Tính cấp thiết của đề tài Giáo dục mầm non là bậc học giáo dục đầu tiên trong hệ thống giáo dục quốc dân, có vai trò quan trọng trong việc đặt nền móng cho sự hình thành và phát triển nhân cách toàn diện của trẻ mầm non. Để đáp ứng sự phát triển giáo dục hiện nay, Đảng và Nhà nước ta không ngừng cải cách, đầu tư mạnh mẽ cho việc chăm sóc, giáo dục trẻ em lứa tuổi mầm non. Đảng và Nhà nước ta xác định: Giáo dục là quốc sách hàng đầu và là chìa khóa mở cửa vào tương lai, đó là cơ sở, là động lực để thúc đẩy phát triển xã hội. Chính vì thế, giáo dục có nhiệm vụ: đào tạo cho đất nước những con người năng động, sáng tạo, có tư duy nhạy bén, có tri thức, có kĩ năng và có khả năng giải quyết vấn đề để thích ứng với sự phát triển của xã hội.
Một trong những cơ sở để tạo ra sự chuyển đổi này là ở mỗi người cần có khả năng TNTBT. Nghĩa là người được giáo dục phải có hiểu biết nhất định về bản thân, biết khả năng và hạn chế của mình trong hoạt động để có niềm tin vào bản thân, có thể điều khiển hành vi, hành động của mình trong mối quan hệ với mọi người xung quanh nhằm tạo ra được hiệu quả cao trong hoạt động. Do đó, việc giáo dục TNTBT của mỗi người là vô cùng quan trọng. Tuy nhiên, để thực hiện được điều đó là vấn đề đang được gia đình và xã hội quan tâm.
Trong gia đình, việc nuôi dạy trẻ khỏe mạnh, thông minh, trở thành người có ích cho xã hội đã trở thành yêu cầu, mục tiêu hàng đầu của các bậc làm cha làm mẹ. Thế nhưng, trong cuộc sống hiện nay, không hiếm những sự việc đau lòng xảy ra khiến mọi người không khỏi giật mình, và chính những người làm cha mẹ luôn canh cánh nỗi lo bên mình. Dạy trẻ kĩ năng sống là việc làm thiết thực nhất mà cha mẹ có thể làm cho con. Cùng với sự phối hợp với nhà trường và toàn xã hội, chúng ta có thể giáo dục cho trẻ em những kĩ năng sống cần thiết, trong đó có kĩ năng TNTBT thông qua nhiều hình thức khác nhau.
Trẻ em lứa tuổi mầm non nói chung và trẻ 4 - 5 tuổi nói riêng có nhu cầu cao trong việc nhận thức TGXQ. Hoạt động khám phá MTXQ giúp trẻ hiểu biết sự vật, hiện tượng và con người trong môi trường sống, và chính trong quá trình tìm hiểu, khám phá TGXQ đứa trẻ cũng có nhiều cơ hội trải nghiệm và khám phá chính mình. Trẻ nhận ra chính mình, nhận ra năng lực của mình, biết được những 2 khả năng và giới hạn của mình. Từ đó, trẻ biết tự điều chỉnh hành vi của bản thân.
Do vậy, hoạt động khám phá MTXQ là một trong những hoạt động có ưu thế để rèn luyện kĩ năng TNTBT cho trẻ mẫu giáo. Thực tế, tại các trường mầm non cho thấy: Mặc dù đã được triển khai các hoạt động GD kĩ năng sống cho trẻ. Tuy nhiên, việc rèn luyện kĩ năng TNTBT cho trẻ mẫu giáo 4 - 5 tuổi còn mờ nhạt. Mặc dù, trong chương trình GD mầm non hiện hành, chủ đề tìm hiểu bản thân đã được thực hiện ngay từ độ tuổi nhà trẻ.
Nhưng, do giáo viên chưa xác định đúng đắn về tầm quan trọng của việc giáo dục kĩ năng này cho trẻ. Vì vậy, việc giáo dục kĩ năng TNTBT cho trẻ còn chưa được chú trọng, do đó mà hiệu quả giáo dục chưa cao. Xuất phát từ lí do trên, chúng tôi chọn đề tài: “Rèn luyện kĩ năng tự nhận thức bản thân cho trẻ 4 - 5 tuổi thông qua hoạt động khám phá môi trường xung quanh”. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn 2.
