đặt vấn đề việc làm vào trung tâm của các chính sách kinh tế xã hội. ILO thực hiện điều này thông qua một loạt các hỗ trợ kỹ thuật và các chương trình xây dựng năng lực, các dịch vụ tư vấn chính sách và nghiên cứu CSVL. Cách tiếp cận của ILO về khía cạnh này dựa trên lập luận hiệu quả kinh tế mà việc gia tăng số lượng việc làm góp phần vào việc sử dụng nguồn nhân lực hiệu quả hơn và tăng trưởng kinh tế. ILO cũng thúc đẩy bố trí CSVL vào trung tâm của việc hoạch định chính sách kinh tế xã hội.
[86] Báo cáo của ILO (2012), về“Monetary policy and employment in developing Asia” (CSVL và tiền tệ ở các nước đang phát triển khu vực châu Á)[70], cung cấp tổng quan về cách tiếp cận các ngân hàng Trung ương của các nước đang phát triển ở khu vực châu Á, đã thúc đẩy sự ổn định kinh tế và việc làm. Bài viết xem xét cách thức các ngân hàng Trung ương quan tâm đến kết quả TTLĐ và chính sách thúc đẩy việc làm của ngân hàng Trung ương. Cuối cùng, bài viết đánh giá tại sao chính sách của các ngân hàng Trung ương không bao gồm CSVL trong các mục tiêu lập pháp của họ, không giống như các ngân hàng Trung ương ở Úc, Châu Âu và Hoa Kỳ. Nghiên cứu của nhóm tác giả Djankov.S và cộng sự (2009), về “Employment laws in developing countries” (Luật việc làm ở các nước đang phát triển)[74] , khảo sát về hiệu quả của luật việc làm ở các nước đang phát triển với các tài liệu và kết quả nghiên cứu từ năm 2004.
Kết quả khảo sát cho thấy, các nước đang phát triển với luật việc làm cứng nhắc có khuynh hướng có các ngành không chính thức lớn hơn và tỷ lệ thất nghiệp cao hơn, đặc biệt là với LĐ trẻ. Một số quốc gia, đặc biệt là ở Đông Âu và Tây Phi gần đây đã trải qua những cải cách quan trọng để làm cho luật việc làm linh hoạt hơn. Ngược lại, một số quốc gia ở Châu Mỹ Latinh đã đưa ra luật việc làm cứng nhắc hơn. Trọng tâm của luật CSVL nằm trong bối cảnh chính sách của chính phủ để đạt được việc làm đầy đủ, công nhân một lý do cụ thể cho chính sách TTLĐ với chính sách kinh tế và công nghiệp và việc điều chỉnh sự mất cân bằng trong cung cầu LĐ, cùng với việc lập kế hoạch có hệ thống chính sách TTLĐ đồng thời, và do đó nó có thể được coi là Luật cơ bản về CSVL.
Ngoài ra, các nghiên cứu: Hill. A (2017), Employment policy in emerging economies: The Indian case (CSVL ở các nền kinh tế mới nổi: trường hợp nước Ấn Độ)[82]; ILO (2017), Youth employment policy summary: Singapore (Tóm tắt CSVL thanh niên của Singapore); Niall O’higgins (2001), Youth unemployment and employment policy: A global perspective (Thất nghiệp ở thanh niên và CSVL: khía cạnh toàn cầu)[102]; ILO- Geneva (2010) Employment policies for social justice and a fair globalization: Recurrent item report on employment (CSVL cho công bằng xã hội và toàn cầu hóa bình đẳng: Báo cáo định kỳ về vấn đề việc làm)[84],…Các nghiên cứu kể trên đều tập trung làm rõ về nội dung của CSVL ở các quốc gia đang phát triển, có nét tương đồng về phát triển KTXH như nước ta. “Chính sách việc làm là chính sách xã hội được thể chế hóa bằng luật pháp của Nhà nước, một hệ thống các quan điểm, chủ trương, phương hướng và biện pháp để giải quyết việc làm cho NLĐ nhằm góp phần bảo đảm an toàn, ổn định và phát triển xã hội.” Đây là cách nhìn nhận khá đầy đủ và toàn diện về chính sách việc làm, được tác giả Nguyễn Hữu Dũng, Trần Hữu Trung khẳng định trong cuốn:“Về Chính sách việc làm ở Việt Nam” năm 1997.[17] Nguyễn Văn Thắng (2013), “Chính sách việc làm cho thanh niên nông thôn vùng thu hồi đất của Hà Nội”[57], luận án đã khái quát cơ sở lý luận về CSVL cho thanh niên nông thôn nói chung và thanh niên nông thôn vùng bị thu hồi đất của Hà Nội nói riêng. Đồng thời chỉ rõ thực trạng CSVL và các yếu tố ảnh hưởng tới CSVL cho thanh niên vùng thu hồi đất của Hà Nội.
