Chương 1: PHÂN TÍCH KHÁI NIỆM SUY LUẬN, CHỨNG MINH Ở CẤP ĐỘ TRI THỨC BÁC HỌC 1. Khái niệm dẫn nhập trong luận văn: 1. Dẫn nhập chứng minh hình học là gì? Theo chúng tôi, đó là hoạt động có vai trò hình thành cho học sinh các kỹ năng: tự khám phá, tự dự đoán, tự tìm hướng chứng minh và tự đánh giá kết quả. Nếu kết hợp Cabri thì vai trò dẫn nhập thể hiện như thế nào? • Củng cố niềm tin cho học sinh ở những tính chất được SGK thừa nhận (đo đạc dự đoán không chứng minh, có những tính chất được đưa vào không trải qua một pha nào) Có thể dùng Cabri xây dựng tình huống dạy học đủ các pha (tạo cơ hội rèn luyện các kỹ năng trên).
• Tạo tình huống mà pha dự đoán gây nghi ngờ (tức là cho nhiều kết quả) để hs thấy được vai trò của suy luận (hai hình vẽ trên giấy của cùng một học sinh cho hai kết quả khác nhau, hoặc hình vẽ của hai học sinh cho hai kết quả khác nhau dùng Cabri để cho hs thao tác nhiều lần vẫn cho một kết quả tạo nghi ngờ về hình vẽ của hs: đo đạc là chưa chính xác nên phải tìm cách lập luận và tạo hướng để chứng minh: một kết quả lặp đi lặp lại khi hình vẽ được thay đổi, đó chính là kết quả cần chứng minh). • Tạo ra các gợi ý trong chứng minh (hình phẳng đảm bảo đầy đủ tính chất nếu hình vẽ chính xác, quan sát hình cảm nhận được một kết quả nào đó cần cho kết quả sau cùng, cứ như vậy theo một tiến trình quy nạp sẽ tìm được cách chứng minh, ở lớp 7 các bước lập luận thường ngắn). Tìm hiểu bước đầu về khái niệm suy luận trong toán học: Dựa theo nghiên cứu của tác giả trong [22], chúng tôi tóm tắt được các kết quả sau: 1. Định nghĩa: Suy luận là rút ra mệnh đề mới từ một hoặc nhiều mệnh đề đã có Sơ đồ: Suy luận Mệnh đề cũ Mệnh đề mới (Tiền đề) (Kết luận) Ví dụ: Tiền đề: Nếu tam giác có 3 cạnh bằng nhau thì tam giác đó là tam giác đều Trong mỗi tam giác đều, mỗi góc bằng 600 ABC là tam giác có 3 cạnh bằng nhau Kết luận: ABC có A= B= C= 600 1.
Quy tắc suy luận: a) Suy luận không hợp logic: Suy luận không hợp logic là suy luận theo một quy tắc nào đó nhưng ta có thể chỉ ra được trường hợp các tiền đề đều đúng mà kết luận lại sai Ví dụ: Tiền đề 1: Nếu hai góc là đối đỉnh thì hai góc đó bằng nhau Tiền đề 2: Hai góc đã cho là bằng nhau Kết luận: Hai góc đó đối đỉnh Gọi P là mệnh đề “hai góc là đối đỉnh” Q là mệnh đề “hai góc bằng nhau” Khi đó, suy luận theo cấu trúc: Tiền đề 1: P ⇒ Q Tiền đề 2: Q Kết luận: P P ⇒ Q, Q Suy luận này theo quy tắc P Xét P sai, Q đúng thì P ⇒ Q đúng, ta có hai tiền đề P ⇒ Q và Q đúng nhưng kết luận P sai. Do đó đây là suy luận không hợp logic b) Suy luận hợp logic: Suy luận hợp logic là suy luận theo một quy tắc nào đó, nếu các tiền đề đều đúng thì kết luận cũng phải đúng. Khi đó kết luận được gọi là kết luận logic của các tiền đề Ví dụ: Tiền đề 1: Nếu hai góc là đối đỉnh thì hai góc đó bằng nhau Tiền đề 2: Hai góc đã cho là đối đỉnh Kết luận: Hai góc đó bằng nhau Gọi P là mệnh đề “hai góc là đối đỉnh” Q là mệnh đề “hai góc bằng nhau” Khi đó, suy luận theo cấu trúc: Tiền đề 1: P ⇒ Q Tiền đề 2: P Kết luận: Q P ⇒ Q, P Suy luận này theo quy tắc Q Ta có P ⇒ Q đúng mà P đúng nên Q đúng. Vậy kết luận đúng.
