CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ BIỂU HIỆN THẤU CẢM CỦA SINH VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 1. Lịch sử nghiên cứu thấu cảm 1. Trên thế giới Trên thế giới, “thấu cảm” là một đề tài đã được nhiều nhà khoa học quan tâm và tiến hành các nghiên cứu có liên quan. Qua việc nghiên cứu và tổng hợp tài liệu, người nghiên cứu nhận thấy các nhà khoa học đã tiếp cận khái niệm thấu cảm theo 2 hướng chính.
Một số nhà khoa học có quan điểm xem thấu cảm là một phản ứng cảm xúc (ví dụ là lòng trắc ẩn) đối với một phản ứng cảm xúc khác của người khác (ví dụ nỗi buồn) (Preston, 2002). Rankin, Kramer và Miller cho rằng phản ứng này không phụ thuộc vào sự hiểu biết về lý do tại sao một người nào đó đau khổ, mặc dù nó có thể tạo điều kiện cho việc thấu hiểu và chia sẻ (Rankin, Kramer, Miller, 2005). Nhiều tác giả theo quan điểm này còn tập trung phân biệt thấu cảm với các trạng thái cảm xúc có biểu hiện gần giống như sự lây lan cảm xúc hoặc sự đồng cảm (Wispé, 1987; Omdahl, 1995). Cách tiếp cận này đặt chủ thể ở vai trò bị động, nghĩa là bị rơi vào một trạng thái nào đó do ảnh hưởng bởi cảm xúc của người khác.
Ngược lại, một số nhà khoa học khác như Lawrence, Shaw, Baker, Baron-Cohen, David lại tiếp cận thấu cảm như một thành phần của nhận thức xã hội, nghĩa là sự hiểu biết hoặc khả năng có thể hình dung ra cảm xúc của người khác (Lawrence, Shaw, Baker, Baron-Cohen, David, 2004). Cách tiếp cận này cho thấy tính tích cực khi đặt chủ thể trong vai trò chủ động tìm hiểu và chia sẻ với cảm xúc của người khác. Không dừng lại ở các nền tảng lý luận, trên thế giới cũng đã có nhiều công trình nghiên cứu tạo ra công cụ đo lường sự thấu cảm. Do đặc điểm của đối tượng nghiên cứu diễn ra ở nội tâm và khó quan sát được bởi người khác nên hầu hết các công cụ đều là thang đo tự đánh giá.
Năm 1969, Hogan xây dựng thang đo thấu cảm (Empathy Scale) – được xem là một trong những công cụ đầu tiên đo lường sự thấu cảm – gồm 4 khía cạnh: sự tự tin xã hội, sự nhạy cảm, sự nhạy cảm và sự không tuân theo lề thói (Hogan, 1969). Tuy nhiên nhiều nhà khoa học gần đây cho rằng thang đo này phù hợp hơn cho việc đo lường các kỹ năng xã hội thay vì biểu hiện thấu cảm. Năm 1972, Mehrabian và Epstein xây dựng hoàn chỉnh bộ câu hỏi về thấu cảm (Questionnaire Measure of Emotional Empathy – QMEE), gồm 7 nhóm biểu hiện phản ánh sự thấu cảm về tình cảm hay cảm 5 Luan van xúc (Mehrabian, Epstein, 1972). Năm 2004, Baron-Cohen và Wheelwright công bố kết quả nghiên cứu về khả năng thấu cảm của người người mắc hội chứng Asperger hoặc Tự kỷ chức năng cao, trong đó hai tác giả đã xây dựng thang đo chỉ số thấu cảm (Empathy Quotient – EQ).
Tuy nhiên các tác giả cũng xác nhận thang đo này có thể áp dụng để đo lường sự thấu cảm ở những người bình thường (không mắc phải hai hội chứng kể trên) (Baron-Cohen, Wheelwright, 2004). Với thực tế có nhiều hướng tiếp cận và công cụ đo lường khác nhau để tìm hiểu về thấu cảm, nhóm tác giả Nathan Spreng, Margaret McKinnon, Raymond Mar và Brian Levine đã tạo ra bảng hỏi thấu cảm Toronto (Toronto Empathy Questionnaire – TEQ), kế thừa những điểm chung của các nghiên cứu trước đó về thấu cảm (Nathan Spreng, Margaret McKinnon, Raymond Mar, Brian Levine, 2009). Cùng tư tưởng chọn lọc và kết hợp những điểm chung, Darrick Jolliffe và David P. Farrington đã xây dựng Thang đo thấu cảm cơ bản (The Basic Empathy Scale – BES) để đo lường mức độ thấu cảm cũng như tìm hiểu tương quan giữa thấu cảm và một số yếu tố khác về sinh lý, tâm lý (Darrick Jolliffe, David P.