Theo Lê Quốc Lý (2016) trong đề tài: “Chính sách phát triển nguồn nhân lực, tạo việc làm và đảm bảo an sinh xã hội đối với đồng bào Khmer vùng tây nam bộ”, tác giả cho rằng: Trên phương diện vĩ mô, CSVL hay CSHTTVL là hệ thống các chủ trương, đường lối, giải pháp của quốc gia và địa phương nhằm khuyến khích tạo chỗ làm việc và điều kiện để có được việc làm. Tuy nhiên, ở phương diện vi mô 11 hay trong thực tiễn, CSVL là tổ hợp các chính sách trực tiếp hoặc gián tiếp góp phần tạo thêm việc làm mới cho nền kinh tế và tạo điều kiện để có nhiều hơn những cơ hội việc làm.[29] Nghiên cứu của Đỗ Đức Quân và Nguyễn Thị Thanh Tâm (2017), “Giáo trình Chính sách kinh tế- xã hội của Việt Nam”, tác giả khẳng định CSVL là một trong những chính sách xã hội cơ bản của nước ta, Nhà nước Việt Nam rất coi trọng các chính sách xã hội, bởi xét cho cùng sự phát triển kinh tế là nhằm nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho con người. [38] Tác giả Hà Anh (2015) đã định hình khung CSVL và CSHTTVL cho NLĐ “ trong cuốn “Những điều cần biết về đào tạo nghề và việc làm đối với lao động nông thôn”[2] Lê Văn Hòa (2016), “Giám sát và đánh giá chính sách công”, đề cập tới các nội dung khái quát của việc đo lường kết quả thực hiện chính sách công. Trong đó, đo lường kết quả thực hiện chính sách công là một quá trình thu thập, phân tích và báo cáo thông tin về kết quả thực hiện chính sách công giúp xác định liệu các kết quả thực hiện chính sách công có phù hợp với mục tiêu và đạt được các mục tiêu chính sách đã tuyên bố hay không.
Các nghiên cứu về “Chính sách hỗ trợ tạo việc làm cho người lao động đi làm việc ở nước ngoài khi về nước” Bài viết: “From Asia to Europe and back: Rapid appraisal of Thai workers travelling to and from European Union, and available assistance” (Từ Châu Á tới châu Âu và trở về: Đánh giá nhanh hành trình di chuyển đến và rời khỏi cộng đồng châu Âu của công nhân Thái Lan, and các hỗ trợ sẵn có dành cho họ) do ILO công bố năm 2012. Nghiên cứu này đã chỉ ra tình hình của LĐ di cư của Thái Lan khhi về nước và đánh giá các chính sách hỗ trợ của chính phủ Thái lan dành cho NLĐ đi làm việc ở nước ngoài trở về. Có một vài tổ chức mà LĐ di cư người Thái Lan có thể tìm tới để nhờ hỗ trợ khi họ làm việc ở nước ngoài và cả khi đã quay trở về nước, bao gồm IOM và ILO để cung cấp sự trợ giúp để tái hòa nhập và tái hòa nhập an toàn, hỗ trợ về mặt pháp lý, kinh tế và xã hội cho NLĐ hồi hương Thái Lan. [85] 12 Nghiên cứu của IOM năm 2008 về “Enhancing the role of return migration in fostering of development” (Nâng cao vai trò của LĐ di cư trở về trong bồi dưỡng phát triển), cho thấy các chính sách quản lý di cư LĐ bao gồm chính sách cho LĐ di cư trở về cần được thực hiện một cách công bằng, minh bạch và hiệu quả.
