đặt vấn đề trên, chúng tôi nhận định để gọi một người trong một lĩnh vực nào đó là có kỹ năng thì người đó cần phải đạt các yếu tố sau: - Thứ nhất là tri thức, kinh nghiệm, có tri thức về vấn đề mình cần giải quyết. Kinh nghiệm sẽ giúp thực hiện hành động dễ dàng hơn. - Thứ hai, thực hiện hành động một cách phù hợp trong từng điều kiện, hoàn cảnh cụ thể. - Thứ ba là kết quả, phải đạt được mục đích đề ra ban đầu.
13 Hai là, dựa vào các chỉ báo của tác giả Nguyễn Đức Hưởng về đánh giá mức độ thành thạo của kỹ năng như sau: - Thứ nhất, mức độ hiểu biết về hành động và các thao tác cấu thành hành động. - Thứ hai, tốc độ thực hiện hành động, thực hiện các thao tác cấu thành hành động. - Thứ ba, tính nhịp nhàng trong phối hợp các thao tác cấu thành hành động. - Thứ tư, hiệu quả của hành động.
Khi đánh giá kỹ năng cần phải sử dụng tổng hợp các chỉ báo trên. Nếu chỉ sử dụng một chỉ báo đơn lẻ thì có thể dẫn đến nhầm lẫn (chẳng hạn xem người có tri thức, hoặc người có hành động nhanh hoặc người làm việc có hiệu quả là người có kỹ năng) [25]. Kỹ năng sống Theo UNESCO, kỹ năng sống là năng lực cá nhân giúp cho việc thực hiện đầy đủ các chức năng và tham gia vào cuộc sống hàng ngày. Tổ chức này quan niệm kỹ năng sống gắn với 4 trụ cột của giáo dục: Học để biết gồm các kỹ năng tư duy: giải quyết vấn đề, tư duy phê phán, ra quyết định, nhận thức được hậu quả,.
Học để làm người gồm các kỹ năng cá nhân: ứng phó với căng thẳng, cảm xúc, tự nhận thức, tự tin,. Học để chung sống với người khác gồm các kỹ năng xã hội: giao tiếp, thương lượng, tự khẳng định mình, hợp tác, làm việc nhóm,. Học để làm gồm các kỹ năng thực hiện công việc và các nhiệm vụ: kỹ năng đặt mục tiêu, đảm nhận trách nhiệm,. Theo Bách khoa toàn thư mở Wikipedia: Kỹ năng sống là một tập hợp các kỹ năng mà con người có được thông qua giảng dạy hoặc kinh nghiệm trực tiếp được sử dụng để xử lý những vấn đề, câu hỏi thường gặp trong cuộc sống hàng ngày của con người.
14 Quan niệm của “Tổ chức Y tế thới giới (WHO)” xem Kỹ năng sống là khả năng để có hành vi thích ứng và tích cực, giúp cá nhân có thể ứng xử hiệu quả trước các nhu cầu và thách thức của cuộc sống hàng ngày. Theo Quỹ nhi đồng Liên hợp quốc (UNICEF), kỹ năng sống là cách tiếp cận giúp thay đổi hoặc hình thành hành vi mới. Cách tiếp cận này lưu ý đến sự cân bằng và khả năng tiếp thu kiến thức, hình thành thái độ và kỹ năng. Tác giả Huỳnh Văn Sơn cho rằng: Kỹ năng sống là những kỹ năng tinh thần hay những kỹ năng tâm lý, kỹ năng tâm lý – xã hội cơ bản giúp cá nhân tồn tại và thích ứng với cuộc sống [41].
Theo tác giả Nguyễn Thị Thu Hằng định nghĩa, kỹ năng sống là khả năng cá nhân được thể hiện thông qua hành động làm chủ bản thân, hành động ứng xử tích cực với mọi người xung quanh và ứng phó, giải quyết có hiệu quả các tình huống, vấn đề trong cuộc sống dựa trên những tri thức, thái độ và giá trị mà chủ thể có được [20]. Kỹ năng sống còn có nghĩa là khả năng phân tích tình huống và hành vi, khả năng phân tích hậu quả của hành vi và khả năng tránh một số tình huống nào đó (UNICEF, Thái Lan:1995). Hoặc kỹ năng sống là khả năng ứng phó với các tình huống nguy cơ. để dự phòng đối với các vấn đề về sức khỏe (UNAIDS:1997) [13].
