CHƯƠNG 1: CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1 Lý luận chung về việc làm và giải quyết việc làm cho lao động nữ nông thôn 1.1 Một số khái niệm về lao động 1.1 Khái niệm về lao động Theo giáo trình Kinh tế lao động, lao động được định nghĩa là hoạt động có mục đích, ý thức của con người, trong quá trình lao động, con người vận dụng sức lực của bản thân, sử dụng công cụ lao động để tác động vào thế giới tự nhiên, biến đổi chúng và làm cho chúng trở nên có ích cho đời sống con người [9]. Chính vì vậy Ph.Ăngghen đã viết: “Lao động là điều kiện cơ bản đầu tiên của toàn bộ đời sống loài người, và như thế đến một mức mà trên một ý nghĩa nào đó chúng ta phải nói: lao động đã sáng tạo ra bản thân con người”. Như vậy, lao động là hoạt động quan trọng nhất của con người, là quá trình người lao động sử dụng sức lao động của mình vào sản xuất để tạo ra các giá trị vật chất và tinh thần cho xã hội. Nguồn lao động là bộ phận dân số trong độ tuổi lao động theo quy định của pháp luật có khả năng lao động và những người ngoài độ tuổi lao động đang làm việc trong các ngành kinh tế quốc dân [10, 362].
Quy định cụ thể về độ tuổi lao động là khác nhau giữa các quốc gia, thậm chí khác nhau qua các thời kỳ của cùng một quốc gia, tùy thuộc vào trình độ phát triển kinh tế. Ở nước ta, theo quy định độ tuổi lao động là từ 15 đến 60 tuổi đối với nam và từ 15 đến 55 tuổi đối với nữ [18]. Trường hợp người lao động làm công tác quản lý và một số trường hợp đặc biệt khác có thể nghỉ hưu ở tuổi cao hơn nhưng không quá 05 năm. Nguồn lao động luôn được xem xét trên hai mặt là số lượng và chất lượng.
Xét về mặt số lượng, nguồn lao động gồm: - Bộ phận dân số đủ 15 tuổi trở lên có việc làm. 13 - Dân số trong độ tuổi lao động có khả năng lao động nhưng đang thất nghiệp, đi học, làm việc nội trợ trong gia đình, không có nhu cầu làm việc và những người thuộc tình trạng khác (gồm cả những người nghỉ hưu trước tuổi quy định). Chất lượng của nguồn lao động về cơ bản được đánh giá thông qua trình độ chuyên môn, tay nghề (trí lực) và sức khỏe (thể lực) của người lao động [10, 362]. Lực lượng lao động(LLLĐ) hay dân số hoạt động kinh tế theo quan niệm của tổ chức Lao động quốc tế (ILO) là một bộ phận của nguồn lao động bao gồm những người đủ 15 tuổi trở lên đang có việc làm trong các lĩnh vực đời sống KTXH, ngoài ra còn cả bộ phận dân số không trực tiếp tạo ra thu nhập nhưng lại trực tiếp giúp cho người thân, gia đình tạo thu nhập và những người đang trong độ tuổi lao động không có việc làm nhưng có nhu cầu tìm việc làm và luôn sẵn sàng làm việc.
Trên thực tế, đặc biệt là trong lĩnh vực nông nghiệp, vẫn có một số lao động không nằm trong độ tuổi lao động nhưng vẫn tham gia lao động như thiếu niên từ 13 đến 15 tuổi hay nữ trên 55 tuổi và nam trên 60 tuổi. Trong nghiên cứu này, thống kê LLLĐ hay dân số hoạt động kinh tế gồm những người thoả mãn các điều kiện đủ 15 tuổi trở lên đang làm việc (có việc làm) hoặc thất nghiệp trong tuần nghiên cứu, với thời kỳ nghiên cứu là một tuần (7 ngày). Dân số không hoạt động kinh tế theo ILO bao gồm toàn bộ số người từ đủ 15 tuổi trở lên không thuộc bộ phận có việc làm và thất nghiệp. Những người này không hoạt động kinh tế vì các lí do: đang đi học, hiện đang làm công việc nội trợ cho bản thân gia đình, tàn tật không có khả năng lao động, các lý do sức khỏe hoặc ở vào tình trạng khác.2 Đặc điểm của lao động nữ nông thôn LLLĐ nữ nông thôn là một bộ phận của LLLĐ cả nước, sinh sống tại khu vực nông thôn.
