MỞ ĐẦU 1. Lí do chọn đề tài Xã hội hiện nay đã và đang làm biến đổi cuộc sống của con người, nhiều vấn đề phức tạp liên tục nảy sinh. Con người luôn mong muốn vươn tới thành công, trong guồng quay đó luôn có những câu hỏi: Tại sao có những người kém thông minh nhưng lại thành công hơn những người thông minh? Do họ may mắn, làm việc chăm chỉ, hay họ có những năng lực đặc biệt? Cuốn sách bán chạy nhất thế giới của Daniel Goleman (Emotional intelligence) đã lập luận rằng tầm nhìn của chúng ta về trí tuệ con người quá hạn hẹp. Với kết quả nghiên cứu về trí não và khoa học hành vi, Goleman lý giải cho chúng ta những câu hỏi trên.
“Hãy hiểu chính mình”, nói lên nguyên tắc cơ bản của xúc cảm: phải có ý thức về những tình cảm của mình ngay từ khi nó xuất hiện. Các nhà tâm lý học gọi ý thức về tư duy của mình là siêu nhận thức và ý thức về những xúc cảm của mình là siêu tâm trạng [15]. Ý thức của đứa trẻ được hình thành bởi chính đứa trẻ, bởi sự dạy dỗ của người lớn trong quá trình dạy chữ và dạy người. Ý thức điều khiển và uốn nắn hành động của trẻ, làm cho hành động đó từng bước mang tính sáng tạo và vượt lên những sự kiện thông thường của đời sống hàng ngày.
Hành động của trẻ tác động vào chính đứa trẻ bằng hoạt động có ý thức, đứa trẻ thực hiện tái tạo bản thân mình bởi chính mình [25, tr. Việc lĩnh hội kiến thức của người đi học nói chung và trẻ em mầm non nói riêng phần lớn là do tính chủ động trong học tập, tự tìm tòi và có nhu cầu học tập. Mà sự phát triển của trẻ em là sự lĩnh hội kinh nghiệm lịch sử - xã hội của nhân loại bằng hoạt động của bản thân trẻ để phát triển. Qua hoạt động tích lũy kiến thức, phát triển trí tuệ, nhận thức bản thân, trẻ biết về bản thân mình có nghĩa là biết: Điều gì mình muốn, điểm mạnh, điểm yếu, những động cơ thúc đẩy bản thân hành động và khiến bản thân vui vẻ, muốn thay đổi bản thân, tự nhận thức về bản thân, tự đánh giá về bản thân, tự điều chỉnh – điều khiển bản 2 thân theo mục đích tự giác.
Nếu mỗi cá nhân càng hiểu về bản thân mình tốt, cá nhân đó có thể chấp nhận hoặc thay đổi bản thân mình. Chỉ khi nhận thức rõ, hiểu rõ về mình, cá nhân mới nhận ra được điều gì chưa phù hợp để hướng đến thay đổi, thích ứng. Mình luôn trả lời cho các câu hỏi: Mình là ai? Mình đang ở đâu? Mình muốn gì? Mình sẽ đi đến đâu? Trong xu hướng chung đổi mới toàn diện giáo dục, phát huy tính chủ động của trẻ mầm non để chuẩn bị tâm thế cho trẻ vào lớp một. Đó cũng là mục tiêu trong chương trình giáo dục mầm non ban hành kèm theo thông tư số 17/2009/TT-BGDĐT ngày 25 tháng 7 năm 2009 của Bộ trưởng Bộ giáo dục và Đào tạo: “Giúp trẻ phát triển về thể chất, tình cảm, nhận thức, thẫm mỹ, ngôn ngữ, hình thành những yếu tố đầu tiên của nhân cách, chuẩn bị cho trẻ vào lớp một”.