Từ các định nghĩa trên ta thấy kỹ năng sống là kỹ năng riêng của bản thân mỗi người và nhờ có nó mà con người tồn tại, ứng phó và thích nghi với cuộc sống xã hội. Phân loại kỹ năng sống Tùy theo quan niêm của các cá nhân, tổ chức mà có những cách phân loại kỹ năng sống khác nhau: Theo UNICEF: kỹ năng sống gồm có ba nhóm cơ bản Nhóm kỹ năng tự nhận thức và sống với chính mình: tự nhận thức và đánh giá bản thân, kỹ năng xây dựng mục tiêu của cuộc sống, kỹ năng tự bảo vệ bản thân,. 15 Nhóm kỹ năng nhận thức và sống với người khác: kỹ năng thiết lập quan hệ, kỹ năng hợp tác, kỹ năng làm việc nhóm,. Nhóm kỹ năng ra quyết định và làm việc hiệu quả: phân tích vấn đề, nhận thức thực tế, ra quyết định, kỹ năng giải quyết vấn đề,.
Theo UNESCO: kỹ năng sống được chia làm hai nhóm chính Nhóm kỹ năng chung là những kỹ năng cơ bản mà mỗi người cần phải có để thích ứng với cuộc sống chung: kỹ năng nhận thức, kỹ năng xã hội cơ bản,. Nhóm kỹ năng chuyên biệt: kỹ năng sức khỏe và dinh dưỡng, kỹ năng liên quan đến giới tính,. Theo WHO: Nhóm kỹ năng nhận thức: tự nhận thức, kỹ năng tư duy, kỹ năng ra quyết định và giải quyết vấn đề,. Nhóm kỹ năng liên quan đến cảm xúc: kỹ năng kiềm chế và kiểm soát được cảm xúc, kỹ năng nhận biết và chịu trách nhiệm,.
Nhóm KNXH: kỹ năng cảm thông, kỹ năng chia sẻ, kỹ năng giao tiếp, kỹ năng hợp tác,. Theo tác giả Lê Bích Ngọc, có 7 nhóm kỹ năng sống cần giáo dục cho trẻ từ 5 đến 6 tuổi: Kỹ năng vận động Kỹ năng tự phục vụ Kỹ năng tình cảm Kỹ năng giao tiếp Kỹ năng xã hội Kỹ năng ngôn ngữ Kỹ năng nhận thức Dù phân chia theo cách nào đi chăng nữa thì ta thấy KNXH vẫn là một phần qua trọng của kỹ năng sống. Theo WHO, KNXH là một nhóm lớn trong kỹ năng sống; theo UNESCO, KNXH là một trong những kỹ năng cơ bản, cần thiết, bắt buộc phải có của mỗi người; còn theo UNICEF, KNXH nằm lồng trong các 16 nhóm kỹ năng. Điều này chứng tỏ được vị trí, tầm quan trọng của KNXH trong cuộc sống con người rất được quan tâm.
Vì thế mà việc GDKNXH cho mỗi người đặc biệt là cho trẻ là việc làm thiết thực nhất. Giáo dục kỹ năng xã hội 1. Kỹ năng xã hội Trên thế giới cũng như ở Việt Nam có nhiều quan điểm về KNXH khác nhau. Trong bài viết của hai tác giả Jannette Rey và Robert Putnam - đăng trên tạp chí chuyên biệt năm 2002 (Exceptional Parent Magazine, 2002) nói về KNXH: "Kỹ năng xã hội là gì? Kỹ năng xã hội tốt là những công cụ quan trọng cho cuộc sống hằng ngày, nó giúp trẻ em tương tác xã hội một cách hiệu quả và thuận lợi” [67].
