề giúp học sinh có cách nhìn toàn diện hơn trước các hiện tượng, sự việc nảy sinh trong hoạt động, 12 trong cuộc sống hàng ngày.
Để phương pháp này thành công thì vấn đề đưa ra phải sát với mục tiêu của hoạt động, kích thích học sinh tích cực tìm tòi cách giải quyết. Đối với tập thể lớp, khi giải quyết vấn đề phải coi trọng nguyên tắc tôn trọng và bình đẳng, tránh gây ra căng thẳng không có lợi cho việc giáo dục học sinh. Phương pháp đóng vai: Đóng vai rất có tác dụng trong việc phát triển “kỹ năng giao tiếp” của học sinh. Đóng vai là phương pháp thực hành của học sinh trong một số tình huống ứng xử cụ thể nào đó trên cơ sở óc tưởng tượng và ý nghĩa sáng tạo của các em.
Nó mang đến cho học sinh cơ hội thực tập kỹ năng trong một môi trường được đảm bảo. Đóng vai thường không có kịch bản cho trước, mà học sinh tự xây dựng trong quá trình hoạt động. Phương pháp giao nhiệm vụ: Đây là phương pháp thường được dùng trong nhóm các phương pháp giáo dục. Giao nhiệm vụ là đặt học sinh vào vị trí nhất định buộc các em phải thực hiện trách nhiệm cá nhân.
Giao nhiệm vụ là tạo cơ hội để học sinh thể hiện khả năng của mình, là dịp để các em được rèn luyện nhằm tích luỹ kinh nghiệm cho bản thân. Trong việc tổ chức hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp, giao nhiệm vụ cho đội ngũ cán sự lớp sẽ tạo nên thế chủ động cho các em khi điều hành hoạt động. Cán sự lớp sẽ chủ động hơn trong việc phân công nhiệm vụ cho từng tổ, nhóm, cá nhân với phương châm “lôi cuốn tất cả mọi thành viên của lớp” vào việc tổ chức thực hiện hoạt động. Vì thế, muốn giao nhiệm vụ có kết quả, giáo viên cần hình dung được những việc phải làm, gợi ý cho học sinh và yêu cầu các em phải hoàn thành tốt.
Khi giao nhiệm vụ, cố gắng đảm bảo phù hợp với đặc điểm lứa tuổi, với khả năng của các em. Không yêu cầu quá mức gây lo lắng, hoang mang trong học sinh.