phần mở đầu, kết luận và danh mục tham khảo, luận văn gồm 2 chương, 9 tiết. BOI CANH, TIEN DE CHO SỰ HÌNH THÀNH QUAN NIEM CUA JOHN LOCKE VE GIAO DUC 1. Bối cảnh lich sử hình thành quan niệm của John Locke về giáo dục Xã hội Tây Âu từ thế kỷ XV đến thé ky XVIII diễn ra những biến đổi sâu sắc về kinh tế và xã hội. Thời kỳ Phục hưng diễn ra quá trình tích lũy tư bản đầu tiên.
Quá trình ấy bao gồm: Dùng bạo lực tách những người sản xuất trực tiếp - công nhân ra khỏi tư liệu sản xuất; đuôi nông đân ra khỏi ruộng đất của họ. Di chuyên từng làng một và khoanh những miếng đất không còn nông dân cày cây đề biến thành bãi chăn cừu. Chính những thay đổi này dẫn đến sự ra đời của nền sản xuất tư bản chủ nghĩa. Phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa phát triển mạnh mẽ và mâu thuẫn với phương thức sản xuất phong kiến, dẫn đến cuộc cách mạng tư sản thay thế phương thức sản xuất phong kiến bằng phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa.
Chế độ phong kiến với nền sản xuất nhỏ và các đạo luật thời trung cô bước vào thời ky tan rã. Thời kỳ này, xuất hiện nhiều phát kiến địa lý và nhiều sáng chế kỹ thuật nên đã day nền kinh tế của các nước châu Âu sang bước phát triển mới. Lực lượng sản xuất thời kỳ này đã đạt đến trình độ cao hơn so với thời kỳ trước, cùng với đó là sự công khai thừa nhận vai trò ngày càng to lớn của giai cấp tư sản trong xã hội. Thế ky XVI - XVIII là thời kỳ cách mạng tư sản sơ khai ở Tây Âu.
Ảnh hưởng và tiếng vang của cuộc khởi nghĩa nông dân Đức năm 1525 đã kéo theo hàng loạt các cuộc cách mạng nô ra tiêu biểu là cách mạng tư sản Hà Lan (1560 - 1570), sau đó là cách mạng tư sản Anh (1642 - 1648), rồi đến cách mạng tư sản Pháp (1789 - 1794). Thắng lợi của các cuộc cách mạng tư sản chứng tỏ sự phát triển và tính ưu việt của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa. Nó đã trở thành một xu thế, tất yếu lịch sử. Trung tâm công, thương nghiệp, khoa học, văn hóa chuyên sang Hà Lan, Anh và Pháp.
Do yêu cầu phát triển của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa, khoa học tự nhiên thời kỳ này có bước phát triển nhảy vọt. Đây là thời kỳ khoa học tự nhiên diễn ra quá trình phân ngành mạnh mẽ, hình thành các ngành khoa học độc lập như: toán học, vật lý học, hóa học, sinh học. Một số thành tựu tiêu biểu phải kể đến là “huyết nhật tâm” của Copernic. Lý thuyết này đã chỉ ra rằng trái đất chỉ là một trong nhiều hành tinh quay xung quanh Mặt trời.
Thuyết nhật tâm của Copernic đã đặt một nền móng khoa học vững chắc cho Thiên văn học. Đây được coi là hành vi cách mạng đầu tiên của con người vì dám thách thức quyền uy của giáo hội và chế độ phong kiến; “cơ học cổ điển" của Newton đã chứng minh mọi sự vật, hiện tượng trên thế giới này đều vận động và phát triển theo quy luật cơ học, “các phát mình toán học” của R. Đây là những tiền đề khoa học tự nhiên vững chắc cho các nhà duy vật luận giải về thế giới. Thời kỳ này đánh dấu bước phát triển mạnh mẽ khoa học tự nhiên thực nghiệm.