Theo UNESCO, KNXH là những kỹ năng cần thiết để chung sống với người khác, gồm có các kỹ năng như: kỹ năng giao tiếp, thương lượng, tự khẳng định mình, kỹ năng hợp tác, kỹ năng làm việc nhóm,. Theo WHO, KNXH gồm những kỹ năng giao tiếp ứng xử, tạo thiện cảm, làm việc nhóm,. Theo quan điểm của tác giả Lê Bích Ngọc thì KNXH gồm có: kỹ năng hợp tác; kỹ năng nhận và hoàn thành nhiệm vụ; kỹ năng thực hiện các quy tắc xã hội; kĩ năng giữ gìn đồ dùng đồ chơi; kỹ năng quý trọng đồng tiền [35]. Trong tài liệu bồi dưỡng thường xuyên các cấp học, của Bộ Giáo Dục và Đào Tạo năm 2013, tác giả Nguyễn Thị Thu Hà cho rằng: “KNXH là những cách thức giải quyết các vấn đề trong cuộc sống xã hội nhằm giúp con người thích nghi và phát triển tốt hơn” [13].
Từ các khái niệm kỹ năng, KNXH của những tác giả trên, ở đề tài này chúng tôi cho rằng: “KNXH là khả năng con người có thể vận dụng những tri thức, kinh nghiệm đã có để giải quyết có hiệu quả các vấn đề nảy sinh trong cuộc sống theo đúng chuẩn mực của xã hội”. 17 Và “KNXH của trẻ Mẫu giáo 5-6 tuổi là khả năng trẻ 5-6 tuổi có thể vận dụng những tri thức, kinh nghiệm đã có để giải quyết có hiệu quả các vấn đề nảy sinh trong cuộc sống theo đúng chuẩn mực xã hội”. Mục tiêu chương trình giáo dục kỹ năng xã hội cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi Ở lứa tuổi Mẫu giáo môi trường xã hội của các em thay đổi nhiều, mở rộng từ gia đình, trường lớp đến cộng đồng xã hội. Vì vậy đòi hỏi trẻ phải có những KNXH phù hợp để thích ứng với từng hoàn cảnh cụ thể.
Đặc biệt ở trẻ Mẫu giáo 5-6 tuổi đã biết hành động phù hợp với mục tiêu trong HĐVC cũng như các hoạt động khác. Trẻ thể hiện sự kiên trì, bền bỉ và biết kiềm chế hơn các tuổi trước. Ở tuổi này sự động viên khuyến khích của người lớn có ảnh hưởng rất tích cực và giúp trẻ tự tin hơn vào bản thân mình. Trẻ muốn khẳng định bản thân, trẻ muốn sống và hành động giống như người lớn.
Thực tế chúng ta thấy, do đặc trưng tâm lý lứa tuổi trẻ 5-6 tuổi rất thích bắt chước người lớn, làm những việc giống như người lớn vì vậy đây cũng là một điều kiện thuận lợi giúp giáo dục các KNXH trẻ, các hành vi văn hóa đạo đức phù hợp chuẩn mực xã hội. Theo Bộ chuẩn phát triển trẻ em 5 tuổi của Bộ Giáo dục và Đào tạo, KNXH được xác định ở các chuẩn và chỉ số sau: Chuẩn 7: Trẻ thể hiện sự nhận thức về bản thân Chỉ số 27: Nói được một sô thông tin quan trọng về bản thân và gia đình; Chỉ số 28: Ứng xử phù hợp với giới tính của bản thân; Chỉ số 29: Nói được khả năng và sở thích riêng của bản thân; Chỉ số 30: Đề xuất trò chơi và hoạt động thể hiện sở thích của bản thân Chuẩn 8: Trẻ tin tưởng vào khả năng của bản thân Chỉ số 31: Cố gắng thực hiện công việc đến cùng; Chỉ số 32: Thế hiện sự vui thích khi hoàn thành công việc; Chỉ số 33: Chủ động làm một số công việc đơn giản hằng ngày; Chỉ số 34: Mạnh dạn nói ý kiến của bản thân.