Đặc biệt trong chương trình Giáo dục mầm non 2010 Bộ Giáo dục và Đào tạo Việt Nam đã ban hành Bộ chuẩn phát triển trẻ em năm tuổi. Trong đó, chuẩn 7, chuẩn 8, chuẩn 9, chuẩn 10, chuẩn 11, chuẩn 12, chuẩn 13 đưa ra các chỉ số đánh giá: thể hiện sự nhận thức về bản thân, sự tin tưởng vào khả năng của bản thân, trẻ biết thể hiện cảm xúc và một số quy tắc ứng xử của bản thân đối với các mối quan hệ xung quanh trẻ. Việc giáo dục nhận thức về bản thân là một quá trình rèn luyện và giáo dục lâu dài. Đặc biệt, là trẻ 5 – 6 tuổi là lứa tuổi chuẩn bị bước vào ngưỡng cửa trường phổ thông.
Do đó cần sớm giáo dục cho trẻ nhận thức về bản thân đó sẽ làm hành trang cho trẻ thích nghi tốt với sự thay đổi môi trường và tăng tính tự lập cho trẻ. Trẻ 5 - 6 tuổi đã có khả năng nhận thức về bản thân nhưng thực tế vẫn chưa được quan tâm, chưa tạo ra các bài tập riêng trong các hoạt động giáo dục lẫn vui chơi. Từ tình hình trên đề tài “Thiết kế các bài tập giáo dục nhận thức về bản thân cho trẻ 5 - 6 tuổi” được xác lập. Mục đích nghiên cứu Tìm hiểu thực trạng các bài tập giáo dục nhận thức về bản thân cho trẻ 5 - 6 tuổi, từ đó thiết kế các bài tập giáo dục nhận thức về bản thân cho trẻ 5 - 6 tuổi.
Đối tượng và khách thể nghiên cứu 3. Đối tượng nghiên cứu Bài tập giáo dục nhận thức về bản thân cho trẻ 5 - 6 tuổi. Khách thể nghiên cứu Quá trình giáo dục nhận thức về bản thân cho trẻ 5 - 6 tuổi. Giả thuyết khoa học Nếu thiết kế bài tập như là phương tiện giáo dục giúp trẻ: phân biệt bản thân với người khác; bộc lộ năng lực, phẩm chất, tính cách khí chất; nhận ra bản thân và người khác có xu hướng khác nhau thì trẻ sẽ nhận thức về bản thân tốt hơn.
Giới hạn và phạm vi nghiên cứu 5. Giới hạn nội dung nghiên cứu Đề tài thiết kế các bài tập giáo dục nhận thức về bản thân cho trẻ 5 - 6 tuổi tại huyện Nhà Bè, theo nội dung chương trình giáo dục mầm non và bộ chuẩn phát triển trẻ 5 tuổi của Bộ giáo dục và đào tạo. Giới hạn địa bàn nghiên cứu Một số trường mầm non thuộc huyện Nhà Bè và trường mầm non thuộc Quận 7 (8 trường). Nhiệm vụ nghiên cứu Hệ thống hóa một số lý luận nhận thức về bản thân nhằm tạo cơ sở cho vấn đề nghiên cứu.
Khảo sát thực trạng các bài tập giáo dục của giáo viên nhằm phát triển khả năng nhận thức về bản thân cho trẻ 5 - 6 tuổi tại một số trường mầm non thuộc huyện Nhà Bè và Quận 7. 4 Thiết kế và thử nghiệm các bài tập giáo dục nhận thức về bản thân cho trẻ 5 – 6 tuổi. Phương pháp nghiên cứu 7. Phương pháp nghiên cứu lý luận Tìm kiếm một số vấn đề lý luận cơ bản và các công trình nghiên cứu từ luận án, sách báo, tạp chí, trang web… có liên quan đến đề tài.
Phương pháp nghiên cứu thực tiễn 7. Phương pháp quan sát Quan sát và ghi chép lại biểu hiện nhận thức về bản thân của trẻ khi thực hiện bài tập trong một số hoạt động của cô và trẻ ở trường mầm non: giờ học, vui chơi trong lớp, nhằm tìm hiểu thực trạng nhận thức về bản thân của trẻ 5 - 6 tuổi và khảo sát tính cần thiết và khả thi của các bài tập giáo dục nhận thức về bản thân. Tìm hiểu các loại bài tập giáo dục nhận thức về bản thân (mặt tình cảm – kỹ năng xã hội ) trong kế hoạch năm, tháng, tuần của giáo viên mầm non thuộc địa bàn khảo sát. Phương pháp phỏng vấn - Phỏng vấn phó hiệu trưởng chuyên môn, giáo viên để tìm hiểu về việc sử dụng bài tập giáo dục nhận thức về bản thân cho trẻ.
