Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ chuyên ngành Giáo dục học (mã số: 9140101) với đề tài "Vận dụng phương pháp giáo dục tích cực trong tổ chức hoạt động nhận thức cho trẻ mẫu giáo ở trường mầm non ngoài công lập tại Thành phố Hồ Chí Minh" do nghiên cứu sinh Lê Thị Hường thực hiện tại Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Thành phố Hồ Chí Minh, dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Ngô Anh Tuấn và PGS. Bùi Văn Hồng, hoàn thành vào tháng 05 năm 2024.

Tính cấp thiết của đề tài xuất phát từ chủ trương đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo theo tinh thần Nghị quyết Ban Chấp hành Trung ương năm 2013 và các quy định của Luật Giáo dục năm 2019 do Quốc hội ban hành. Theo đó, giáo dục mầm non đòi hỏi phải chuyển dịch phương pháp tổ chức hoạt động giáo dục từ cách tiếp cận truyền thống sang phương pháp giáo dục tích cực. Phương pháp truyền thống vốn mang tính truyền thụ một chiều, tập trung cung cấp kiến thức, đặt trẻ vào trạng thái thụ động và giáo viên giữ vai trò chủ đạo. Ngược lại, phương pháp giáo dục tích cực vận hành theo cơ chế tương tác hai chiều, vừa cung cấp kiến thức vừa rèn luyện kỹ năng giải quyết vấn đề, lấy trẻ làm trung tâm, giáo viên giữ vai trò tổ chức, hướng dẫn và hỗ trợ (Trần Thị Hoa & Nguyễn Minh Phương, 2016; Pekdogan, 2016).

Khoảng trống nghiên cứu được tác giả xác định từ thực tế: tại Việt Nam, các cơ sở mầm non công lập cơ bản vẫn vận hành hoạt động nhận thức theo phương pháp truyền thống trong khuôn khổ chương trình quy định. Trong khi đó, khối trường mầm non ngoài công lập đã tiếp cận và triển khai nhiều phương pháp giáo dục như Montessori, Glenn Doman, Shichida nhưng việc áp dụng còn mang tính tự phát, phân tán, thiếu sự đồng bộ và chưa có tiêu chí đánh giá chuẩn hóa trên trẻ (Nguyễn Thị Xuân Anh, 2020). Ở bậc đào tạo tiến sĩ, số lượng công trình nghiên cứu hệ thống về việc vận dụng phương pháp giáo dục tích cực vào tổ chức hoạt động nhận thức cho trẻ mẫu giáo tại các trường ngoài công lập còn rất hạn chế.

Mục tiêu nghiên cứu của luận án là nghiên cứu vận dụng phương pháp giáo dục tích cực trong tổ chức hoạt động nhận thức cho trẻ mẫu giáo ở trường mầm non ngoài công lập tại Thành phố Hồ Chí Minh, nhằm góp phần nâng cao chất lượng giáo dục mầm non.

Giả thuyết khoa học của đề tài được xác định: Các trường mầm non ngoài công lập tại Thành phố Hồ Chí Minh đã và đang vận dụng các phương pháp giáo dục tích cực trong tổ chức hoạt động nhận thức cho trẻ mẫu giáo; tuy nhiên các trường tự thiết kế chương trình dựa trên việc tham khảo nhiều tài liệu khác nhau, dẫn đến tình trạng áp dụng không đồng nhất và kết quả trên trẻ có sự chênh lệch. Nếu xác định rõ thực trạng vận dụng phương pháp giáo dục tích cực trong tổ chức hoạt động nhận thức cho trẻ mẫu giáo ở trường mầm non ngoài công lập, đề tài sẽ đề xuất được quy trình và cách thức thực hiện tường minh, có cơ sở lý luận, phù hợp với đặc điểm và điều kiện giáo dục mầm non nhằm phát triển nhận thức cho trẻ.

Nhiệm vụ nghiên cứu được văn bản đánh số cụ thể gồm bốn nhiệm vụ:

  • 5.1 Tổng quan những công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài;
  • 5.2 Xây dựng cơ sở lý luận về vận dụng phương pháp giáo dục tích cực trong tổ chức hoạt động nhận thức cho trẻ mẫu giáo ở trường mầm non ngoài công lập;
  • 5.3 Đánh giá thực trạng vận dụng phương pháp giáo dục tích cực trong tổ chức hoạt động nhận thức cho trẻ mẫu giáo ở trường mầm non ngoài công lập tại Thành phố Hồ Chí Minh;
  • 5.4 Thiết kế, thực nghiệm kế hoạch vận dụng phương pháp giáo dục tích cực trong tổ chức hoạt động nhận thức cho trẻ mẫu giáo ở trường mầm non ngoài công lập tại Thành phố Hồ Chí Minh.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Khách thể nghiên cứu: Phương pháp giáo dục tích cực trong tổ chức hoạt động nhận thức cho trẻ mẫu giáo.
  • Đối tượng nghiên cứu: Vận dụng phương pháp giáo dục tích cực trong tổ chức hoạt động nhận thức cho trẻ mẫu giáo ở các trường mầm non ngoài công lập tại Thành phố Hồ Chí Minh.
  • Phạm vi nội dung: Làm rõ cơ sở lý luận, khảo sát thực trạng và đề xuất quy trình, thực nghiệm kế hoạch vận dụng phương pháp giáo dục tích cực trong tổ chức hoạt động nhận thức cho trẻ mẫu giáo thông qua sinh hoạt thường nhật tại trường mầm non ngoài công lập.
  • Khách thể khảo sát thực trạng: 24 trường mầm non ngoài công lập trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh, với tổng số 380 đối tượng khảo sát gồm 100 cán bộ quản lý và 280 giáo viên mầm non; địa bàn thực nghiệm sư phạm là Trường Mầm non Việt Nga.
  • Phạm vi không gian: Khảo sát tại 04 quận và 02 huyện thuộc Thành phố Hồ Chí Minh.
  • Phạm vi thời gian: Đề tài tiến hành từ năm học 2021 - 2022 đến năm học 2022 - 2023.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Tổng quan tài liệu trong luận án được phân định theo ba mạch nội dung chính:

Thứ nhất, các nghiên cứu về tiền đề vật chất và đặc điểm nhận thức của trẻ:

  • Cơ sở vật lý của nhận thức: Pavlov (đầu thế kỷ XX) với nghiên cứu phản xạ có điều kiện; Luria (1973) phân tích cấu tạo chức năng của các tổ chức não bộ đối với tri giác, chú ý, trí nhớ và tư duy; Sperry (1975; công bố giải Nobel năm 1981 cùng Roger, David & Torsten) với kỹ thuật "split brain" chứng minh tính độc lập chức năng của hai bán cầu đại não; Daniel (2005) chỉ ra não phải xử lý thông tin hình ảnh, cảm xúc và tính sáng tạo, còn não trái xử lý ngôn ngữ, phân tích và logic; Buzan (2014) và Winston (2016) cung cấp dữ liệu cấu trúc với hơn 100 tỷ nơ-ron và 1 tỷ khớp thần kinh, nhấn mạnh mức độ rèn luyện kích thích tạo nên các liên kết thần kinh.
  • Chức năng não bộ giai đoạn sớm (0-6 tuổi): Glenn Doman (2005) xác định não trẻ 3 tuổi đạt 90% trọng lượng não người lớn, giai đoạn 3-6 tuổi là quá trình chuyển giao vai trò chủ đạo từ não phải sang não trái; Shichida (2014) nhấn mạnh khả năng tiếp nhận vô thức của não phải; Siegel & Bryson (2012, 2016), Cranford (2014), Nguyễn Võ Kỳ Anh (2018), Pietrangelo (2017), Heguru (2017), Burgess (2018), Sinrich (2019) đều khẳng định tầm quan trọng của việc kích hoạt cân bằng hai bán cầu não trong giai đoạn sớm.
  • Hoạt động nhận thức của trẻ mẫu giáo: Carollee & Ellen (1995) chứng minh ảnh hưởng của chất lượng chăm sóc và tương tác xã hội; Bradford (2010) mô tả 4 khía cạnh nhận thức; Nikolay (2010) chia 3 loại năng lực nhận thức theo công cụ ký hiệu và biểu tượng; Babakr và cộng sự (2019) thảo luận về hạn chế trong lý thuyết của Jean Piaget; John (1982) đề cập tính đồng nhất trong nhận thức tự phát hàng ngày; Jean Piaget (Ginsburg & Opper, 1988) với 4 giai đoạn phát triển tư duy; Howard Gardner (Howard và cộng sự, 1989) với thuyết đa trí tuệ.

Thứ hai, các nghiên cứu về tổ chức hoạt động nhận thức và phương pháp giáo dục tích cực:

  • Về tổ chức hoạt động nhận thức: Lương Thị Lệ Hằng (2013), Trần Thị Ngọc Trâm và cộng sự (2021a, 2021b, 2021c), Crowly và cộng sự (2001), Viện Hợp tác Công và Phát triển Trẻ em Quốc gia Ấn Độ (2011), Alimardonova (2019), Lixin (2023), Dadan (2022), Tao (2022), Trần Thị Phương (2015, khảo sát năng lực khái quát hóa của 90 trẻ 5-6 tuổi tại TPHCM), Đồng Thị Thu Trang (2017), Bộ Giáo dục và Đào tạo (2009), Phạm Thị Châu và cộng sự (2006), Đào Thanh Âm và cộng sự (2008), Lê Thu Hương (2010), Hannelore và cộng sự (2011).
  • Về phương pháp giáo dục tích cực: Kristján (2012), Slemp và cộng sự (2017), Huppert & Johnson (2010), Seligman & Alder (2018), Ganieva (2022), John Dewey (2008), Lev Vygotsky (1998a, 1998b), Erik Erikson (1994). Các mô hình giáo dục cụ thể gồm HighScope (Mar & David, 1995; Epstein & Hohmann, 2019), Reggio Emilia (Hewitt & Valarie, 2001), Waldorf/Steiner (Edmunds & Francis, 2004), Kail Wite với nguyên lý giảm dần (Giang Quân, 2006), Carl Wester (thế kỷ 18), Glenn Doman (1964, 2005, 2006, 2021), Maria Montessori (1912, 1936, 1948, 1949, 1997, 2014, 2015, 2016), Makoto Shichida (2014, 2015, 2016, 2017), Phùng Đức Toàn (2012 với "Phương án 0 tuổi"), Wolfe & Brandt (1998), Larry & Valeri (2010), Sandra (2012), Haifa Aljabreen (2020), Candra Dewi (2017), Nguyễn Minh (2014).