Do đặc điểm của LLLĐ nữ khác với nam và sản xuất nông nghiệp có đặc điểm khác với các ngành khác nên lao động nữ nông thôn cũng có những đặc điểm khác biệt biểu hiện ở các mặt sau: - Xét về phương diện giới và giới tính 14 Giới tính chỉ sự khác biệt phổ biến về mặt sinh học giữa nữ giới và nam giới và rất khó thay đổi [17]. Giới chỉ đặc điểm, vị trí, vai trò của nam và nữ trong tất cả các mối quan hệ xã hội. Nói cách khác, giới đề cập đến các quan niệm, thái độ, hành vi, mối quan hệ và tương quan về địa vị xã hội của nữ giới và nam giới trong một bối cảnh xã hội cụ thể, do học hỏi mà có, có thể thay đổi theo thời gian và có rất nhiều khác biệt giữa các nền văn hóa và khu vực địa lý.[17] Với cách nhìn nhận khác biệt về giới từ xã hội nên trong khi nam giới được khuyến khích dành nhiều thời gian, tâm huyết cho công việc, ít bị ràng buộc bởi con cái và gia đình thì phụ nữ trong xã hội hiện đại cần lao động để đóng góp cho kinh tế gia đình nhưng cũng luôn mang trọng trách trong việc chăm sóc con cái, lo toan công việc nội trợ. Điều này ảnh hưởng đến cơ hội trong quá trình tìm việc, làm việc và khả năng đóng góp cho công việc của lao động nữ.
Bên cạnh đó, điều kiện sinh hoạt của lao động nữ thường phức tạp hơn. Do nhiều nguyên nhân chi phối, lao động nữ thường có trình độ học vấn, chuyên môn thấp hơn lao động nam đặc biệt là ở khu vực nông thôn. Nam giới và nữ giới lại có xuất phát điểm, những thuận lợi, khó khăn không giống nhau về thể chất, khả năng tiếp cận cái mới, nắm bắt các thông tin xã hội, tham gia vào các chương trình kinh tế. Sự khác biệt về vị trí trong gia đình, ngoài xã hội, từ tác động của định kiến xã hội, các hệ tư tưởng, phong tục tập quán đối với mỗi giới khác nhau cũng ảnh hưởng đến cơ hội được học tập, tiếp cận việc làm và làm việc của mỗi giới.
[24] - Lao động nông thôn mang tính thời vụ. Đây là đặc điểm đặc thù không thể xóa bỏ được của lao động nông thôn. Tính thời vụ thể hiện rất rõ nét trong quá trình lao động sản xuất của người lao động khi dồn dập khẩn trương, khi nông nhàn không có việc làm. Từ đó đặt ra vấn đề cho việc sử dụng các yếu tố đầu vào của quá trình sản xuất, đặc biệt là vấn đề sử dụng lao động nông thôn một cách hợp lý có ý nghĩa rất quan trọng.
- Lao động nữ nông thôn chiếm tỷ trọng khá lớn và không ngừng gia tăng hằng năm. 15 Nước ta có dân số chủ yếu tập trung ở khu vực nông thôn nên LLLĐ nông thôn cũng chiếm tỷ trọng cao. Theo niên giám thống kê năm 2013, LLLĐ nông thôn là hơn 37 triệu lao động chiếm gần 70% LLLĐ cả nước. Trong giai đoạn từ năm 2011 đến năm 2013, tỷ trọng LLLĐ nữ nông thôn không có sự thay đổi nhiều nhưng vẫn tăng về số tuyệt đối.