Các tri thức khoa học được khái quát từ các tải liệu do thực nghiệm mang lại. Phong trào văn hoá Phục hưng phát triển lên đến đỉnh cao vào thế kỷ XVI và lan mạnh ra khắp các nước tạo thành một cao trào rộng lớn làm biến đổi xã hội. Các trào lưu tư tưởng mới ra đời vừa phản bác lai thực tồn xã hội đó vừa khôi phục lại những giá trị văn hóa tinh hoa của thời kỳ cô đại ở Tây Âu. Từ những thay đổi sâu sắc trong đời sống xã hội và những thành tựu mới trong khoa học tự nhiên, triết học thời kỳ này có một bước phát triển mới.
Nam trong guéng quay đó, nước Anh có những bước chuyền mình mạnh mẽ trên tất cả các lĩnh vực kinh tế xã hội. Bồi cảnh lich sử nước Anh sau cách mạng tư sản Anh thế kỷ XVII có ảnh hưởng lớn đối với tư tưởng của John Locke. Trong tác phâm “Khảo luận thứ hai về chính quyền”, phần lời người dịch - Lê Tuấn Huy cũng đã đưa ra nhận định về việc này: “Có 1é sẽ không sai khi nói rằng tâm mức đó cua Locke, ngoài kha năng thiên tư của con người ông, có phán đóng góp đáng ké của bối cảnh một nước Anh dang ở vào những giai đoạn đây ap những sự kiện di vào sử sách, là những điều có thé nói đã cudn xoáy Locke vào đó một cách “không thương tiếc ”” [19, tr. Thế kỷ XVI - XVII là sự thắng thế của chủ nghĩa tư bản, hàng loạt các cuộc cách mạng công nghiệp và những tiến bộ khoa học kỹ thuật đang diễn ra rằm rộ ở châu Âu, trong đó tiêu biéu là cách mạng công nghiệp ở nước Anh.
Có thê nói rằng, các mạng ở Anh là cuộc cách mạng tư sản thứ 2 trên thế giới, sau cuộc cách mạng tư sản Hà Lan thế kỷ XVI, nhưng nó có ý nghĩa lớn lao đối với quá trình hình thành của chủ nghĩa tư bản trên phạm vi toàn châu Âu và thé giới. Trong lĩnh vực kinh tế: Thứ nhất là sự phát triển của công thương nghiệp. Từ cuối thế kỷ XVI, các ngành công nghiệp ở Anh phát triển mạnh mẽ. Ảnh hưởng và tác động của tiến bộ khoa học kỹ thuật làm quá trình công nghiệp hóa diễn ra nhanh chóng.
Điều này đã làm thay đổi căn ban cách thức sản xuất chủ yếu bằng lao động thủ công sang sử dung máy móc và từng bước hình thành cơ cấu công nghiệp hoàn chỉnh với quy mô lớn. Ở Anh thời điểm này đã sự xuất hiện các khu công nghiệp. Sản xuất công trường thủ công chiếm ưu thé hơn so với sản xuất phường hội. Các phường hội trung cô ở Anh đến thế kỷ XVII đã đi đến chỗ suy sụp.
Nghề sản xuất len da phát triển trên toàn đất nước, giữa thé kỷ thứ XVI số lượng len da bán ra ngoài chiếm đến 80% số lượng hàng hóa xuất khâu của nước Anh. Năm 1614, việc xuất cảng len nguyên sơ bị cắm. Chính điều này đã thúc đây sự phát triển của ngành công nghiệp chế biến len, thúc đây sự mở rộng thị trường hàng hóa ra bên ngoài. Bên cạnh những ngành công nghiệp cũ xuất hiện những ngành sản xuất mới: Bông giấy, tơ lụa, thủy tinh.
Trong lĩnh vực thương nghiệp, nước Anh giai đoạn này cũng có nhiều thành tựu nỗi bật. Thị trường dân tộc dần dần được hình thành, các cơ sở kinh doanh của người nước ngoai dân dân bị sụp đô. Thương nhân Anh mở rộng 10 buôn bán với thị trường thế giới, thành lập những công ty thương mại hoạt động từ Ban Tích đến châu Phi, từ Trung Quốc đến châu Mỹ. Giai đoạn này Trung tâm mậu dịch lớn nhất nước Anh là Luân Đôn.
