Luận án tiến sĩ khoa học giáo dục dạy học nghiệp vụ sư phạm dựa vào học tập trải nghiệm cho sinh viên đại học ngành sư phạm kĩ thuật

Luận án tiến sĩ nghiên cứu giáo dục dạy học nghiệp vụ sư phạm dựa vào học tập trải nghiệm cho sinh viên đại học ngành sư phạm, phát triển phương pháp mới, đánh giá hiệu quả ứng

Chuyên ngành

Sư Phạm Kỹ Thuật

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

2017

202
5
1

Phí lưu trữ

55 Point

Tóm tắt

I. Cơ sở khoa học của dạy học nghiệp vụ sư phạm dựa vào học tập trải nghiệm

Nghiên cứu về dạy học nghiệp vụ sư phạm cho sinh viên đại học ngành sư phạm kỹ thuật đã chỉ ra rằng việc áp dụng học tập trải nghiệm là một phương pháp hiệu quả để nâng cao chất lượng giảng dạy. Học tập trải nghiệm không chỉ giúp sinh viên tiếp thu kiến thức một cách chủ động mà còn phát triển các kỹ năng sư phạm cần thiết. Theo Kolb, mô hình học tập trải nghiệm bao gồm bốn giai đoạn: trải nghiệm cụ thể, quan sát phản chiếu, hình thành khái niệm và thử nghiệm. Việc áp dụng mô hình này trong dạy học nghiệp vụ sư phạm sẽ giúp sinh viên có cơ hội thực hành và rèn luyện kỹ năng trong môi trường thực tế. Đặc biệt, việc tổ chức các hoạt động học tập trải nghiệm sẽ tạo ra môi trường học tập tích cực, khuyến khích sự tham gia và hợp tác giữa sinh viên.

1.1. Những nghiên cứu về học tập trải nghiệm

Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng học tập trải nghiệm là một phương pháp học tập hiệu quả, giúp sinh viên phát triển kỹ năng sư phạm và khả năng tư duy phản biện. Học tập trải nghiệm không chỉ đơn thuần là việc tiếp thu kiến thức mà còn là quá trình sinh viên tự khám phá và áp dụng kiến thức vào thực tiễn. Điều này đặc biệt quan trọng trong lĩnh vực sư phạm kỹ thuật, nơi mà việc áp dụng lý thuyết vào thực hành là rất cần thiết. Các nghiên cứu cũng nhấn mạnh rằng việc kết hợp giữa lý thuyết và thực hành sẽ giúp sinh viên có cái nhìn toàn diện hơn về nghề nghiệp tương lai của mình.

1.2. Đặc điểm của sinh viên đại học ngành sư phạm kỹ thuật

Sinh viên đại học ngành sư phạm kỹ thuật thường có những đặc điểm tâm lý và xã hội riêng biệt. Họ thường có xu hướng thích học hỏi qua thực hành và trải nghiệm. Đặc điểm này cần được xem xét khi thiết kế các chương trình dạy học nghiệp vụ sư phạm. Việc hiểu rõ những đặc điểm này sẽ giúp giảng viên lựa chọn phương pháp dạy học phù hợp, từ đó nâng cao hiệu quả giảng dạy. Hơn nữa, việc tạo ra môi trường học tập tích cực, nơi sinh viên có thể chia sẻ và học hỏi lẫn nhau, sẽ góp phần phát triển kỹ năng sư phạm cho sinh viên.

II. Các biện pháp dạy học nghiệp vụ sư phạm dựa vào học tập trải nghiệm

Để nâng cao hiệu quả dạy học nghiệp vụ sư phạm, cần thiết phải áp dụng các biện pháp cụ thể dựa vào học tập trải nghiệm. Việc lựa chọn nội dung dạy học phù hợp với học tập trải nghiệm là rất quan trọng. Các nội dung này cần phải gắn liền với thực tiễn và nhu cầu của sinh viên. Bên cạnh đó, thiết kế các bài tập thực hành cũng cần được chú trọng. Các bài tập này không chỉ giúp sinh viên rèn luyện kỹ năng sư phạm mà còn tạo cơ hội cho họ áp dụng lý thuyết vào thực tiễn. Việc sử dụng các hình thức dạy học đa dạng như dạy học theo dự án hay dạy học theo chủ đề cũng sẽ giúp sinh viên phát triển toàn diện hơn.

