Mở đầu. Chương này trình bày tổng quan, lý do hình thành đề tài, mục tiêu nghiên cứu, ý nghĩa đề tài, phạm vi nghiên cứu và bố cục đề tài Chương 2: Cơ sở lý thuyết. Chương này trình bày cơ sở lý thuyết về công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ công chức tại thành phố Đà Lạt, từ đó xác định giả thiết và mô hình nghiên cứu. Chương 3: Phương pháp nghiên cứu.
Chương này trình bày phương pháp nghiên cứu và quy trình nghiên cứu. Cách thức chọn mẫu, thu thập và xử lý số liệu. Chương 4: Kết quả nghiên cứu. Chương này tiến hành phân tích và đưa ra kết quả nghiên cứu như: Đánh giá độ tin cậy của thang đo bằng hệ số tin cậy Crobach Alpha; Phân tích nhân tố khám phá (EFA), phân tích tương quan, phân tích hồi quy đa biến để kiểm định các giả thuyết và mô hình nghiên cứu.
Chương 5: Kết luận. Chương này trình bày các kết quả chính của đề tài. Hạn chế của đề tài và hướng nghiên cứu tiếp theo. 7 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT 2.1KHÁI NIỆM CÁN BỘ CÔNG CHỨC 2.1 Khái niệm cán bộ Theo Phan Hiếu (2008), khái niệm “cán bộ” được sử dụng khá lâu tại các nước xã hội chủ nghĩa và bao hàm một diện rất rộng các loại nhân sự khu vực nhà nước và các tổ chức chính trị - xã hội.
Thuật ngữ khi đó thường dùng là “cán bộ công nhân viên chức”, bao gồm tất cả những người làm công hưởng lương từ ngân sách nhà nước, từ những người đứng đầu một cơ quan đến các nhân viên phục vụ như lái xe, bảo vệ hay lao động tạp vụ. Sự đánh đồng như vậy dẫn đến việc không phân định rõ ràng về chức năng, nhiệm vụ, không phân biệt rõ những người thực thi chức năng quản lý nhà nước và những người cung ứng dịch vụ công trong bộ máy nhà nước, thậm chí gây nhầm lẫn trong hoạt động cũng như trong hành xử công vụ. Thực tiễn cho thấy, ngay cả nhiều quy định về cán bộ cũng khó thực thi bởi chính sự mơ hồ và dễ gây nhầm lẫn trong khái niệm này Cùng với xu hướng toàn cầu hóa kinh tế, những thành tựu của sự phát triển kinh tế, xã hội, chủ động hội nhập kinh tế quốc tế, tăng cường mở rộng, giao lưu, hợp tác nhiều mặt với các nước, tiếp thu có chọn lọc nên khái niệm “cán bộ” cũng thay đổi. Luật cán bộ công chức (2008) quy định cán bộ là công dân Việt Nam, được bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm, giữ chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ trong các cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, nhà nước, các tổ chức chính trị - xã hội ở Trung ương, tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, ở huyện, quận, thị xã thuộc tỉnh trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước.2 Công chức Hiện nay có nhiều khái niệm “công chức” ở nhiều quốc gia khác nhau, có nơi hiểu công chức theo một phạm vi rất rộng là bao gồm tất cả những nhân viên trong bộ máy hành chính nhà nước, tất cả những người tham gia dịch vụ công, hay một phạm vi hẹp hơn như ở Anh, công chức là những người thay mặt nhà nước giải quyết các công việc công (Phan Hiếu, 2008).
8 Lịch sử phát triển công chức Việt Nam trải qua nhiều giai đoạn, Luật cán bộ công chức (2008) quy định công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp và trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước; đối với công chức trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập thì lương được bảo đảm từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật. Cán bộ công chức cấp xã, phường, thị trấn. Cán bộ xã, phường, thị trấn là công dân Việt Nam, được bầu cử giữ chức vụ theo nhiệm kỳ trong Thường trực Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, Bí thư, Phó Bí thư Đảng ủy, người đứng đầu tổ chức chính trị - xã hội; công chức cấp xã là công dân Việt Nam được tuyển dụng giữ một chức danh chuyên môn, nghiệp vụ thuộc Ủy ban nhân dân cấp xã, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước.2 ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG CÁN BỘ CÔNG CHỨC 2. Khái niệm đào tạo, bồi dưỡng cán bộ công chức 2.1 Đào tạo Có nhiều khái niệm về đào tạo: - Đào tạo được cho là “quá trình tác động đến con người làm cho người đó lĩnh hội và nắm vững những tri thức, kỹ năng kỹ xảo.
một cách có hệ thống nhằm chuẩn bị cho người đó thích nghi với cuộc sống và khả năng nhận một sự phân công lao động nhất định”. Đào tạo được xem như là một quá trình làm cho người ta “trở thành người có năng lực theo những tiêu chuẩn nhất định” (Viện Từ điển học và Bách khoa toàn thư Việt Nam). - Đào tạo là quá trình tổ chức học tập có hệ thống được tổ chức theo một quy trình cụ thể, có thời gian thích hợp, có nội dung, chương trình đào tạo và yêu 9 cầu đặt ra, tạo sự biến đổi về chất sau quá trình học tập. Đào tạo cán bộ công chức không những giúp cán bộ công chức phát triển năng lực đáp ứng yêu cầu công việc mà còn trang bị phương pháp, kỹ năng tạo nền móng cho cán bộ công chức tiếp thu những kiến thức mới đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của xã hội (Từ điển luật học, 1999).