- Những khó khăn của giáo viên khi giáo dục nhận thức về bản thân cho trẻ 5 - 6 tuổi và các bài tập hỗ trơ. Phương pháp điều tra bằng phiếu hỏi Nhằm tìm hiểu ý kiến của giáo viên mầm non về: - Nhận thức của giáo viên mầm non về giáo dục nhận thức về bản thân cho trẻ 5 - 6 tuổi. - Các bài tập giáo viên sử dụng nhằm giáo dục nhận thức về bản thân cho trẻ 5 - 6 tuổi. - Những nguyên nhân giáo viên chưa thực hiện tốt việc giáo dục nhận thức về bản thân cho trẻ 5 - 6 tuổi.
5 - Điều tra tính cần thiết và khả thi của các bài tập giáo dục nhận thức về bản thân cho trẻ 5 – 6 tuổi. Phương pháp xử lý thông tin Các tư liệu được xử lý bằng phương pháp thống kê toán học. Đóng góp của đề tài nghiên cứu - Góp phần hệ thống hóa lý luận nhận thức về bản thân của trẻ 5 - 6 tuổi. - Tìm hiểu thực trạng về việc thực hiện các bài tập giáo dục nhận thức về bản thân cho trẻ 5 - 6 tuổi và xác định các nguyên nhân ảnh hưởng đến việc giáo dục nhận thức về bản thân tại một số trường mầm non thuộc thành phố Hồ Chí Minh.
- Đề tài thiết kế một số bài tập giáo dục nhận thức về bản thân cho trẻ mầm non 5 - 6 tuổi. Lịch sử nghiên cứu vấn đề 1. Các công trình nghiên cứu ở nước ngoài Các nhà nghiên cứu khoa học trên thế giới đã đề cập đến sự nhận thức về bản thân (tự nhận thức) trong các công trình nghiên cứu về tự ý thức. Phân tâm học do S.Freud sáng lập cho rằng, trong đời sống tâm lý, ý thức chỉ là một phần rất nhỏ bé so với cái bản năng, cái vô thức (nguyên lý tảng băng trôi).
Phân tâm học đi đến khẳng định động lực của đời sống tâm lý và sự phát triển nhân cách của con người nằm ở tầng sâu vô thức. Những nhà phân tâm học tập trung, đề cao vô thức mà xem nhẹ các vấn đề về ý thức cũng như vai trò của nó trong đời sống con người [31]. Đầu thế kỉ XX, trên nền tảng phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử thì vấn đề ý thức, tự ý thức mới dần được làm sáng tỏ và nghiên cứu sâu. Nhà tâm lý học ngưởi Đức A.Pfender, đầu thế kỉ XX, đã xây dựng khái niệm tự ý thức từ sự phân biệt “cái tôi” và tự ý thức.
Theo ông, tất cả các hiện tượng tâm lý là cảm xúc trực tiếp đồng nhất với ý thức, nhưng ý thức không được hiểu là sự phản ánh mà như cái bên trong có sẵn. Chủ thể tâm lý hình thành khả năng tự nhận thức về bản thân mình, hình ảnh của chính mình, hình ảnh này có hạt nhân và ngoại biên. Ngoại biên là những gì nằm ngoài tâm lý như: quần áo, thân thể, tài sản. Khi chính hình ảnh đó của chủ thể tâm lý trở thành đối tượng, nội dung của ý thức cụ thể, xuất hiện ý thức tâm lý đặc biệt là tự ý thức [21].
Philippe Rochat, thuộc khoa tâm lý học, đại học Emory, Mỹ đã có công trình nghiên cứu về “Năm mức độ tự ý thức mà trẻ bộc lộ ở những năm đầu đời”.