Do đó đây là suy luận hợp logic. Khi đó, ta nói Q là kết luận logic của tiền đề P ⇒ Q và P 1. Suy luận diễn dịch (suy diễn): a) Định nghĩa: Suy luận diễn dịch là suy luận theo những quy tắc tổng quát, xác định rằng nếu tiền đề đúng thì kết luận rút ra cũng phải đúng Suy luận diễn dịch là suy luận hợp logic Ví dụ: Tiền đề: Mọi tam giác cân đều có hai góc ở đáy bằng nhau Dạng ∀x , F ( x) với x là tam giác cân MNP là tam giác cân tại M Kết luận: MNP có N = P dạng F ( ∆MNP ) Suy luận này là suy luận diễn dịch với quy tắc tổng quát là: Tiền đề: ∀x, F ( x ) Kết luận: F ( a ) với a là một giá trị xác định của x b) Quan hệ đúng sai giữa tiền đề và kết luận logic: Ví dụ: P ⇒ Q, P Xét quy tắc: Q Khi đó ta có mệnh đề: ( P ⇒ Q ) ∧ P ⇒ Q luôn đúng Thật vậy, Nếu P ⇒ Q đúng và P đúng thì ( P ⇒ Q ) ∧ P đúng nên ( P ⇒ Q ) ∧ P ⇒ Q đúng nên Q đúng Nếu P ⇒ Q sai hoặc P sai thì ( P ⇒ Q ) ∧ P sai nên ( P ⇒ Q ) ∧ P ⇒ Q đúng Giả sử C là kết luận logic của các mệnh đề A và B, tức là mệnh đề A ∧ B ⇒ C luôn đúng. Ta có: + C sai thì A sai hoặc B sai + A sai hoặc B sai thì không xác định được chân trị của C c) Một số quy tắc suy luận quan trọng: • Quy tắc kết luận: P ⇒ Q, P Q Đây là quy tắc suy luận rất phổ biến.
Thường người ta lược bớt một số tiền đề trong suy luận. Ví dụ: P ⇒ Q : nếu một tam giác là tam giác cân thì tam giác đó có hai góc ở đáy bằng nhau P : tam giác ABC là tam giác cân tại A Q: tam giác ABC có B = C • Quy tắc kết luận ngược: P ⇒ Q, Q P Ví dụ: P ⇒ Q : nếu một tam giác là tam giác đều thì tam giác đó có ba góc đều bằng 600 Q : tam giác ABC có góc A ≠ 600 P : tam giác ABC không là tam giác đều • Quy tắc bắc cầu: P ⇒ Q, Q ⇒ R P⇒R P ⇒ Q : nếu tam giác có 3 cạnh bằng nhau thì tam giác đó là tam giác đều Q ⇒ R : nếu một tam giác là tam giác đều thì tam giác đó cân và có 1 góc 600 P ⇒ R : nếu tam giác có 3 cạnh bằng nhau thì tam giác đó cân và có 1 góc 600 • Phép quy nạp hoàn toàn: Sơ đồ: Cho M là tập hợp gồm hữu hạn các phần tử a 1 , a 2 ,… , a n Tiền đề: a 1 có tính chất P P(a 1 ) a 2 có tính chất P P(a 2 ) …. a n có tính chất P P(a n ) Kết luận: Tất cả phần tử của M đều có tính chất P ∀a ∈ M , P ( a ) Đặc trưng: Đây là quy tắc suy luận hợp logic. Quy tắc này dùng để rút ra kết luận dựa trên tất cả các trường hợp (hữu hạn) • Phép quy nạp toán học: Xét hàm mệnh đề P(n) với n là số tự nhiên khác 0.