Riêng năm 2013, LLLĐ nữ nông thôn là 18.155 nghìn người, chiếm 48,8% LLLĐ nông thôn. [23] Với tiềm năng lớn về lao động, khu vực nông thôn sẽ có LLLĐ nữ dồi dào nhưng cũng tạo ra sức ép lớn cho địa phương trong việc giải quyết việc làm, đảm bảo an sinh xã hội cho người lao động nói chung và lao động nữ nói riêng đồng thời tạo áp lực cho người lao động trong quá trình tìm việc. - Ở khu vực nông thôn, lao động nữ tự làm việc còn chiếm đa số. Lao động nông thôn thường làm việc được trả công hoặc tự làm cho bản thân hay gia đình.
Việc làm được trả công nảy sinh trong quá trình mua bán sức lao động và phụ thuộc và cung, cầu lao động. Điều này khác với trường hợp người lao động tự làm, họ khai thác sức lao động của mình mà không có sự trao đổi. Ở một nước đang phát triển như Việt Nam, phần lớn lao động ở khu vực nông thôn thường làm việc trong phạm vi gia đình và mục đích chính không phải lấy tiền công mà là để góp phần cùng các thành viên khác trong gia đình tăng sản lượng hoặc thu nhập. Đa số họ hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp và có nhiều lao động nữ tham gia.
[10, 375] - Chất lượng nguồn lao động nữ nông thôn chưa cao. Chất lượng của lao động được đánh giá qua trình độ học vấn, chuyên môn kỹ thuật (CMKT), sức khỏe, tác phong, kỷ luật lao động, khả năng thích ứng, nắm bắt khoa học công nghệ. Trình độ học vấn của LLLĐ nữ đang dần được nâng lên song với tốc độ thấp. Theo số liệu từ Niên giám thống kê năm 2011 có 5,8% lao động không biết chữ thì năm 2013 là 5,2%, trong đó có 6,6% lao động nông thôn không biết chữ và tỷ lệ này ở lao động nữ nông thôn là 6,9%, lao động nam nông thôn là 3,4%.
16 Trình độ CMKT của lao động nữ nông thôn đang được cải thiện nhưng còn chậm, hầu hết là lao động giản đơn, công cụ sản xuất lạc hậu, sản xuất chủ yếu dựa vào kinh nghiệm. Điều này gây khó khăn cho lao động nữ nông thôn trong việc áp dụng tiến bộ khoa học vào sản xuất hay tìm việc có thu nhập cao ở các doanh nghiệp. Theo báo cáo Điều tra lao động việc làm Việt Nam năm 2013, tỷ trọng LLLĐ đã qua đào tạo ở nước ta năm 2013 vẫn còn thấp. Trong tổng số 53,2 triệu người từ 15 tuổi trở lên thuộc LLLĐ của cả nước, chỉ có 9,7 triệu người đã được đào tạo, chiếm 18,2% tổng LLLĐ.
Ngược lại, hiện cả nước có hơn 43,5 triệu người (chiếm 81,8% LLLĐ) chưa được đào tạo để đạt một trình độ CMKT nào đó. Trong đó, tỷ lệ LLLĐ nữ đã qua đào tạo luôn thấp hơn lao động nam ở cả khu vực thành thị và nông thôn. Như vậy, nguồn lao động nữ nông thôn của nước ta dồi dào nhưng trình độ học vấn và CMKT còn thấp. 40 37,3% 30,2% 30 20,6% Nam 20 15,7% 13,3% 9,5% Nữ 10 0 Cả nước Thành thị Nông thôn Biểu đồ 1.1: Tỷ lệ LLLĐ đã qua đào tạo theo giới tính năm 2013.
Về sức khoẻ của người lao động, nhìn chung lao động nước ta do thu nhập thấp nên các nhu cầu thiết yếu hàng ngày chưa đáp ứng được một cách đầy đủ, mức độ hiểu biết về chế độ dinh dưỡng còn hạn chế.