Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VỀ KỸ NĂNG GIAO TIẾP VỚI TRẺ KHUYẾT TẬT CỦA NHÂN VIÊN CÔNG TÁC XÃ HỘI 1. Nghiên cứu ở nước ngoài 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu về kĩ năng giao tiếp Kỹ năng giao tiếp đã và đang được rất nhiều nhà khoa học ở nhiều lĩnh vực khác nhau quan tâm, vì thế, có nhiều hướng nghiên cứu về kỹ năng giao tiếp, trong luận án chỉ tập trung nghiên cứu một số hướng liên quan. Những nghiên cứu chung về tầm quan trọng của kỹ năng giao tiếp Geogre Herbert Mead (1934), nhà TLH hành vi xã hội người Mỹ là một trong những người sáng lập ra thuyết “tương tác biểu trưng”.
Ông đã xây dựng và phát triển khái niệm “Cái tôi”, “Nhân cách”, “Tương tác”, “Biểu tượng” để nghiên cứu đặc điểm và tính chất đặc thù của mối quan hệ giữa cá nhân và xã hội dẫn theo 77, tr. Theo hướng nghiên cứu này G.Mead đã phát hiện ra vai trò của sự thấu hiểu hành vi của người khác và thông qua sự thấu hiểu đó, cá nhân thay đổi nhận thức, hành vi ứng xử cho phù hợp, từ đó hình thành và phát triển ý thức bản ngã (cái tôi) thông qua sự tương tác xã hội với người khác. Kadushin và Kadushin (1997), cho rằng tầm quan trọng của thông tin liên lạc là sự chia sẻ những suy nghĩ, cảm xúc, thái độ và ý tưởng thông qua việc trao đổi các biểu tượng bằng lời và không lời [64]. Tác giả chỉ ra sự chia sẻ chính là chia sẻ suy nghĩ riêng tư và cảm xúc với những người khác thông qua giao tiếp.Lusier (2008), đã nhấn mạnh các kỹ năng giao tiếp cá nhân đặc biệt quan trọng trong các mối quan hệ của tổ chức.
Mỗi tổ chức không chỉ được tạo ra bởi mục tiêu công việc mà trước hết được tạo ra bởi chính mối quan hệ giữa con người với con người trong tổ chức ấy. Nghiên cứu đã chỉ ra kỹ năng giao tiếp gồm: KN giải quyết xung đột, KN lắng nghe, KN quản lý cảm xúc bản thân, KN suy nghĩ tích cực, KN tạo ấn tượng ban đầu ( là cơ sở để thích nghi với tổ chức) [84]. Giao tiếp giúp cho mỗi tổ chức có được sự gắn kết, mặt khác mọi hoạt động của nhà quản lý đều được thực hiện thông qua quá trình giao tiếp. 8 Tóm lại các tác giả nhấn mạnh KNGT rất quan trọng trong quá trình tương tác, tạo ấn tượng ban đầu và xây dựng mối quan hệ mang lại hiệu quả công việc.
Những nghiên cứu tập trung làm rõ về kỹ năng thành phần của kỹ năng giao tiếp VP.Zakharov cho rằng để có năng lực GT cần có các kĩ năng sau: kỹ năng thiết lập các mối quan hệ trong giao tiếp; kỹ năng biết cân bằng nhu cầu của chủ thể và đối tượng giao tiếp; kĩ năng nghe và biết lắng nghe; kỹ năng tự chủ cảm xúc hành vi; kỹ năng tự kiềm chế và kiểm tra đối tượng GT; kỹ năng diễn đạt dễ hiểu, ngắn gọn, mạch lạc; kỹ năng linh hoạt, mềm dẻo trong GT; kỹ năng thuyết phục trong giao tiếp; kỹ năng điều khiển quá trình giao tiếp [dẫn theo 30, tr83]. Theo tác giả muốn có KNGT phải thực hiện đầy đủ các kỹ năng này, mỗi kỹ năng tác giả đưa ra 3 biểu hiện thành phần và có xây dựng thang đo trắc nghiệm cho từng kỹ năng. Nghiên cứu của V.Zakharov là một cơ sở xây dựng thang đo cho luận án. Nghiên cứu của McCarthy (1978), đã chỉ ra truyền thông là để người nói và người nghe hiểu nhau, để truyền đạt mệnh lệnh đúng tiêu chuẩn, để chia sẻ kiến thức; để người nghe chấp nhận và thống nhất về văn bản được tiếp nhận, phải nói trung thực, chân thành, để người nghe có thể tin tưởng, (McCarthy (1978), tr.272- 357) tác giả nhấn mạnh các yêu cầu về tính dễ hiểu, sự thật, sự đúng đắn, chân thành phải được nghiên cứu [Dẫn theo 81, tr.