Thứ ba, các công trình nghiên cứu về thực tế vận dụng phương pháp giáo dục tích cực:

  • Nghiên cứu quốc tế: Qais Faryadi (2017) thực nghiệm trên 108 trẻ mẫu giáo áp dụng Montessori, kết quả nhóm thực nghiệm đạt 72,2% so với 39% ở nhóm đối chứng; Froh và cộng sự (2011), Durlak và cộng sự (2011), Maynard và cộng sự (2017), White và cộng sự (2015, 2016, 2018), Thomas và cộng sự (2016).
  • Nghiên cứu trong nước: Nghiêm Phương Mai (2012), Ngọc Thị Thu Hằng (2014), Lê Hoài Thu (2014) chỉ ra rào cản chi phí giáo cụ và năng lực giáo viên khi áp dụng Montessori. Kỷ yếu hội thảo IPD (2020) với các tác giả Nguyễn Thị Mỹ Trinh & Nguyễn Thị Nga (2020), Lê Thị Xôn (2020 - vận dụng Glenn Doman tại Thanh Hóa trong 7 năm), Ngô Thị Thu Huyền (2020), Nguyễn Thanh Huyền (2020), Trần Thị Kim Hoa (2020). Tài liệu Hội thảo Đại học Quốc gia Hà Nội (2023), Nguyễn Thị Nga & Trương Thị Hương (2020), chương trình đào tạo của Đại học Sư phạm Hà Nội (2017 - học phần GM 338, 2 tín chỉ). Đặc biệt, công trình của Nguyễn Thị Xuân Anh (2020) đã khảo sát thực trạng vận dụng Montessori tại Việt Nam, nêu rõ giáo viên chưa tạo được môi trường hỗ trợ tối ưu và còn can thiệp làm thay trẻ.

Khoảng trống nghiên cứu được luận án giải quyết: Hầu hết các tài liệu trước đây chỉ dừng lại ở việc giới thiệu lý thuyết, chia sẻ kinh nghiệm triển khai riêng lẻ từng phương pháp hoặc nghiên cứu can thiệp trong các tiết học riêng biệt. Chưa có công trình nào xây dựng hoàn chỉnh quy trình sư phạm nhằm tích hợp các phương pháp giáo dục tích cực vào toàn bộ các khâu tổ chức hoạt động nhận thức thông qua sinh hoạt thường nhật (đón trả trẻ, ăn, ngủ, vệ sinh, chuyển tiếp, lao động tự phục vụ) tại các trường mầm non ngoài công lập trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý thuyết của luận án được xây dựng dựa trên sự tích hợp giữa các học thuyết phát triển nhận thức, cơ chế sinh lý thần kinh và các mô hình giáo dục sớm:

  • Khái niệm công cụ: Trẻ mẫu giáo được định nghĩa theo Điều 15 Thông tư số 52/2020/TT-BGDĐT là trẻ từ 03 đến 06 tuổi trong trường mầm non. Hoạt động được phân tích theo triết học (Lenin), sinh học (Vũ Anh Nhị, 2013) và tâm lý học (Lê Văn Hồng & Lê Ngọc Lan, 2001; Nguyễn Xuân Thức và cộng sự, 2007). Nhận thức được diễn giải theo quan điểm duy vật biện chứng (Lenin, 1963; Bùi Thị Tuyết Khanh, 2004; Vũ Ngọc Khánh, 2003; Hoàng Phê, 2019). Hoạt động nhận thức của trẻ mẫu giáo được xác định là mối quan hệ tương tác hai chiều giữa trẻ và hiện thực xung quanh: chiều vào là quá trình thu nhận dữ liệu qua 5 giác quan vào não bộ; chiều ra là quá trình xử lý dữ liệu và phản ánh ra ngoài (Nguyễn Công Uẩn và cộng sự, 2005; Lê Văn Hân và cộng sự, 2012).
  • Khung phân tích phương pháp giáo dục tích cực: Tiếp cận lý thuyết đa trí tuệ của Howard Gardner, thuyết nhận thức của Jean Piaget, kết hợp với các nguyên lý giáo dục phát triển chức năng não bộ của Maria Montessori, Glenn Doman, Makoto Shichida và Phùng Đức Toàn. Luận án xác định việc tổ chức hoạt động nhận thức bao gồm các thành tố: mục tiêu, nội dung, phương pháp, hình thức, điều kiện cơ sở vật chất và kiểm tra đánh giá.

Phương pháp nghiên cứu được luận án triển khai kết hợp định tính và định lượng:

  • Phương pháp nghiên cứu lý luận: Thu thập, phân loại, tổng hợp và phân tích các văn bản quy phạm pháp luật, sách chuyên khảo, bài báo khoa học và luận án liên quan.
  • Phương pháp điều tra bằng phiếu hỏi: Sử dụng bảng hỏi khảo sát dành cho 100 cán bộ quản lý và 280 giáo viên mầm non tại 24 trường mầm non ngoài công lập thuộc Thành phố Hồ Chí Minh.
  • Phương pháp phỏng vấn: Phỏng vấn sâu cán bộ quản lý và giáo viên mầm non để thu thập thông tin bổ trợ về các rào cản và thực tế triển khai.
  • Phương pháp quan sát sư phạm: Sử dụng thiết bị ghi âm, ghi hình và nhật ký quan sát trực tiếp biểu hiện hành vi, ngôn ngữ và khả năng xử lý tình huống của trẻ trong các hoạt động chơi và sinh hoạt.
  • Phương pháp nghiên cứu sản phẩm hoạt động: Phân tích giáo án, kế hoạch chăm sóc giáo dục của giáo viên và các sản phẩm hoạt động tạo hình, thao tác tư duy của trẻ.
  • Phương pháp thực nghiệm sư phạm: Tổ chức thực nghiệm có đối chứng tại Trường Mầm non Việt Nga; chia thành nhóm thực nghiệm (TN) và nhóm đối chứng (ĐC) với kế hoạch phân bổ thời gian cụ thể qua các giai đoạn đo lường: đầu vào, đợt 1, đợt 2 và đầu ra.