Sự hình thành của sở giao dịch dẫn đến sự lưu thông về ngoại thương diễn ra thuận lợi và nhanh chóng. Sự phát triển của ngoại thương kéo theo sự phát triển của công nghiệp, thương nghiệp và hàng hải. Chính điều này đã tạo ra sự phát triển vượt bậc của lực lượng sản xuất, kéo theo sự ra đời của quan hệ sản xuất mới thay thế quan hệ sản xuất cũ. Nước Anh giai đoạn này đã có hàng trăm công trường thủ công với hàng ngàn lao động làm thuê nhưng chủ yếu vẫn là công trường thủ công bị phân tán.
Các chủ xưởng thường chuyên hướng về nông thôn, lao động bị lệ thuộc vào nhà tư bản. Việc mua bán nguyên liệu và sản phẩm luôn đi song song với việc cho vay nặng lãi. Chính điều này đã đây cuộc sống của người thợ thủ công vào cảnh ngộ khổ cực và bi dat. Ho trở thành công nhân làm thuê cho nhà tư bản.
Nước Anh vào giai đoạn này tuy có nhiều chuyền biến quan trọng nhưng nhìn chung vẫn thua kém Hà Lan về nhiều lĩnh vực như: công nghiệp, thương nghiệp, hàng hải. Thứ hai, tinh trạng nông nghiệp và sự xâm nhập cua Chu nghĩa tu bản vào nông thôn. Nước Anh đầu thế kỷ XVII vẫn là một nước nông nghiệp. Trong 5 triệu rưỡi dân cư có 1/5 ở thành thị; 4/5 là ở nông thôn.
Quan hệ sản xuất phong kiến thống trị lâu đời. Nông dân sống trên đất của địa chủ phải nộp tô và sống nhờ vào một phần ruộng đất của công xã. Do ảnh hưởng từ lợi nhuận của ngành công nghiệp len dạ, dia chủ không thoả mãn với nguồn dia tô thu được của nông dân, họ tước đoạt ruộng đất của nông dân đang cày cấy, rào ruộng đất riêng và một phần ruộng đất của công xã để biến chúng thành đồng cỏ chăn cừu, cấm súc vật của nông dân vào đó. Nông dân không có ruộng dat đê trông trọt, chăn nuôi.
Điêu nay đã làm cho cuộc sông của người 11 nông dân càng khổ cực hơn. Thomas More đã miêu tả thảm cảnh này trong tác pham Utopia: “Những con cừu xưa kia ngoan ngoãn hiển hậu biết bao, bây giờ đêu trở thành những con vật hung hãn tham lam. Cừu ăn thịt người, phá hoại ruộng vườn, nhà cua và thành thi" [25, tr. Chính quá trình chuyển hóa “cờw ăn thịt người” đã làm chuyên biến mạnh mẽ trong lòng xã hội.
Đây là tiền đề cho sự ra đời của chủ nghĩa tư bản. Mác nhận xét: “Cơ sở của toàn bộ qua trình tiễn triển này chính là sự tước đoạt ruộng đất của nông dân chỉ được tiễn hành triệt để ở nước Anh thôi; vì vậy trong sự phác họa sau đây của chúng ta, tất nhiên là nước Anh sẽ giữ một địa vị bậc nhất” [21, tr. Chính quá trình chuyên biến mạnh mẽ về kinh tế đã dẫn đến sự biến đổi sâu sắc trong giai cấp và kéo theo những biến động chính trị của nước Anh. Cùng với quá trình biến đổi chính trị, giai tang trong xã hội nước Anh có sự phân hóa và mâu thuẫn sâu sắc.
Bên cạnh mâu thuẫn cũ giữa người nông dân với vua chúa phong kiến, trong lòng xã hội Anh còn xuất hiện nhiều mâu thuẫn mới: Thứ nhất là mâu thuẫn giữa tang lóp quý tộc cũ với tang lớp quý tộc mới. Tang lớp quý tộc cũ luôn tìm moi cách dé duy trì chế độ phong kiến chuyên chế, kìm hãm sự phát triển của chủ nghĩa tư bản với giai cấp tư sản với tang lớp quý tộc mới.