Ngoài ra có thể kể đến một số thang đo tự đánh giá khác tập trung vào một số đối tượng nhất định như: Thang đo sự đồng cảm về văn hóa dân tộc (Wang, 2003), Thang đo sự đồng cảm của bác sĩ (Hojat, 2001), Thang đo sự đồng cảm của điều dưỡng (Reynold, 2000), và Thang đo sự đồng cảm của thanh thiếu niên Nhật Bản (Hashimot, Shiomi, 2002) (dẫn theo Nathan Spreng, Margaret McKinnon, Raymond Mar, Brian Levine, 2009). Có thể nhận thấy thấu cảm và những vấn đề có liên quan đã được các nhà khoa học trên thế giới quan tâm tìm hiểu từ nửa sau thế kỷ 20. Tuy còn nhiều tranh cãi và chưa có sự thống nhất giữa các quan điểm nhưng lĩnh vực này cũng đã có được một nền tảng lý luận tương đối cùng nhiều công cụ với đa dạng về hướng tiếp cận lẫn đối tượng tìm hiểu. Tại Việt Nam Tại Việt Nam, vấn đề thấu hiểu và chia sẻ cảm xúc với người khác cũng là một đề tài nghiên cứu được nhiều tác giả quan tâm.
Nghiên cứu của tác giả Võ Thị Ngọc Châu tìm hiểu về kiểu quan hệ liên nhân cách của sinh viên đã có những số liệu đáng báo động. Kết quả nghiên cứu cho thấy khoảng 1/3 khách thể nghiên cứu có xu hướng chỉ quan tâm đến cái tôi cá nhân trong các mối quan hệ, bỏ qua cảm xúc, suy nghĩ hay sự đánh giá của người khác (Võ Thị Ngọc Châu, 2002, tr. 6 Luan van Đề tài “Kỹ năng cảm nhận và thể hiện cảm xúc của trẻ 5 tuổi ở một số trường mầm non tại TP.HCM” của tác giả Ngô Thị Thạch Thảo nhấn mạnh vai trò của khả năng cảm nhận cũng như thể hiện cảm xúc trong đời sống. Đồng thời, đề tài cũng tạo dựng nền tảng lý luận vững chắc để khẳng định giá trị của việc giáo dục về cảm xúc, giáo dục về cảm nhận, thể hiện cảm xúc ngay từ giai đoạn mầm non (Ngô Thị Thạch Thảo, 2013) Tác giả Kiều Thị Thanh Trà trong đề tài nghiên cứu “Trí tuệ xã hội của sinh viên trường Đại học Sư phạm TP.HCM” đã tìm hiểu về mức độ thấu cảm, xét trong cấu trúc trí tuệ xã hội của sinh viên.
Kết quả thống kê cho thấy sinh viên trường ĐHSP TP.HCM biểu hiện thấu cảm ở mức khá (ĐTB 53,7) và biểu hiện cao nhất ở việc tôn trọng sở thích, quan điểm của người khác (Kiều Thị Thanh Trà, 2013, tr.89-92) Nhìn chung tại Việt Nam đã có một số tác giả quan tâm đến các vấn đề về cảm xúc, cảm nhận cảm xúc, thể hiện cảm xúc trong các mối quan hệ. Tuy nhiên vẫn chưa có nhiều đề tài nghiên cứu và tìm hiểu sâu về thấu cảm, ở mặt lý luận lẫn thực tiễn. Lý luận về thấu cảm 1. Khái niệm thấu cảm Theo các nhà ngôn ngữ học, thuật ngữ “thấu cảm” (empathy) xuất phát từ từ nguyên là “empatheia”, trong tiếng Hy Lạp (em + pathos) có nghĩa là “nhập vào-cái gì gợi ra cảm xúc ở người khác; đầu thế kỷ 20 đi vào tiếng Anh thành “empathy”, tiếng Đức: Einfühlung.