Kỹ thuật và công cụ xử lý dữ liệu:

  • Dữ liệu định tính được phân tích nội dung từ biên bản phỏng vấn, băng ghi hình và phiếu quan sát.
  • Dữ liệu định lượng từ phiếu khảo sát và phiếu đánh giá trẻ được mã hóa, phân tích bằng phần mềm thống kê SPSS và Microsoft Excel. Các chỉ số thống kê bao gồm: tần số, tỷ lệ phần trăm (%), giá trị trung bình (TB), độ lệch chuẩn (ĐLC), kiểm định độ tin cậy thang đo và kiểm định T-test (T-test độc lập và T-test bắt cặp) để so sánh các giá trị trung bình giữa nhóm thực nghiệm và nhóm đối chứng ở mức ý nghĩa thống kê xác định.
Danh mục đối tượng khảo sát Số lượng đơn vị / người Địa bàn khảo sát Công cụ phân tích
Trường mầm non ngoài công lập 24 trường 04 quận và 02 huyện tại TPHCM Thống kê mô tả (SPSS, Excel)
Cán bộ quản lý (CBQL) 100 người 24 trường mầm non được chọn Tần số, Tỷ lệ %, Giá trị TB, ĐLC
Giáo viên mầm non (GVMN) 280 người 24 trường mầm non được chọn Tần số, Tỷ lệ %, Giá trị TB, ĐLC
Khách thể thực nghiệm sư phạm Nhóm TN và Nhóm ĐC Trường Mầm non Việt Nga (TPHCM) Thang đo 5 mức độ, Kiểm định T-test

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan nghiên cứu về vận dụng phương pháp giáo dục tích cực trong tổ chức hoạt động nhận thức cho trẻ mẫu giáo ở trường mầm non

Chương 1 hệ thống hóa các tài liệu nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến đề tài. Về tiền đề vật chất, tác giả phân tích cơ sở giải phẫu sinh lý thần kinh của nhận thức, chỉ rõ đại não nặng hơn 1400 gram, chứa hơn 100 tỷ nơ-ron và 1 tỷ khớp thần kinh (Winston, 2016). Giai đoạn 3-6 tuổi là thời kỳ cấu trúc não bộ đạt 90% người trưởng thành và diễn ra sự chuyển dịch ưu thế chức năng từ não phải sang não trái (Glenn Doman, 2005).

Về hoạt động nhận thức, chương này làm rõ hoạt động nhận thức của trẻ gồm hai chiều tương tác: tiếp nhận kích thích ngoại cảnh qua 5 giác quan và xử lý dữ liệu để phản ánh thế giới. Tác giả tổng hợp các mục tiêu phát triển nhận thức theo quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo (2009) và các chỉ dẫn quốc tế (National Institute of Public Cooperation & Child Development, 2011), bao gồm phát triển kỹ năng cảm nhận giác quan, kỹ năng tinh thần và hình thành biểu tượng, khái niệm sơ đẳng.

Về phương pháp giáo dục tích cực, chương 1 điểm lại các mô hình: HighScope nhấn mạnh học tập chủ động thông qua quy trình lập kế hoạch - thực hiện - đánh giá (Epstein & Hohmann, 2019); Reggio Emilia coi trọng môi trường và khơi dậy tiềm năng tò mò (Hewitt & Valarie, 2001); Waldorf chú trọng trí tưởng tượng và tư duy độc lập (Edmunds & Francis, 2004); Glenn Doman rèn luyện các loại hình trí tuệ qua thẻ thông tin; Montessori nhấn mạnh môi trường giáo cụ chuẩn bị sẵn để trẻ tự do hoạt động theo quy luật tự nhiên; Shichida tập trung kích hoạt chức năng não phải qua bài tập thị giác, thính giác; Phùng Đức Toàn với "Phương án 0 tuổi" chỉ ra nguyên tắc phát triển tiềm năng từ sơ sinh.

Chương 1 đúc kết rằng, dù các phương pháp giáo dục tích cực đã được áp dụng rộng rãi trên thế giới và tiếp cận tại Việt Nam, song việc nghiên cứu vận dụng các phương pháp này vào tổ chức hoạt động nhận thức cho trẻ mẫu giáo tại trường mầm non ngoài công lập thông qua sinh hoạt thường nhật vẫn còn thiếu vắng các nghiên cứu thực nghiệm có hệ thống.

Chương 2: Cơ sở lý luận về vận dụng phương pháp giáo dục tích cực trong tổ chức hoạt động nhận thức cho trẻ mẫu giáo ở trường mầm non ngoài công lập

Chương 2 thiết lập khung lý thuyết hoàn chỉnh cho đề tài. Tác giả làm rõ nội hàm của các khái niệm: tổ chức hoạt động nhận thức cho trẻ mẫu giáo, phương pháp giáo dục tích cực và vận dụng phương pháp giáo dục tích cực trong tổ chức hoạt động nhận thức cho trẻ mẫu giáo ở trường mầm non ngoài công lập.