2.1. Lựa chọn nội dung nghiệp vụ sư phạm

Nội dung nghiệp vụ sư phạm cần được lựa chọn dựa trên nhu cầu thực tế của sinh viên và yêu cầu của thị trường lao động. Việc này không chỉ giúp sinh viên có được kiến thức cần thiết mà còn tạo động lực học tập cho họ. Nội dung dạy học cần phải được thiết kế sao cho phù hợp với các giai đoạn trong mô hình học tập trải nghiệm, từ đó giúp sinh viên dễ dàng tiếp thu và áp dụng kiến thức vào thực tiễn. Hơn nữa, việc lựa chọn nội dung cũng cần phải linh hoạt, có thể điều chỉnh theo từng đối tượng sinh viên để đảm bảo tính hiệu quả trong quá trình dạy học.

2.2. Thiết kế bài tập thực hành nghiệp vụ sư phạm

Thiết kế các bài tập thực hành là một trong những yếu tố quan trọng trong dạy học nghiệp vụ sư phạm. Các bài tập này cần phải được xây dựng dựa trên các tình huống thực tế mà sinh viên có thể gặp phải trong quá trình giảng dạy. Việc này không chỉ giúp sinh viên rèn luyện kỹ năng sư phạm mà còn tạo cơ hội cho họ phát triển tư duy phản biện và khả năng giải quyết vấn đề. Hơn nữa, các bài tập thực hành cũng cần được tổ chức theo nhóm để khuyến khích sự hợp tác và chia sẻ kinh nghiệm giữa các sinh viên.

III. Kiểm nghiệm và đánh giá

Quá trình kiểm nghiệm và đánh giá là rất quan trọng trong việc xác định hiệu quả của các biện pháp dạy học nghiệp vụ sư phạm dựa vào học tập trải nghiệm. Việc tổ chức thực nghiệm sư phạm sẽ giúp đánh giá được sự phát triển kỹ năng sư phạm của sinh viên. Các phương pháp đánh giá cần phải đa dạng và linh hoạt, bao gồm cả đánh giá định tính và định lượng. Đặc biệt, việc thu thập ý kiến từ sinh viên và giảng viên sẽ giúp cải thiện chất lượng dạy học. Kết quả đánh giá không chỉ phản ánh hiệu quả của các biện pháp dạy học mà còn cung cấp thông tin quý giá để điều chỉnh và hoàn thiện chương trình đào tạo.

3.1. Tổ chức thực nghiệm sư phạm

Tổ chức thực nghiệm sư phạm là một bước quan trọng trong quá trình nghiên cứu. Mục đích của thực nghiệm là để kiểm tra tính khả thi và hiệu quả của các biện pháp dạy học nghiệp vụ sư phạm. Việc lựa chọn đối tượng thực nghiệm cần phải đảm bảo tính đại diện cho sinh viên ngành sư phạm kỹ thuật. Kết quả thực nghiệm sẽ cung cấp những thông tin cần thiết để đánh giá và điều chỉnh các biện pháp dạy học, từ đó nâng cao chất lượng đào tạo.

3.2. Đánh giá kết quả nghiên cứu

Đánh giá kết quả nghiên cứu cần phải được thực hiện một cách khách quan và khoa học. Việc sử dụng các phương pháp đánh giá chuyên gia sẽ giúp xác định tính cần thiết và khả thi của các biện pháp dạy học nghiệp vụ sư phạm. Kết quả đánh giá không chỉ giúp khẳng định chất lượng của các biện pháp dạy học mà còn cung cấp cơ sở để phát triển các chương trình đào tạo trong tương lai. Hơn nữa, việc thu thập ý kiến từ sinh viên cũng sẽ giúp cải thiện chất lượng dạy học, tạo ra môi trường học tập tích cực và hiệu quả hơn.

06/02/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA DẠY HỌC NGHIỆP VỤ SƯ PHẠM DỰA VÀO HỌC TẬP TRẢI NGHIỆM CHO SINH VIÊN ĐẠI HỌC NGÀNH SƯ PHẠM KĨ THUẬT 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Những nghiên cứu về dạy học nghiệp vụ sư phạm cho sinh viên đại học ngành sư phạm kĩ thuật a) Trên thế giới Trong những nghiên cứu về NVSP và dạy học NVSP của Dewey (1916) [22], [75], Allen & Ryan (1969) [91], OECD (2014) [119], Turney, C. Rahman (2014) [115], Vinod Kumar Singh (2010) [126], Von Glasserfield, E.