Từ điển tiếng Việt của tác giả Lưu Văn Hy định nghĩa “thấu cảm là có sự đồng cảm, hiểu nhau” (Lưu Văn Hy, 2009, tr. Trong tiếng Anh, “thấu cảm” có nghĩa tương tự với danh từ “empathy”, nghĩa là chia sẻ với cảm xúc hay trải nghiệm của một ai đó bằng cách hình dung bản thân mình trong vị trị của họ (David Matsumoto, 2009). Thuật ngữ “empathy” chỉ việc thấu hiểu hành vi của người khác trên cơ sở hành vi và trải nghiệm của chính bản thân chủ thể (denotes the understanding of the behavior of another on the basis of one’s own experience and behavior) (Julius Gould – William L.235) Dưới góc độ tâm lý học, tương ứng với mỗi hướng tiếp cận khác nhau đối với thấu cảm, các tác giả có nhiều cách định nghĩa cho khái niệm này. 7 Luan van - Quan điểm xem thấu cảm là kết quả của sự ảnh hưởng cảm xúc Hai tác giả Eisenberg và Miller cho rằng thấu cảm là khi cảm giác của người quan sát khớp với cảm giác của người được quan sát, ví dụ như ai đó cảm thấy sợ hãi khi nhìn thấy nỗi sợ của người khác (Eisenberg – Miller, 1987).
Nhìn nhận thấu cảm ở một cấp độ khác, theo tác giả Stotland, thấu cảm là sự đáp lại trạng thái cảm xúc của người khác, có thể không hoàn toàn giống mà chỉ dừng lại ở mức độ phù hợp với cảm xúc đã quan sát được, ví dụ như xuất hiện sự thương cảm khi nhìn thấy nỗi buồn của ai đó (Stotland, 1969). Đối với tác giả Batson, thấu cảm là sự quan tâm hay lòng trắc ẩn đối với một nỗi đau khổ của người khác (Batson, 1991). - Quan điểm xem thấu cảm là khả năng nhận thức cảm xúc Năm 2006, Karl Albrecht đề xuất mô hình trí tuệ xã hội S., trong đó “thấu cảm” chính là một trong năm thành tố của mô hình này, được tác giả định nghĩa là “khả năng kết nối, cảm thông với những người xung quanh dựa trên sự thấu hiểu và chia sẻ quan điểm, suy nghĩ, cảm xúc, … của họ” (Karl Albrecht, 2006). Tương tự, Peter Salovey và John D.
Mayer cũng xem “thấu cảm” là một trong 5 thành tố của mô hình trí tuệ cảm xúc, được xác định là khả năng đồng cảm, đánh giá đúng, thúc đẩy và truyền cảm hứng, khuyến khích và an ủi người khác (Phan Trọng Ngọ, 2001, tr. Tổ chức Y tế thế giới (WHO) định nghĩa thấu cảm là “hình dung hoàn cảnh sống của người khác mà có khi họ còn xa lạ với ta (dẫn theo Ngô Thị Thạch Thảo, 2013, tr. Theo Đặng Hoàng Giang, “thấu cảm là nhìn thế giới bằng con mắt của người khác, đặt mình vào cuộc đời của họ, để hiểu suy nghĩ và cảm được cảm xúc của họ, và tất cả xảy ra mà không có sự phán xét” (Đặng Hoàng Giang, 2017, tr. Theo tác giả Đào Thị Duy Duyên, “thấu cảm với người khác tức là cảm nhận như thể chúng ta là chính người đó, đặt mình vào vị trí của họ”.
Thấu cảm chính là bước vào thế giới của người khác về mặt quan điểm, nhận thức, tình cảm, cố gắng hiểu để nhìn như cách họ nhìn, tuy nhiên làm điều đó với ý thức mình vẫn là mình chứ không phải mình là người khác (Đào Thị Duy Duyên, 2007, tr. Trong Tâm lý học tham vấn, thấu cảm được mô tả như là một khả năng của nhà tham vấn để bước vào thế giới của thân chủ (Carl Rogers, 1980). Nhà tham vấn không 8 Luan van xúc động, mà là hiểu và cảm nhận về sự kiện xảy ra với thân chủ, bằng góc nhìn của thân chủ.