Văn bản xác định tổ chức hoạt động nhận thức tại trường mầm non ngoài công lập bao gồm các dạng hoạt động: hoạt động học tập có chủ đích, hoạt động chơi ở các góc, hoạt động khám phá ngoài trời và hoạt động nhận thức lồng ghép trong sinh hoạt thường nhật. Các thành tố cấu trúc của quá trình này gồm: mục tiêu giáo dục nhận thức, nội dung nhận thức, phương pháp giáo dục tích cực, hình thức tổ chức, phương tiện/môi trường học tập và phương thức kiểm tra đánh giá nhận thức của trẻ.

Tác giả đưa ra các căn cứ và tiêu chí lựa chọn phương pháp giáo dục tích cực: phải kích hoạt tối đa các giác quan, tôn trọng sự phát triển cá nhân của trẻ, tạo cơ hội cho trẻ trải nghiệm trực tiếp và phù hợp với đặc điểm cơ sở vật chất của nhà trường. Luận án xây dựng quy trình vận dụng phương pháp giáo dục tích cực trong tổ chức hoạt động nhận thức cho trẻ mẫu giáo thông qua hoạt động sinh hoạt thường nhật (thể hiện ở Hình 2.1) theo 4 bước sư phạm:

  1. Xác định mục tiêu nhận thức gắn liền với từng thời điểm sinh hoạt thường nhật (đón trẻ, ăn trưa, chuẩn bị ngủ, vệ sinh cá nhân, hoạt động lao động tự phục vụ, trả trẻ);
  2. Lựa chọn nội dung và phương pháp giáo dục tích cực tương ứng (kết hợp yếu tố kích thích đa giác quan của Shichida, Glenn Doman và nguyên tắc tự lập của Montessori);
  3. Tổ chức thực hiện hoạt động, giáo viên giữ vai trò hỗ trợ, đặt câu hỏi gợi mở, hướng dẫn trẻ tự thao tác và quan sát;
  4. Đánh giá biểu hiện nhận thức của trẻ và điều chỉnh kế hoạch giáo dục.

Chương này cũng phân tích hai nhóm yếu tố ảnh hưởng đến quá trình vận dụng (thể hiện ở Hình 2.2): nhóm yếu tố chủ quan (nhận thức, trình độ chuyên môn, kỹ năng sư phạm của giáo viên, nhu cầu và đặc điểm tâm sinh lý của trẻ) và nhóm yếu tố khách quan (cơ sở vật chất, trang thiết bị học cụ, sự chỉ đạo của ban giám hiệu nhà trường, cơ chế tài chính và sự phối hợp từ phía cha mẹ học sinh).

Chương 3: Thực trạng vận dụng phương pháp giáo dục tích cực trong tổ chức hoạt động nhận thức cho trẻ mẫu giáo ở trường mầm non ngoài công lập tại Thành phố Hồ Chí Minh

Chương 3 công bố kết quả khảo sát thực trạng thu thập từ 24 trường mầm non ngoài công lập tại 04 quận và 02 huyện thuộc Thành phố Hồ Chí Minh, với mẫu gồm 100 cán bộ quản lý và 280 giáo viên mầm non (tổng cộng 380 khách thể khảo sát, được mô tả chi tiết từ Bảng 3.1 đến Bảng 3.5).

Kết quả phân tích định lượng (tổng hợp qua các Bảng 3.6 đến Bảng 3.19 và các Hình 3.1, 3.2) ghi nhận các dữ kiện thực tế:

  • Về mức độ tiếp cận và sử dụng phương pháp: 100% cán bộ quản lý và giáo viên có biết đến các phương pháp giáo dục tích cực (Montessori, Glenn Doman, Shichida), tuy nhiên tỷ lệ vận dụng thuần thục và đồng bộ còn thấp (Bảng 3.14 và 3.15). Đa số các trường vận dụng theo hình thức lồng ghép, chắp vá các bài tập riêng lẻ.
  • Về nội dung và hình thức tổ chức: Giáo viên thường xuyên tổ chức hoạt động nhận thức trong giờ học có chủ đích và hoạt động góc, nhưng việc tổ chức hoạt động nhận thức thông qua các giờ sinh hoạt thường nhật (giờ ăn, giờ đón trả trẻ, vệ sinh) và công việc lao động tự phục vụ còn ở mức độ thấp, chưa được chú trọng đúng mức (Bảng 3.7, 3.9, 3.16, 3.17, 3.18).
  • Về mức độ khó khăn khi vận dụng: Giáo viên gặp khó khăn lớn nhất ở khâu thiết kế môi trường học cụ chuyên biệt, phương pháp đánh giá sự tiến bộ của trẻ và việc duy trì tính kiên nhẫn khi để trẻ tự giải quyết vấn đề (Bảng 3.10, 3.12 và Hình 3.1). Biểu đồ Hình 3.2 cho thấy tỷ lệ giáo viên tổ chức cho trẻ thảo luận, tự đánh giá cuối ngày còn rất hạn chế.
  • Về các yếu tố ảnh hưởng: Kết quả khảo sát tại Bảng 3.19 chỉ ra rằng năng lực sư phạm của giáo viên về các phương pháp mới, chi phí đầu tư cơ sở vật chất - đồ dùng đồ chơi và nhận thức của phụ huynh là những yếu tố có mức độ ảnh hưởng cao nhất.

Đánh giá chung về thực trạng, tác giả chỉ ra điểm mạnh là đội ngũ quản lý và giáo viên ngoài công lập có tính năng động, cởi mở với cái mới, cơ sở vật chất ở một số trường được đầu tư hiện đại. Tuy nhiên, hạn chế căn bản là việc vận dụng mang tính hình thức, thiếu quy trình chuẩn, giáo viên chưa hiểu sâu bản chất lý thuyết nên thường làm thay trẻ, dẫn đến hiệu quả tác động lên nhận thức của trẻ chưa đạt mức tối ưu. Nguyên nhân chủ yếu do thiếu chương trình khung hướng dẫn cụ thể và công tác bồi dưỡng chuyên môn chưa theo kịp thực tế.