(1995) [127] đều xem xét vấn đề này theo góc độ phát triển năng lực và nghề nghiệp giáo viên, tức là NVSP như là một thành tố năng lực của nghề nghiệp giáo viên và dạy học NVSP là một phần trong tiến trình phát triển nghề nghiệp giáo viên. Do những khác biệt về văn hóa, xã hội, chính trị. nên dạy học NVSP ở mỗi quốc gia có những đặc điểm riêng về mục tiêu, nội dung, chương trình đào tạo, nhưng đều có những quan điểm chung về dạy học NVSP như sau [60], [20]: - Nội dung dạy học NVSP được xác định dựa trên phân tích các nhiệm vụ/ công việc của người giáo viên trong bối cảnh xã hội hiện đại, tập trung vào rèn luyện và phát triển KNDH cho sinh viên. - Phương pháp và hình thức dạy học NVSP được lựa chọn, sử dụng dựa trên nền tảng của thuyết kiến tạo.

Sinh viên sư phạm được xem như những người học tích cực, chủ động tự kiến tạo nên tri thức và kĩ năng nghề nghiệp cho bản thân thông qua hệ thống các hoạt động gắn liền với thực tiễn giáo dục chứ không phải những tình huống giả định. 9 Những nghiên cứu về dạy học NVSP cho sinh viên đại học ngành SPKT của một số tác giả như Aakre, B. (2004) [104], Lucas (2014) [112] cho rằng, quá trình đào tạo cần cho phép sinh viên SPKT có cơ hội để tiếp thu và áp dụng kiến thức, kĩ năng và cảm xúc trong một khung cảnh trực tiếp của giáo dục kĩ thuật, chứ không phải chỉ đơn giản chỉ là một quá trình suy nghĩ về đối tượng học tập nhờ sự tham gia tích cực của sinh viên. Việc dạy học NVSP cho sinh viên đại học ngành SPKT luôn gắn với những chủ đề kĩ thuật cụ thể trong nghề nghiệp, nhấn mạnh vào quá trình học tập suốt đời, học tập gắn liền với lợi ích và đáp ứng công việc của GVKT.

Như vậy, những quan điểm và tư tưởng dạy học NVSP cho sinh viên nói chung và sinh viên đại học ngành SPKT nói riêng đều nhấn mạnh việc học tập gắn liền với những công việc thực tế của nghề dạy học. Điều này tạo nên cơ sở để áp dụng “học tập trải nghiệm” vào trong dạy học NVSP cho sinh viên đại học ngành SPKT. b) Ở Việt Nam Trong những nghiên cứu bàn luận trực tiếp hoặc liên quan đến dạy học NVSP cho sinh viên đại học ngành SPKT của Cao Danh Chính (2012) [19], Nguyễn Thị Kim Dung (2015) [25], Nguyễn Trường Giang (2012) [31], Nguyễn Ngọc Hùng (2006) [38], Vũ Xuân Hùng (2011) [39], Đặng Thành Hưng (2011) [41], Đỗ Thế Hưng (2015) [47], Trịnh Xuân Thu (2012) [78], Nguyễn Văn Khôi (2010) [54], Nguyễn Thị Hà Lan (2011) [56], Lê Thùy Linh (2013) [60], Lê Thị Xuân Liên (2006) [59], Trần Hùng Lượng (2003) [62], Nguyễn Xuân Mai (2006) [63], Lã Văn Mến (2005) [64], Phan Trọng Ngọ (2014) [72], Hoàng Thanh Thúy (2012) [79] đều bàn đến dạy học NVSP như một nhiệm vụ quan trọng của phát triển nghề nghiệp giáo viên, nhấn mạnh việc dạy học NVSP theo tiếp cận năng lực, trong đó quan niệm năng lực dạy học của GVKT dưới góc độ hệ thống những KNDH cơ bản. Hầu hết 10 các tác giả đều tập trung làm sáng tỏ việc xác định chuẩn đầu ra/ mục tiêu đào tạo, thiết kế chương trình và nội dung đào tạo NVSP, thiết kế dạy học kiến tạo, thực hiện bài giảng, đánh giá năng lực dạy học, biện pháp bồi dưỡng và tự bồi dưỡng NVSP.