Để rút ra kết luận P(n) đúng với mọi n thì không thể dùng phép quy nạp hoàn toàn ở trên (do tập số tự nhiên là tập vô hạn phần tử). Trong trường hợp này, phép quy nạp toán học thường được dùng đến. Sơ đồ: Tiền đề 1: P(n) đúng với n=1 Tiền đề 2: Nếu P(n) đúng với n=k thì P(n) đúng với n=k+1 Kết luận: P(n) đúng với mọi n Đặc trưng: Đây là quy tắc suy luận hợp logic. d) Các quy tắc suy luận có các tiền đề dạng S_P: Tiền đề Ký hiệu về tập hợp Mọi S đều là P S⊂P Một số S là P S∩P ≠∅ Mọi S đều không là P S∩P =∅ Một số S không là P S∪P ≠ P 1.
Suy luận nghe có lý: a) Định nghĩa: Suy luận nghe có lý là suy luận không theo một quy tắc tổng quát nào. Các tiền đề dù đúng thì kết luận được rút ra cũng không chắc đúng. Kết luận của suy luận nghe có lý chỉ mang tính dự đoán, giả thiết. b) Phép quy nạp không hoàn toàn: Sơ đồ: Cho A là tập hợp gồm hữu hạn các phần tử a 1 , a 2 , …., a n , là tập con thực sự của tập B Tiền đề: a 1 có tính chất P P(a 1 ) a 2 có tính chất P P(a 2 ) ….
a n có tính chất P P(a n ) Kết luận: Tất cả phần tử của B đều có tính chất P ∀a ∈ B, P ( a ) Đặc trưng: Các tiền đề xác định trên tập A, trong khi lại rút ra kết luận cho các phần tử của tập B. Do đó: • Kết luận có thể đúng, có thể sai. Khi tập B vô hạn thì tính đúng của kết luận càng cao nếu tập A gồm càng nhiều phần tử. • Có thể rút ra nhiều kết luận khác nhau phụ thuộc vào việc xem A là tập con của tập B nào.
c) Phép tương tự: Tương tự nghĩa là giống nhau. Hai đối tượng gọi là tương tự nếu có nhiều tính chất giống nhau (đường tròn và mặt cầu); có vai trò giống nhau (đường thẳng và mặt phẳng); …. Sơ đồ: Tiền đề 1: a có tính chất P Tiền đề 2: b tương tự a Kết luận: b có tính chất P hoặc b có tính chất tương tự tính chất P Đặc trưng: Tùy theo phương diện tương tự mà người ta quan tâm, sẽ có nhiều kết luận khác nhau được rút ra. Các kết luận của phép tương tự chỉ mang tính phỏng đoán.
Với phân tích trên, chúng tôi đặt ra câu hỏi: Những kiểu suy luận nào được chương trình lựa chọn giảng dạy cho học sinh lớp 7? 1. Chứng minh: • Giả sử C là kết luận logic của tiền đề A, B; tức là nếu A và B đúng thì C cũng phải đúng. Khi đó ta nói C đã được chứng minh. • Chứng minh mệnh đề C phải nêu rõ: + C là kết luận logic của các tiển đề + Các tiền đề trên phải đúng Thông thường để chứng minh mệnh đề C ta xuất phát từ 1 mệnh đề đã được thừa nhận hoặc chứng minh tính đúng đắn (định nghĩa, tiên đề, định lý đã biết, ….), dùng một dãy các suy luận để chứng minh các mệnh đề trung gian, sau đó mới chứng minh mệnh đề C.