Chương 4: Thiết kế và thực nghiệm kế hoạch vận dụng phương pháp giáo dục tích cực trong tổ chức hoạt động nhận thức cho trẻ mẫu giáo ở trường mầm non ngoài công lập tại Thành phố Hồ Chí Minh

Chương 4 tập trung vào việc thiết kế kế hoạch sư phạm và tiến hành thực nghiệm để kiểm chứng giả thuyết khoa học.

Phần thiết kế kế hoạch:

  • Tác giả xây dựng cấu trúc kế hoạch hoàn chỉnh gồm: mục tiêu nhận thức, nội dung tích hợp, phương pháp giáo dục tích cực sử dụng, hình thức tổ chức, tiêu chí đánh giá nhận thức của trẻ và cách thức triển khai sư phạm.
  • Thiết kế hệ thống minh họa kế hoạch theo chu kỳ thời gian: kế hoạch năm (Bảng 4.3 mẫu vận dụng qua sinh hoạt thường nhật, Bảng 4.4 gợi ý hoạt động cho từng tháng), kế hoạch tháng (Bảng 4.5 cho trẻ mẫu giáo 5 tuổi, Bảng 4.7) và kế hoạch tuần (Bảng 4.8 kèm bảng phân chia công việc ở Bảng 4.6).
  • Xây dựng công cụ đánh giá: Thang đo đánh giá nhận thức của trẻ mẫu giáo (Bảng 4.1) và quy chuẩn 5 mức độ biểu hiện nhận thức của trẻ (Bảng 4.2), cùng bảng quy đổi đánh giá chung mức độ nhận thức (Bảng 4.9 và 4.12).
  • Bản thiết kế được hoàn thiện sau khi lấy ý kiến đóng góp của các chuyên gia giáo dục mầm non, đạt độ đồng thuận cao về tính khoa học và tính khả thi.

Phần thực nghiệm sư phạm:

  • Địa bàn và mẫu thực nghiệm: Thực hiện tại Trường Mầm non Việt Nga (Thành phố Hồ Chí Minh), chia thành 2 nhóm: Nhóm Thực nghiệm (TN) và Nhóm Đối chứng (ĐC) (Bảng 4.10 và Bảng 4.11). Nhóm TN được tổ chức hoạt động nhận thức theo kế hoạch vận dụng phương pháp giáo dục tích cực qua sinh hoạt thường nhật do luận án thiết kế; nhóm ĐC duy trì cách tổ chức chăm sóc giáo dục thông thường.
  • Tiến trình thực nghiệm gồm 4 đợt kiểm tra đánh giá: Khảo sát đầu vào, Đợt 1, Đợt 2 và Khảo sát đầu ra (Bảng 4.10, 4.13 đến 4.23; minh họa qua các biểu đồ từ Hình 4.1 đến Hình 4.8).
  • Kết quả kiểm định thống kê:
    • Đo đầu vào: Kết quả kiểm định T-test giữa nhóm TN và nhóm ĐC cho thấy sự khác biệt về mức độ nhận thức ban đầu là không có ý nghĩa thống kê (Bảng 4.13, Bảng 4.14, Hình 4.1), đảm bảo tính tương đương giữa hai nhóm trước can thiệp.
    • Đợt 1 và Đợt 2: Mức độ nhận thức của trẻ nhóm TN có sự tăng trưởng rõ rệt qua từng đợt kiểm định (Bảng 4.15 đến Bảng 4.19, Hình 4.2 đến Hình 4.6).
    • Đo đầu ra: So sánh kết quả đầu vào và đầu ra của cả 2 nhóm (Bảng 4.20). Kiểm định T-test cặp đầu vào - đầu ra của nhóm ĐC có tăng nhưng mức độ hạn chế (Bảng 4.21). Kiểm định T-test cặp đầu vào - đầu ra của nhóm TN cho thấy sự tiến bộ vượt bậc với ý nghĩa thống kê rõ rệt (Bảng 4.22, Hình 4.7).
    • Kiểm định so sánh đầu ra giữa 2 nhóm (Bảng 4.23, Hình 4.8): Kết quả kiểm định T-test độc lập xác nhận điểm trung bình mức độ nhận thức của nhóm TN cao hơn hẳn nhóm ĐC một cách có ý nghĩa thống kê, khẳng định hiệu quả của kế hoạch sư phạm đề xuất.

Kết quả và những đóng góp mới

Các đóng góp mới về mặt lý luận và thực tiễn được luận án xác định cụ thể:

Về mặt lý luận:

  • Luận án đã hệ thống hóa và làm sáng tỏ cơ sở lý luận về việc vận dụng phương pháp giáo dục tích cực trong tổ chức hoạt động nhận thức cho trẻ mẫu giáo tại trường mầm non ngoài công lập.
  • Xây dựng khái niệm hoạt động nhận thức của trẻ mẫu giáo dưới góc độ tương tác hai chiều (thu nhận dữ liệu qua 5 giác quan và xử lý dữ liệu phản ánh ra ngoài); chỉ rõ bản chất các phương pháp giáo dục tích cực của các nhà giáo dục sớm trên thế giới (Montessori, Glenn Doman, Shichida, Phùng Đức Toàn).
  • Xác lập quy trình 4 bước sư phạm tường minh cùng hệ thống tiêu chí, thang đo 5 mức độ đánh giá nhận thức của trẻ mẫu giáo khi tham gia vào các hoạt động giáo dục tích cực.