Tuy nhiên, các tác giả chưa đề cập rõ ràng đến một lí thuyết học tập đóng vai trò trung tâm nhằm định hướng các hành vi, các học động học tập của người học để tiến hành dạy học. Trong khuôn khổ “Dự án tăng cường các trung tâm dạy nghề SVTC” của Bộ Lao động, Thương binh & Xã hội đã phát triển rất nhiều các tài liệu bồi dưỡng NVSP như: Sổ tay bộ phận đào tạo của trung tâm dạy nghề [13], Sổ tay về thiết kế và tổ chức khóa tập huấn kĩ năng giảng dạy [14], Sổ tay xây dựng chương trình [15], Tài liệu bồi dưỡng kĩ năng giảng dạy theo năng lực thực hiện cho giáo viên dạy nghề trình độ sơ cấp [16]; “Đề án đào tạo nghề cho lao động nông thôn đến năm 2020 theo Quyết định số 1956/QĐ- TTg ngày 27/11/2009 của Thủ tướng Chính phủ với tài liệu tập huấn giáo viên và tài liệu bồi dưỡng KNDH)” [12] với tư tưởng, triết lí giáo dục xuyên suốt trong những chương trình này là việc học tập qua làm, học tập qua trải nghiệm đã mang lại nhiều thay đổi tích cực trong việc dạy học NVSP theo hướng phát triển KNDH, nhưng chỉ mang tính ngắn hạn, tức thời và đáp ứng một bộ phận nhỏ GVKT đang hành nghề. Những nghiên cứu bàn luận về dạy học NVSP theo hướng phát triển KNDH cho sinh viên của Nguyễn Minh Châu (2004) [17] về các giải pháp nâng cao kĩ năng thực hành cho sinh viên, Hồ Thị Dung (2008) [26] về biện pháp rèn luyện KNDH trên lớp cho sinh viên cao đẳng sư phạm, Đào Hải (2005) [33] về bồi dưỡng NVSP cho đội ngũ giáo viên tiểu học miền núi, Nguyễn Hoàng Hải (2012) [34] về giáo dục giá trị nghề nghiệp cho sinh viên đại học bằng hoạt động thực hành NVSP, Đặng Thành Hưng (2013) [43] về những KNDH cơ bản của giáo viên, Nguyễn Thị Thúy Hường (2007) [51] về thái độ rèn luyện NVSP của sinh viên cao đẳng sư phạm, Lục Thị Nga 11 (2007) [68] về quản lí hoạt động tự bồi dưỡng NVSP của giáo viên trung học đều nhấn mạnh vấn đề phát triển KNDH là một nhiệm vụ chính của dạy học NVSP, trong đó đưa ra nhiều giải pháp như đổi mới rèn luyện NVSP, đổi mới nội dung NVSP, đề xuất biện pháp với Hiệu trưởng trong việc tổ chức bồi dưỡng NVSP, giải pháp lập kế hoạch dạy học, đổi mới thực tập sư phạm. Trong những nghiên cứu về đổi mới dạy học NVSP của Phạm Thị Kim Anh (2011) [3] về “đổi mới rèn luyện nghiệp vụ sư phạm – Giải pháp nâng cao chất lượng đào tạo giáo viên”, Lê Võ Bình (2002) [5] về “đổi mới phương pháp giảng dạy, rèn luyện nghiệp vụ sư phạm và kiểm tra đánh giá kết quả học tập trong trường sư phạm nhìn từ góc độ dạy nghề” đều khẳng định: (1) Giảng viên cần phải nhìn nhận nội dung các môn học NVSP dưới góc độ như là một môn học nhằm rèn luyện KNDH cho sinh viên; (2) Dạy học cần chú trọng tới dạy mẫu, làm mẫu để giúp sinh viên rèn luyện KNDH.

Tuy nhiên, các tác giả chưa làm sáng tỏ được bản chất, nguyên tắc, vai trò của trải nghiệm trong rèn luyện KNDH cho sinh viên. Những nghiên cứu của Nguyễn Văn Cường (2011) [21], Phan Đức Duy (1999) [27], Cao Cự Giác (2011) [32], Nguyễn Thị Phương Hoa (2010) [36], Đỗ Thị Thu Hương (2011) [48], Nguyễn Thị Tính (2010) [76], Trần Anh Tuấn (1996) [87] xem xét việc sử dụng bài tập thực hành như là giải pháp hữu hiệu để rèn luyện KNDH, tạo ra môi trường luyện tập an toàn cho sinh viên, học cách xử lí, ra quyết định trước các tình huống của nghề nghiệp trong tương lai. Tuy nhiên, các tác giả cũng chưa làm sáng tỏ được các tiêu chí chung và qui trình thiết kế bài tập thực hành NVSP theo hướng trải nghiệm, gắn với bối cảnh thực tế của GVKT. Tóm lại, dạy học NVSP theo tiếp cận năng lực chính là xu hướng, giải pháp hữu hiệu để phát triển năng lực dạy học cho sinh viên đại học ngành SPKT.

