BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM KỸ THUẬT THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH LUẬN VĂN THẠC SĨ NGUYỄN NGỌC TRÂM TỔ CHỨC DẠY HỌC THEO NHÓM MÔN ĐẠI SỐ 7 TẠI TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ TÂN ĐÔNG HIỆP NGÀNH: GIÁO DỤC HỌC - 601401 S K C0 0 4 7 0 6 Tp. Hồ Chí Minh, tháng 10/2015 Luan van BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM KỸ THUẬT THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH LUẬN VĂN THẠC SĨ NGUYỄN NGỌC TRÂM TỔ CHỨC DẠY HỌC THEO NHÓM MÔN ĐẠI SỐ 7 TẠI TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ TÂN ĐÔNG HIỆP NGÀNH: GIÁO DỤC HỌC - 601401 Tp. Hồ Chí Minh, tháng 10/2015 Luan van PHẦN 2: NỘI DUNG Chƣơng 1: TỔNG QUAN 1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI Giáo dục luôn đƣợc coi là “quốc sách hàng đầu” ở Việt Nam cũng nhƣ nhiều nƣớc trên thế giới.
Một đất nƣớc có nền giáo dục tiên tiến, hiện đại đồng nghĩa với việc sẽ có nền kinh tế - xã hội phát triển mạnh. Chính vì vậy, Việt Nam có thể “sánh vai với các cƣờng quốc năm châu” hay không phụ thuộc chủ yếu vào việc xây dựng nền giáo dục. Mặt khác, Việt Nam đang từng bƣớc trên con đƣờng công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nƣớc. Để đáp ứng nhu cầu này, Đảng và Nhà nƣớc ta đã xác định cần phải đào tạo ra những con ngƣời phát triển toàn diện, năng động, sáng tạo.
Điều này thể hiện rõ trong Nghị quyết Hội nghị lần thứ IV, Ban chấp hành Trung ƣơng Đảng Cộng sản Việt Nam, khóa VII: "Mục tiêu giáo dục – đào tạo phải hƣớng vào đào tạo những con ngƣời lao động có năng lực thích ứng với kinh tế thị trƣờng cạnh tranh và hợp tác, có năng lực giải quyết những vấn đề thƣờng gặp, qua đó góp phần tích cực thực hiện mục tiêu lớn của đất nƣớc là dân giàu, nƣớc mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh". Nghị quyết Hội nghị lần thứ II, Ban chấp hành Trung ƣơng Đảng Cộng sản Việt Nam, khoá VIII tiếp tục khẳng định: "Đổi mới mạnh mẽ PP giáo dục – đào tạo, khắc phục lối truyền thụ một chiều, rèn luyện thành nếp tƣ duy sáng tạo của ngƣời học. Từng bƣớc áp dụng các PP tiên tiến và phƣơng tiện hiện đại vào quá trình dạy học, bảo đảm điều kiện và thời gian tự học, tự nghiên cứu cho HS, nhất là SV Đại học…". Ngành giáo dục nƣớc ta đang thực hiện nhiều đổi mới về dạy học ở trƣờng phổ thông, trong đó đặc biệt quan tâm đổi mới PPDH, theo hƣớng áp dụng những PPDH có nhiều tiềm năng bồi dƣỡng cho HS năng lực tƣ duy sáng tạo, năng lực giải 1 Luan van quyết vấn đề.
Theo mô hình tƣơng tác dạy học lấy học sinh làm trung tâm, việc tổ chức dạy học theo nhóm đã và đang đƣợc quan tâm nghiên cứu. Qua thực tế dạy học giảng dạy môn Đại số 7, ngƣời nghiên cứu nhận thấy đa số HS, nhất là các em có học lực trung bình – yếu chƣa thực sự tập trung, tích cực trong việc học, các em thƣờng rất thụ động, không dám hỏi bạn bè về những vấn đề chƣa nắm vững, và một số nhỏ những em học khá – giỏi thì ít quan tâm, giúp đỡ các bạn học yếu trong lớp. Bên cạnh đó, phân môn Đại số 7 có vai trò quan trọng trong chƣơng trình Toán phổ thông, nó là nền tảng cơ bản của các kiến thức Đại số khác. Vận dụng tổ chức dạy học theo nhóm có ý nghĩa quan trọng trong việc hạn chế tình trạng nêu trên của HS, làm tăng hiệu quả học tập nhất là lúc xuất hiện nhu cầu phối hợp giữa các cá nhân để hoàn thành nhiệm vụ chung.