Về mặt thực tiễn:

  • Cung cấp bộ dữ liệu thực trạng toàn diện, phản ánh đúng mức độ tiếp cận, các rào cản, khó khăn và các yếu tố ảnh hưởng đến việc vận dụng phương pháp giáo dục tích cực tại 24 trường mầm non ngoài công lập trên địa bàn 04 quận và 02 huyện thuộc Thành phố Hồ Chí Minh.
  • Thiết kế hệ thống kế hoạch vận dụng phương pháp giáo dục tích cực theo năm, tháng, tuần, tập trung khai thác con đường sinh hoạt thường nhật (đón trả trẻ, giờ ăn, giờ ngủ, vệ sinh, chuyển tiếp và lao động tự phục vụ) - một mảng hoạt động vốn bị xem nhẹ về mặt phát triển nhận thức.
  • Kết quả thực nghiệm sư phạm tại Trường Mầm non Việt Nga cung cấp bằng chứng định lượng khẳng định tính khả thi và hiệu quả của các biện pháp đề xuất.

Kiến nghị và giải pháp đề xuất từ luận án:

  • Đối với cơ quan quản lý giáo dục (Sở và Phòng Giáo dục và Đào tạo): Cần ban hành khung hướng dẫn mở, cho phép các trường ngoài công lập thí điểm tích hợp phương pháp giáo dục tích cực; tổ chức các lớp tập huấn, bồi dưỡng chuyên môn chuẩn hóa về phương pháp giáo dục sớm cho giáo viên mầm non.
  • Đối với cán bộ quản lý trường mầm non ngoài công lập: Cần chủ động lập kế hoạch đầu tư cơ sở vật chất, giáo cụ trực quan phù hợp; tạo điều kiện cho giáo viên đổi mới sáng tạo; xây dựng cơ chế giám sát hỗ trợ chuyên môn định kỳ.
  • Đối với giáo viên mầm non: Cần chuyển đổi vai trò từ người truyền thụ sang người hướng dẫn, kiên nhẫn quan sát, tôn trọng tính độc lập của trẻ; tận dụng triệt để các thời điểm sinh hoạt thường nhật để khơi gợi tính tò mò, khám phá của trẻ.
  • Đối với phụ huynh học sinh: Cần tăng cường phối hợp chặt chẽ với nhà trường, đồng thuận về phương pháp giáo dục tích cực để củng cố các kỹ năng nhận thức cho trẻ tại môi trường gia đình.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế của luận án:

  • Về phạm vi không gian: Khảo sát thực trạng chỉ giới hạn tại 24 trường mầm non ngoài công lập trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh (thuộc 04 quận và 02 huyện), chưa mở rộng khảo sát so sánh với các tỉnh, thành phố khác có đặc thù kinh tế - xã hội khác biệt.
  • Về địa bàn thực nghiệm: Khâu thực nghiệm sư phạm mới chỉ tiến hành trên quy mô một cơ sở giáo dục là Trường Mầm non Việt Nga, chưa thực hiện can thiệp đa cơ sở với các loại hình trường ngoài công lập có mức thu học phí và điều kiện cơ sở vật chất khác nhau.
  • Về đối tượng lứa tuổi: Nội dung kế hoạch thực nghiệm chuyên sâu chủ yếu tập trung minh họa và đo lường trên nhóm trẻ mẫu giáo 5 tuổi, chưa bao phủ toàn bộ các độ tuổi mẫu giáo bé (3 tuổi) và mẫu giáo nhỡ (4 tuổi).

Hướng nghiên cứu tiếp theo:

  • Mở rộng quy mô khảo sát và đối sánh thực trạng giữa hệ thống trường mầm non công lập và ngoài công lập trên phạm vi nhiều tỉnh, thành phố.
  • Triển khai thực nghiệm diện rộng trên nhiều nhóm cơ sở mầm non ngoài công lập có quy mô khác nhau nhằm hoàn thiện quy trình chuẩn hóa.
  • Mở rộng nghiên cứu thiết kế kế hoạch vận dụng phương pháp giáo dục tích cực cho lứa tuổi nhà trẻ (dưới 3 tuổi) để tạo tính liên thông xuyên suốt trong toàn bộ giai đoạn giáo dục sớm từ 0 đến 6 tuổi.

Giá trị tham khảo

Luận án mang lại giá trị tham khảo học thuật và ứng dụng thực hành cho các nhóm đối tượng cụ thể:

  • Đối với nghiên cứu sinh, học viên cao học và giảng viên chuyên ngành Giáo dục học, Giáo dục mầm non: Luận án cung cấp hệ thống tổng quan tài liệu về giáo dục tích cực, giáo dục sớm và cơ sở giải phẫu sinh lý thần kinh của nhận thức; là tài liệu tham khảo về phương pháp luận kết hợp định tính - định lượng trong nghiên cứu giáo dục mầm non.
  • Đối với cán bộ quản lý các cơ sở giáo dục mầm non ngoài công lập: Luận án gợi ý mô hình quản lý, định hướng đầu tư trang thiết bị dạy học và quy trình bồi dưỡng chuyên môn cho đội ngũ giáo viên nhằm triển khai phương pháp giáo dục tích cực một cách bài bản, tránh việc áp dụng chắp vá hình thức.
  • Đối với giáo viên mầm non: Các bản kế hoạch minh họa theo năm, tháng, tuần (từ Bảng 4.3 đến Bảng 4.8) cùng thang đo đánh giá nhận thức 5 mức độ (Bảng 4.1 và 4.2) là công cụ thực hành sư phạm có thể áp dụng trực tiếp vào việc tổ chức các hoạt động sinh hoạt thường nhật cho trẻ.
  • Đối với các nhà hoạch định chính sách giáo dục mầm non: Cung cấp bức tranh thực tiễn về nhu cầu và rào cản đổi mới phương pháp tại khu vực giáo dục ngoài công lập, làm cơ sở xây dựng các văn bản hướng dẫn chuyên môn phù hợp với xu thế xã hội hóa giáo dục.