- Trong đạo luật Liên bang của Mỹ, đào tạo được xác định như là một quá trình cung cấp và tạo dựng khả năng làm việc cho người học và bố trí, đưa họ vào các chương trình, khoá học, môn học, hệ thống hoặc nói cách khác là huấn luyện và giáo dục được chuẩn bị, có kế hoạch, có sự kết hợp trong các lĩnh vực khoa học, chuyên ngành, kỹ thuật, cơ khí, thương mại, văn phòng, tài chính, hành chính hay các lĩnh vực khác nhằm nâng cao kết quả thực hiện công việc của cá nhân, tổ chức và giúp họ hoàn thành nhiệm vụ và mục tiêu công tác. - Theo định nghĩa của Uỷ ban Nhân lực của Anh, đào tạo được xác định như là quá trình làm biến đổi hành vi con người một cách có hệ thống thông qua học tập. Việc học tập này có được là kết quả của việc giáo dục, hướng dẫn, phát triển, và lĩnh hội kinh nghiệm một cách có kế hoạch. Đào tạo cán bộ công chức được xác định như là một quá trình có kế hoạch làm biến đổi thái độ, kiến thức hoặc kỹ năng thông qua hoạt động học tập rèn luyện để làm việc có hiệu quả trong một hoạt động hay trong một loạt các hoạt động nào đó.
Mục đích của nó, xét theo tình hình công tác ở tổ chức, là phát triển nâng cao năng lực cá nhân và đáp ứng nhu cầu nhân lực hiện tại và tương lai của cơ quan.2 Bồi dưỡng Bồi dưỡng được xác định là quá trình làm cho người ta “tăng thêm năng lực hoặc phẩm chất” (Viện Từ điển học và Bách khoa toàn thư Việt Nam). Như vậy bồi dưỡng nhằm mục đích bổ sung kiến thức, thông qua bồi dưỡng sẽ giúp đối tượng được bồi dưỡng nâng cao trình độ, chất lượng công tác đáp ứng yêu cầu được giao. Tuy nhiên bồi dưỡng chưa tạo được bước ngoặc căn bản về trình độ, kỹ năng nghiệp vụ. Thông thường trong hoạt động công, bồi dưỡng có nhiệm vụ cập nhật, trang bị, bổ sung thêm kiến thức, kỹ năng mới cho cán bộ để hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao.3 Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ công chức Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ công chức là một loại giáo dục dành cho người trưởng thành, không giống với việc giáo dục chính quy phổ thông, lấy phát triển làm nội dung chính, khác với giáo dục đại học, cao đẳng, lấy chuyên ngành làm nội dung chính.
Theo Luật Cán bộ công chức (2008), đào tạo bồi dưỡng cán bộ công chức phải căn cứ theo tiêu chuẩn, chức vụ, chức danh cán bộ, yêu cầu nhiệm vụ và phù hợp với quy hoạch cán bộ. Đào tạo, bồi dưỡng theo tiêu chuẩn chức vụ lãnh đạo, quản lý là trang bị kiến thức kỹ năng, phương pháp làm việc theo chương trình quy định cho từng chức vụ. Đào tạo, bồi dưỡng nhằm mục đích là đáp ứng nhu cầu phát triển của cá nhân trong tổ chức và sự phát triển của tổ chức. Tóm lại, đào tạo, bồi dưỡng là một nội dung quan trọng trong công tác quản lý phát triển nguồn nhân lực của cơ quan, tổ chức nhà nước nhằm mục tiêu xây dựng và phát triển đội ngũ cán bộ công chức thành thạo về chuyên môn, nghiệp vụ, trung thành với Nhà nước và tận tụy với công việc phục vụ nhân dân.
Quá trình đào tạo, bồi dưỡng bao giờ cũng phải tiến hành trên cơ sở xác định nhu cầu đào tạo, bồi dưỡng của từng cơ quan, đơn vị, từng vị trí công việc. Xét về mặt thời gian, đào tạo có thời gian dài hơn, thường là từ một năm học trở lên, về bằng cấp thì đào tạo có bằng cấp chứng nhận trình độ được đào tạo, còn bồi dưỡng thường chỉ có chứng chỉ chứng nhận đã học qua khoá bồi dưỡng. Như vậy đào tạo, bồi dưỡng chính là việc tổ chức những cơ hội cho người ta học tập, nhằm giúp tổ chức đạt được mục tiêu của mình bằng việc tăng cường năng lực, làm gia tăng giá trị của nguồn lực cơ bản quan trọng nhất là con người, là cán bộ công chức làm việc trong tổ chức. Đào tạo, bồi dưỡng tác động đến con người trong tổ chức, làm cho họ có thể làm việc tốt hơn, cho phép họ sử dụng tốt hơn các khả năng, tiềm năng vốn có của họ, phát huy hết năng lực làm việc của họ (Ngô Thành Can, 2011) 2.