Ý nghĩa khoa học của đề tài - Làm rõ một số vấn đề lí luận cơ bản về kĩ năng TNTBT cho trẻ 4 - 5 tuổi, xác định nội dung TNTBT và vai trò của việc rèn kĩ năng nhận thức bản thân cho trẻ 4 - 5 tuổi. - Xác định cơ sở khoa học của việc xây dựng các biện pháp rèn kĩ năng cho trẻ 4 - 5 tuổi thông qua hoạt động khám phá môi trường xung quanh. Ý nghĩa thực tiễn của đề tài - Bước đầu tìm hiểu về mức độ và biểu hiện kĩ năng TNTBT của trẻ 4 - 5 tuổi tại một số trường mầm non trên địa bàn thị xã Phú Thọ. - Đề xuất một số biện pháp rèn kĩ năng TNTBT cho trẻ 4 - 5 tuổi thông qua hoạt động khám phá MTXQ.
Mục đích nghiên cứu Xây dựng cơ sở lí luận và thực tiễn của việc rèn kĩ năng TNTBT cho trẻ 4 - 5 tuổi thông qua hoạt động khám phá MTXQ. Từ đó, góp phần hình thành các kĩ năng sống cần thiết cho trẻ và phát triển toàn diện nhân cách trẻ. Nhiệm vụ nghiên cứu 4. - Nghiên cứu những vấn đề lí luận về việc rèn kĩ năng TNTBT cho trẻ 4 - 5 tuổi thông qua hoạt động khám phá MTXQ.
- Xác định thực trạng về việc rèn kĩ năng TNTBT cho trẻ 4 - 5 tuổi thông qua hoạt động khám phá MTXQ. Đề xuất một số biện pháp rèn kĩ năng TNTBT cho trẻ 4 - 5 tuổi thông qua hoạt động khám phá MTXQ. Thực nghiệm sư phạm để kiểm nghiệm tính khả thi của một số biện pháp rèn kĩ năng TNTBT cho trẻ 4 - 5 tuổi thông qua hoạt động khám phá MTXQ. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu - Đối tượng nghiên cứu: Quá trình rèn kĩ năng TNTBT cho trẻ 4 - 5 tuổi thông qua hoạt động khám phá MTXQ.
- Phạm vi nghiên cứu: Nghiên cứu trẻ thuộc lớp 4 - 5 tuổi trường mầm non Hùng Vương và trường mầm non Phong Châu - Thị xã Phú Thọ - Tỉnh Phú Thọ. Phương pháp nghiên cứu 6. Phương pháp nghiên cứu lí luận Sưu tầm, đọc, phân tích và tổng hợp những tài liệu có liên quan đến đề tài nghiên cứu và xây dựng hệ thống hóa, khái quát hóa các vấn đề lí luận về việc rèn kĩ năng TNTBT cho trẻ 4 - 5 tuổi thông qua hoạt động MTXQ. Phương pháp nghiên cứu thực tiễn 6.
Phương pháp quan sát Quan sát và ghi chép quá trình giáo dục kĩ năng TNTBT cho trẻ mẫu giáo 4 - 5 tuổi của giáo viên mầm non và biểu hiện tự nhận thức bản thân, 6. Phương pháp đàm thoại - Trao đổi với giáo viên để có thêm thông tin về vấn đề nghiên cứu. - Trò chuyện với trẻ mẫu giáo 4 - 6 tuổi để biết được mức độ và biểu hiện của kĩ năng TNTBT của trẻ. Phương pháp điều tra Anket Sử dụng phiếu Anket bằng hệ thống câu hỏi đóng và mở để điều tra cán bộ quản lí và giáo viên mầm non.
Từ đó, xác định rõ nhận thức của cán bộ quản lí và giáo viên mầm non về một số vấn đề liên quan đến kĩ năng TNTBT của trẻ mẫu giáo 4 - 5 tuổi. Phương pháp thống kê toán học Sử dụng công thức toán học để xử lí số liệu kết quả thu được qua điều tra thực trạng kĩ năng TNTBT của trẻ mẫu giáo 4 - 5 tuổi. Phương pháp thực nghiệm sư phạm Kiểm nghiệm và đánh giá tính khả thi của việc rèn luyện kĩ năng TNTBT cho trẻ mẫu giáo 4 - 5 tuổi thông qua hoạt động khám phá MTXQ. 5 NỘI DUNG Chương1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 1.