Ngoài ra, qua đó năng lực của các thành viên đƣợc bộc lộ, tăng tính chủ động, tự tin, hỗ trợ các thành viên quen dần với sự phân công hợp tác trong lao động xã hội. Góp phần thực hiện mục tiêu “lấy học sinh làm trung tâm”, “nâng cao chất lƣợng giảng dạy”. Xuất phát từ thực tế trên, ngƣời nghiên cứu chọn đề tài “Tổ chức dạy học theo nhóm môn Đại số 7 tại trƣờng trung học cơ sở Tân Đông Hiệp”. MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU Nghiên cứu và tổ chức dạy học theo nhóm môn Đại số 7 nhằm nâng cao kết quả dạy và học tại trƣờng trung học cơ sở Tân Đông Hiệp.
NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU Nghiên cứu cơ sở lí luận của PPDH theo nhóm Tìm hiểu về các mô hình tổ chức hoạt động theo nhóm Nghiên cứu chƣơng trình môn Đại số lớp 7 Trung học cơ sở Khảo sát và đánh giá thực trạng về dạy học môn Đại số lớp 7 Trung học cơ sở Thiết kế 4 giáo án trong SGK Đại số 7 có vận dụng PPDH theo nhóm Thực nghiệm sƣ phạm 2 Luan van 1. KHÁCH THỂ VÀ ĐỐI TƢỢNG NGHIÊN CỨU 1. Khách thể nghiên cứu Quá trình dạy học Đại số 7 tại trƣờng Trung học Cơ sở Tân Đông Hiệp - Thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng 1. Đối tƣợng nghiên cứu Phƣơng pháp dạy học theo nhóm trong dạy học Đại số 7 ở trƣờng trung học cơ sở 1.
GIẢ THUYẾT NGHIÊN CỨU Nếu sử dụng phƣơng pháp dạy học theo nhóm trong dạy và học môn Đại số 7 một cách hợp lý thì sẽ rèn luyện kỹ năng làm việc tập thể và phát huy đƣợc tính tích cực học tập của HS, góp phần nâng cao chất lƣợng học tập môn Đại số nói riêng và môn Toán nói chung. GIỚI HẠN ĐỀ TÀI Trong phạm vi của đề tài, ngƣời nghiên cứu tổ chức dạy học theo nhóm 3 bài học trong chƣơng II HÀM SỐ VÀ ĐỒ THỊ phần Đại số, sách giáo khoa Toán 7 tại trƣờng THCS Tân Đông Hiệp – Thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng Phần thực nghiệm tiến hành đối với 2 lớp khối 7 tại trƣờng. PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 1. Phƣơng pháp nghiên cứu lý luận Nghiên cứu cơ sở lý luận về giáo dục học, tâm lý học, lý luận dạy học theo hƣớng dạy học lấy học sinh làm trung tâm.
Nghiên cứu và phân tích các tài liệu liên quan đến đề tài để đƣa ra cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn. Phƣơng pháp nghiên cứu thực tiễn: Phƣơng pháp quan sát điều tra: trao đổi và dự giờ tiết học của giáo viên toán có kinh nghiệm để nắm bắt tình hình thực tế. 3 Luan van Phƣơng pháp chuyên gia: tham khảo ý kiến đóng góp của một số giáo viên có kinh nghiệm. Phƣơng pháp điều tra bằng phiếu hỏi: phát phiếu điều tra xin ý kiến các giáo viên dạy toán và học sinh khối 7.
Phƣơng pháp thực nghiệm sƣ phạm: tiến hành thực nghiệm sƣ phạm ở trƣờng có đối chứng để kiểm tra tính khả thi của luận văn. Hai lần lấy số liệu quan trọng là tiền thực nghiệm và sau thực nghiệm. Phƣơng pháp phân tích dữ liệu định tính. Phƣơng pháp thống kê toán học: Sử dụng phƣơng pháp thống kê toán học để trình bày kết quả thực nghiệm và kiểm định giả thuyết thống kê về sự khác biệt trong kết quả học tập của hai nhóm đối chứng và thực nghiệm.