Quyền con người của người di cư là một thành phần thiết yếu để được bảo vệ trong việc thiết kế và thực hiện các chương trình và chính sách di cư trở lại. Một khía cạnh của LĐ hồi hương là tiềm năng của NLĐ trở về để tăng cường phát triển đất nước. Điều này đòi hỏi phải tạo ra một môi trường thuận lợi cho sự trở lại và tái hòa nhập và cơ hội cho những NLĐ trở về đóng góp cho sự phát triển.[92] Báo cáo của IOM về “Labor migration in Asia: Trends, challenges and policy responses in countries of origin” (Di cư LĐ ở châu Á: xu hướng, thách thức và sự đáp lại chính sách của các quốc gia phái cử LĐ), tóm lược các chính sách và thực tiễn di cư LĐ ở các nước phái cử LĐ lớn ở châu Á như: Băng-la-đét, Trung Quốc, Ấn Độ, Indonesia; Pakistan, Philippine, Srilanka, Thái Lan, Việt Nam.Stella (2012)“The Philippineses and Return Migration: Rapid appraisal of the return and reintegration policies and service delivery” (Phi-líp-pin và LĐ di cư trở về: đánh giá nhanh sự trở về và chính sách hỗ trợ tái hòa nhập, phân phối dịch vụ)[79]; và nghiên cứu “Return migrant entrepreneurship and the migration and development Agenda: A focus on Filipino and Indonesian migrant workers” năm 2016 của tác giả Denise L. Spitzer [108]; Calzado (2007), “Labor migration and development goals: The Philippinese experience” (LĐ di cư và các mục tiêu phát triển: Kinh nghiệm của Phi-líp-pin) [72]; nghiên cứu của Kevil O’Neil (2004), “Labor export as government policy: The case of the Philippineses” (LĐXK với các chính sách của chính phủ: trường hợp của Phi-líp-pin) [104]; các bài viết kể trên đều tập trung phân tích và đánh giá các chính sách hỗ trợ tái hòa nhập cộng đồng cho LĐ Phi-líp-pin từ nước ngoài trở về quê hương.
Cụ thể như sau: Người Philippinese đi di cư LĐ, khi trở về nước họ được tiếp cận và sử dụng gói dịch vụ hỗ trợ của Chính phủ bao gồm: các khoản vay, tư vấn, đào tạo, bồi dưỡng kỹ năng và chương trình học bổng. Theo một khung chương trình cụ thể tập trung vào việc 13 tái hòa nhập cá nhân, nền kinh tế và cộng đồng. Nghiên cứu của Kloppenburg (2012) “Confined mobilites: Following Indonesia migrant workers on their way home” (Sự dịch chuyển bị hạn chế: Theo chân LĐ nhập cư Indonesia trên đường trở về quê hương)[98]; và Farbenblum (2013) với nghiên cứu: “Migrant Workers Access to Justice at Home: Indonesia” (LĐ di trở về tiếp cận với sự công bằng ở quê hương: In-đô-nê-xi-a)[76] phân tích thực trạng LĐ di cư người In-đô-nê-xi-a trở về nước hòa nhập cộng đồng và tiếp cận với các chính sách hỗ trợ tái hòa nhập (dịch vụ hỗ trợ việc làm, tín dụng, đào tạo, tâm lý) tại quê hương. Bên cạnh đó, các nghiên cứu như: IOM năm 2005 với bài viết “Labor migration in Asia: Protection of migrant workers, support services and enhancing development benefits” (Di cư LĐ ở châu Á: bảo vệ LĐ di cư, dịch vụ hỗ trợ và nâng cao phát triển lợi ích)[91]; Abarcar.
Các nghiên cứu này đều cho thấy các vấn đề thách thức 14 trong việc xây dựng chính sách hỗ trợ của các quốc gia Đông Nam Á dành cho nhóm LĐ di cư trở về quê hương. Phân tích các khuyến nghị chính sách và bài học kinh nghiệm được rút ra từ các nước đứng đầu trong danh sách các quốc gia có tỷ lệ NLĐ đi làm việc ở nước ngoài hàng năm.