Câu hỏi thường gặp

  1. Mục tiêu nhận thức của trẻ mẫu giáo trong luận án được xác định gồm những nội dung cốt lõi nào?
    Theo Chương 1 và Chương 2 của luận án, mục tiêu nhận thức của trẻ mẫu giáo được xác định dựa trên quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo (2009) kết hợp chuẩn quốc tế (National Institute of Public Cooperation & Child Development, 2011), bao gồm 3 nội dung cốt lõi: phát triển các kỹ năng cảm nhận cơ bản của 5 giác quan; phát triển các kỹ năng tinh thần (quan sát, phân loại, giải quyết vấn đề, định hướng); hình thành các biểu tượng và khái niệm sơ đẳng (về màu sắc, hình dạng, kích thước, số lượng, thời gian, không gian và các sự vật hiện tượng xung quanh).

  2. Khách thể khảo sát thực trạng của luận án có quy mô như thế nào và thực hiện tại địa bàn nào?
    Theo nội dung Chương 3 và phần Mở đầu, khảo sát thực trạng được tiến hành trên 24 trường mầm non ngoài công lập phân bổ tại 04 quận và 02 huyện thuộc địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh. Tổng số khách thể khảo sát gồm 380 người, trong đó có 100 cán bộ quản lý và 280 giáo viên mầm non (được thống kê chi tiết từ Bảng 3.1 đến Bảng 3.5).

  3. Luận án tích hợp những phương pháp giáo dục tích cực tiêu biểu nào của thế giới?
    Luận án nghiên cứu và chọn lọc các nguyên lý từ các phương pháp giáo dục sớm tiêu biểu gồm: phương pháp Montessori (tôn trọng tính tự lập, học qua thao tác với giáo cụ), phương pháp Glenn Doman (kích thích thị giác, vận động và tiếp nhận thông tin đa dạng), phương pháp Makoto Shichida (kích hoạt chức năng tiếp nhận và trực giác của não phải) và mô hình "Phương án 0 tuổi" của Phùng Đức Toàn (khai mở tiềm năng ngôn ngữ và nhận thức giai đoạn sớm).

  4. Điểm cốt lõi trong kế hoạch tổ chức hoạt động nhận thức do tác giả thiết kế là gì?
    Điểm cốt lõi là việc chuyển dịch không gian giáo dục nhận thức từ các tiết học có chủ đích sang tận dụng toàn bộ các khâu trong sinh hoạt thường nhật của trẻ tại trường mầm non ngoài công lập (giờ đón và trả trẻ, giờ ăn trưa, giờ chuẩn bị ngủ, vệ sinh cá nhân và các hoạt động lao động tự phục vụ). Kế hoạch được thiết kế phân cấp chi tiết theo năm, tháng và tuần gắn với thang đo đánh giá nhận thức 5 mức độ.

  5. Kết quả thực nghiệm sư phạm tại Trường Mầm non Việt Nga được kiểm định bằng phương pháp thống kê nào?
    Tác giả sử dụng kiểm định T-test trên phần mềm SPSS để xử lý số liệu giữa nhóm Thực nghiệm và nhóm Đối chứng qua 4 đợt đo. Kết quả kiểm định T-test độc lập ở đầu vào cho thấy hai nhóm tương đương nhau ($p > 0,05$), trong khi kiểm định T-test ở đầu ra ghi nhận điểm trung bình mức độ nhận thức của nhóm Thực nghiệm cao hơn nhóm Đối chứng một cách vượt trội với ý nghĩa thống kê rõ rệt ($p < 0,05$), chứng minh hiệu quả của kế hoạch đề xuất.

Kết luận

Luận án của nghiên cứu sinh Lê Thị Hường đã giải quyết trọn vẹn mục tiêu nghiên cứu thông qua việc làm sáng tỏ cơ sở lý luận về mối liên hệ giữa chức năng não bộ giai đoạn sớm và phương pháp giáo dục tích cực trong tổ chức hoạt động nhận thức cho trẻ mẫu giáo. Kết quả khảo sát thực trạng trên 380 cán bộ quản lý và giáo viên tại 24 trường mầm non ngoài công lập ở Thành phố Hồ Chí Minh đã phản ánh bức tranh thực tiễn việc vận dụng phương pháp mới còn phân tán, thiếu đồng bộ và gặp nhiều rào cản về giáo cụ, chuyên môn. Việc thiết kế thành công quy trình sư phạm lồng ghép phương pháp giáo dục tích cực vào sinh hoạt thường nhật, cùng kết quả thực nghiệm có ý nghĩa thống kê tại Trường Mầm non Việt Nga, đã khẳng định giá trị khoa học và khả năng ứng dụng thực tiễn của công trình nhằm nâng cao chất lượng giáo dục mầm non ngoài công lập hiện nay.