4 Luan van Chƣơng 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA TỔ CHỨC DẠY HỌC THEO NHÓM 2. TỔNG QUAN VẤN ĐỀ TỔ CHỨC DẠY HỌC THEO NHÓM: 2. Nƣớc ngoài Hoạt động theo nhóm đã có từ rất lâu trong xã hội loài ngƣời. Trong từng thời kỳ lịch sử, hoạt động dạy học đƣợc tổ chức dƣới nhiều hình thức khác nhau.
Dạy học hợp tác (còn đƣợc gọi là dạy học theo nhóm) dựa trên ý tƣởng tất cả cùng làm việc, chia sẻ thông tin với nhau để đạt đƣợc mục đích cuối cùng. Ý tƣởng này đƣợc John Amos Comenius (1592- 1670) đƣa vào lớp học, khi ông cho rằng HS sẽ học đƣợc nhiều hơn từ cách thức học tập nhƣ thế. Sau đó ý tƣởng này xây dựng thành PP, đƣợc phát triển và sử dụng rộng rãi tại vƣơng quốc Anh vào những năm cuối cũa thập niên 70 do Joseph Lancaster (1778- 1838) và Andrew Bell (1726 - 1809) áp dụng. Năm 1806, quan niệm hợp tác đã đƣợc đƣa đến Mỹ mới mục đích làm giảm tính cạnh tranh trong trƣờng học, nó đƣợc sử dụng và phát triển rất nhanh trong giai đoạn này.
Một trong những ngƣời đầu tiên đã rất thành công khi chủ trƣơng đƣa ý tƣởng hợp tác vào lớp học và đƣợc nhiều giới quan chức tham khảo học tập là Colonel Francis Parker. Sau Colonel Francis Parker là James Coleman (1959), ông nhận thấy tầm quan trọng của cách dạy học theo kiểu hợp tác khi tiến hành nghiên cứu các hành vi của HS ở lứa tuổi thanh niên. Vào cuối thế kỷ 19, nhà tâm lý học nhi đồng John Dewey cho rằng chỉ có sự làm việc chung mới giúp cho HS có thói quen trau dồi những kinh nghiệm thực hành có cơ hội phát triển lí luận và năng lực trừu tƣợng hóa Trong khoảng thời gian từ đầu năm 1930 đến năm 1940, nhà tâm lý học xã hội Kurt Lewin đã tạo một dấu ấn mới trong lịch sử phát triển của tƣ tƣởng giáo dục hợp tác khi ông nhấn mạnh đến tầm quan trọng của cách thức cƣ xử trong nhóm khi nghiên cứu hành vi của các nhà lãnh đạo và thành viên trong các nhóm dân chủ. Sau 5 Luan van đó, Mornton Deutsch, một HS của Lewin đã phát triển lý luận về hợp tác và cạnh tranh trên cơ sở “Những lý luận nền tảng” của Lewin.
[14] Elliot Aronson với mô hình lớp học Jigsaw đầu tiên (1978) đã đánh dấu một bƣớc ngoặc quan trọng trong việc hoàn thiện các hình thức dạy học hợp tác. Nhiều công trình nghiên cứu của ông cho thấy rằng thành tích cá nhân cũng nhƣ tập thể luôn luôn cao hơn khi mọi ngƣời hợp tác với nhau thay vì ganh đua. Bởi vì kết quả cạnh tranh khiến cho một ngƣời thành công trên thất bại của ngƣời khác và đƣơng nhiên điều đó làm giảm hiệu quả làm việc, mặt khác môi trƣờng cạnh tranh chú trọng vào việc thúc đẩy ngƣời ta làm việc xuất sắc hơn ngƣời khác, chứ không phải là cùng nhau làm việc tốt. Với 122 nghiên cứu năm 1981 và 193 nghiên cứu năm 1989 về giáo dục hợp tác, Johnson và các cộng sự của mình đã nhận thấy rằng giáo dục hợp tác có nhiều khả năng tạo nên thành công hơn các hình thái tác động khác, kể từ cấp tiểu học đến trung học phổ thông.
Đến năm 1996, lần đầu tiên PPDH hợp tác đƣợc đƣa vào chƣơng trình học chính thức hàng năm của một số trƣờng đại học ở Mỹ. Cho đến cuối thế kỷ 20, các nhà giáo dục cũng nhƣ các giáo viên đã thấy rõ một lợi ích ngày càng lớn của việc hoạt động học tập theo nhóm. Gần đây, David W.Johnson và Roger T.