Vài nét về lịch sử nghiên cứu vấn đề 1. Những nghiên cứu ở nước ngoài Trong công cuộc đổi mới hiện nay, con người được đặt vào vị trí trung tâm của sự phát triển, là những con người của thế kỉ XXI, của nền văn minh tin học, công nghiệp sinh học, năng lượng mới, vật liệu mới… Do vậy, họ phải có nhân cách, phẩm chất, đáp ứng đòi hỏi của xã hội hiện đại là tích cực, chủ động, linh hoạt, sáng tạo. Một trong những vấn đề quan trọng nhất trong việc nghiên cứu sự phát triển tâm lí của trẻ nói chung và trẻ mầm non nói riêng đó là mối liên quan chặt chẽ đến sự phát triển tự ý thức. Hạt nhân của sự tự ý thức là TNTBT.
Qua tìm hiểu, chúng tôi thấy được rằng: Vấn đề này được rất nhiều người quan tâm. Trên thế giới, đã có rất nhiều tác giả nghiên cứu về vấn đề này. Tựu chung lại, có thể tổng hợp theo hai hướng: * Hướng thứ nhất: Nghiên cứu kĩ năng tự nhận thức là kĩ năng sống cần thiết Trong công trình “Vấn đề tự ý thức trong tâm lí học (1977)” I.Trexnôcôva cho rằng TNT là một thành phần trong cấu trúc của tự ý thức, trong cấu trúc đó gồm 3 mặt thống nhất: nhận thức (tự nhận thức), cảm xúc - giá trị (thái độ đối với bản thân) và hành động - ý chí, điều khiển (tự điều chỉnh) [20]. Việc hình thành và rèn luyện kĩ năng TNTBT cho trẻ được I.Trexnôcôva cho là kĩ năng sống rất cần thiết đối với trẻ.
Nhà tâm lí học người Mĩ D.Mead cho rằng, trong mối tương tác với những người khác trong quá trình hoạt động của mỗi con người trở thành khách thể nhận thức của chính mình. Nhận thức bản thân không được thực hiện trực tiếp mà gián tiếp qua thái độ của cá nhân đó với những người khác trong nhóm người hoặc toàn bộ nhóm nói chung. Ông cho rằng, nguồn gốc hình thành tự ý thức là trò chơi của trẻ. Đầu tiên, đó là những trò chơi lặp lại hành động của người lớn.
Thông qua hoạt động vui chơi, trẻ đã dần hình thành kĩ năng sống đầu tiên, cơ bản cần thiết cho trẻ. Đặc biệt, vấn đề này cũng được các tổ chức trên thế giới quan tâm: Theo tổ chức y tế thế giới WHO [33; tr8] KNS được chia thành ba nhóm: 6 - Nhóm kĩ năng nhận thức: TNTBT, tự đạt mục tiêu và xác định giá trị, kĩ năng tư duy, kĩ năng sáng tạo, kĩ năng ra quyết định và giải quyết vấn đề. - Nhóm kĩ năng liên quan đến cảm xúc: Kĩ năng nhận biết và chịu trách nhiệm về cảm xúc của mình, kĩ năng kiềm chế, kiểm soát được cảm xúc, kĩ năng tự giám sát, tự điều chỉnh cảm xúc cá nhân. - Nhóm kĩ năng xã hội: Kĩ năng giao tiếp, kĩ năng cảm thông, kĩ năng chia sẻ, kĩ năng hợp tác, thích ứng.
Kĩ năng sống bao gồm 10 yếu tố như: tự nhận thức, tư duy sáng tạo, giải quyết vấn đề, kĩ năng giao tiếp ứng xử với người khác, ứng phó với các tình huống căng thẳng và cảm xúc, biết cảm thông, tư duy bình luận và phê phán, cách quyết định, giao tiếp hiệu quả và cách thương thuyết [43].