Việc dạy học NVSP cần tập trung vào việc phát triển KNDH bằng bài tập thực hành, bởi vì KNDH là thành phần cốt lõi của năng lực dạy học. 12 Tuy nhiên, chưa có công trình nào đề cập đến việc vận dụng học tập trải nghiệm như là lí thuyết học tập đóng vai trò trung tâm để tổ chức dạy học NVSP nhằm phát triển năng lực dạy học sinh viên đại học ngành SPKT. Những nghiên cứu về học tập trải nghiệm và dạy học dựa vào học tập trải nghiệm a) Trên thế giới Theo từ điển Wikipedia: Chủ nghĩa kinh nghiệm là một khuynh hướng lí thuyết về tri thức trong triết học, gắn liền với tên tuổi của các nhà triết học tiêu biểu bao gồm: Aristotle (384-322 TCN), Thomas Aquinas (1225- 1274), Thomas Hobbes (1588-1679), John Locke (1632-1704), George Berkeley (1685-1753), David Hume (1711-1776), và John Stuart Mill (1806- 1873). Chủ nghĩa kinh nghiệm đặc biệt nhấn mạnh vai trò của trải nghiệm, tri thức khoa học có quan hệ chặt chẽ với trải nghiệm, đặc biệt khi được tạo ra qua các sắp đặt trải nghiệm có chủ ý.

Chủ nghĩa kinh nghiệm cho rằng, tri thức không có một cách tự động, thay vào đó, tri thức đó phải bắt nguồn từ trải nghiệm của cá nhân. Tuy nhiên, nhiều nhà triết học không đồng tình với tư tưởng của John Locke rằng, tâm thức con người là một trang giấy trắng, mà viết trên đó là các trải nghiệm trong suốt cuộc đời. Đầu thế kỷ 20, chủ nghĩa thực dụng (hay chủ nghĩa hành động) được phát triển bởi William James (1842-1910), John Dewey (1859-1952) và George Santayana (1863-1952) mà tư tưởng chịu ảnh hưởng một phần của chủ nghĩa kinh nghiệm. Chủ nghĩa thực dụng cho rằng, thực tế được xác định bằng kinh nghiệm trong quá khứ.

Con người luôn có một vốn kinh nghiệm nhất định và họ sử dụng những kinh nghiệm ấy để thực hiện trải nghiệm trên công việc và kiểm tra các giá trị thực tế của kinh nghiệm. Các giá trị của kinh nghiệm như vậy được đo theo kinh nghiệm và khoa học, và kết quả của các giá trị này sẽ tạo ra những ý tưởng mới làm công cụ để tiến hành trải nghiệm trong tương lai. 13 Học tập trải nghiệm là sự hiện thực hóa các tư tưởng của chủ nghĩa thực dụng trong triết học được vận dụng vào trong giáo dục; nó là một lí thuyết giáo dục hiện đại, nổi bật trong thế kỉ 20, gắn liền với tên tuổi của các nhà giáo dục hàng đầu trên thế giới như William James (1842-1910), John Dewey (1859-1952), Jean Piaget (1896-1980), Vygotsky (1896-1934), Lewin (1890-1947), George Santayana (1863-1952) khằng định, học tập là việc nhận thức và chuyển đổi kinh nghiệm [22], [23], [24], [75].

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài viết "Luận Án Tiến Sĩ: Dạy Học Nghiệp Vụ Sư Phạm Dựa Trải Nghiệm Cho Sinh Viên Sư Phạm Kỹ Thuật" tập trung vào việc áp dụng phương pháp dạy học dựa trên trải nghiệm để nâng cao chất lượng đào tạo cho sinh viên ngành sư phạm kỹ thuật. Tác giả phân tích các phương pháp giảng dạy hiệu quả, nhấn mạnh tầm quan trọng của việc kết hợp lý thuyết với thực hành, giúp sinh viên phát triển kỹ năng nghề nghiệp một cách toàn diện. Bài viết không chỉ cung cấp cái nhìn sâu sắc về phương pháp giảng dạy mà còn chỉ ra những lợi ích thiết thực cho sinh viên, như khả năng áp dụng kiến thức vào thực tiễn và phát triển tư duy phản biện.

Để mở rộng thêm kiến thức về lĩnh vực này, bạn có thể tham khảo các tài liệu liên quan như Luận án tiến sĩ kỹ năng thực hành nghề của sinh viên ngành sư phạm mầm non tại thành phố hồ chí minh, nơi khám phá kỹ năng thực hành trong giáo dục mầm non, hay Luận án quản lý đào tạo nguồn nhân lực trình độ cao đẳng đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế xã hội thành phố đà nẵng, cung cấp cái nhìn về quản lý đào tạo nguồn nhân lực trong bối cảnh phát triển kinh tế. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về các phương pháp và chiến lược trong giáo dục và đào tạo.