Wismer (1998), truyền thông hiệu quả có 3 thành phần:(1) Cảm xúc bản thân, (2) Truyền cảm xúc, (3) Thể hiện hành vi [85, Tr 30-36] nghiên cứu của tác giả chỉ ra rằng truyền thông hiệu quả phụ thuộc vào cảm xúc của người sở hữu thông tin, họ có trách nhiệm truyền thông tin đến người nhận một cách trung thực, cởi mở tập trung vào vấn đề cần giải quyết không tập trung vào thể hiện hành vi của người gửi vì người gửi thường bắt đầu bằng chữ “tôi” có thể người gửi đã đặt một phần cảm xúc chủ quan của mình vào thông điệp. Tác giả 9 cho rằng hai kĩ năng lắng nghe và kĩ năng làm chủ cảm xúc bản thân là rất cần thiết vì nó giúp cho cá nhân hiểu, chia sẻ cảm thông và đưa ra những quyết định đúng đắn. Tuy nhiên để chủ thể đưa ra quyết định đúng đắn thì còn tùy thuộc vào nhiều yếu tố khác như kinh nghiệm, hoàn cảnh… A. Tác giả nhấn mạnh thêm những thành tố giúp nhận ra biểu hiện của từng kĩ năng bộ phận.
Kyrbanova và Ph.Rakhmamlina, cũng chia quá trình giao tiếp thành 3 nhóm lớn: nhóm các kĩ năng định hướng trước khi giao tiếp; nhóm các kĩ năng tiếp xúc xảy ra trong quá trình giao tiếp & nhóm các kĩ năng độc đáo trong giao tiếp theo các định hướng giá trị khác nhau [Trích dẫn theo 30,tr. Theo hai tác giả này thì các kĩ năng trong các thành phần trên bao gồm: kĩ năng nhìn thấy, nghe thấy, tiếp xúc, hiểu biết lẫn nhau, kĩ năng tổ chức, điều khiển quá trình giao tiếp. Waldek et al (2012), đã xác định từ 347 công trình nghiên cứu của 10 tạp chí chuyên ngành trong giai đoạn từ 1/2005 đến tháng 6/2010 tổng hợp có 6 năng lực GT gồm: KNGT giữa các cá nhân; KNGT qua trung gian (văn bản, đa phương tiện…); KNGT nhóm; có khả năng GT nhiệt tình, sáng tạo; KNGT phi ngôn ngữ; KNGT ngôn ngữ nói và kỹ năng lắng nghe [Dẫn theo, 75]. Tuy nhiên để có năng lực GT hiệu quả thì phải do khả năng kết nối của chủ thể vào từng tình huống GT.
Tóm lại các tác giả nghiên cứu đã chỉ ra sự đa dạng về kỹ năng thành phần của KNGT, tuy nhiên tùy từng môi trường GT mà các tác giả xây dựng các KNGT cho phù hợp. Những nghiên cứu về kỹ năng giao tiếp trong lĩnh vực nghề nghiệp Lull Funk và Piersol (1955), hiệu quả làm việc của quản lí phụ thuộc và khả năng giao tiếp bằng miệng, không chỉ là cách triển khai chính sách của công ty mà 10 còn cả cách định hướng cho nhân viên làm việc, cách chia sẻ, động viên, cách trách mắng và áp dụng kỷ luật [75,tr 17-20]. Như vậy đòi hỏi nhà quản lý phải có nhiều kỹ năng, làm tốt cả những công việc họ được phân công và cả những công việc mà nhân viên họ quản lý được phân công. Họ nhạy cảm, trách nhiệm với công việc, là người lắng nghe thấu cảm, chia sẻ chính xác, đầy đủ thông tin đến nhân viên [103].
Nghiên cứu dẫn đến kết luận rằng có mối tương quan giữa truyền thông hiệu quả và các yếu tố sau: năng suất lao động, sự hài lòng cá nhân, các mối quan hệ bổ ích, cách giải quyết vấn đề. Locker (1997), nghiên cứu GT trong lĩnh vực hành chính và kinh doanh diễn ra dưới nhiều hình thức như GT trực tiếp mặt đối mặt, điện thoại, email,. [66] tác giả cho rằng, hiệu quả GT phụ thuộc rất nhiều vào mô hình, mạng lưới GT của mỗi tổ chức vì từ mạng lưới đó sẽ quyết định tính chất của kênh truyền tải thông tin. Tác giả nhấn mạnh đến các KNGT là KN lắng nghe, KN viết, KN trình bày có liên quan chặt chẽ đến kết quả hoạt động của lĩnh vực này.
Tác giả cũng chỉ ra có 9 yếu tố ảnh hưởng đến mối quan hệ trong tổ chức như: luôn mỉm cười, thái độ tích cực, lạc quan, biết quan tâm đến người khác, gọi người đang giao tiếp bằng tên riêng, luôn sẵn lòng giúp đỡ, suy nghĩ trước khi hành động, biết lắng nghe. Trong lĩnh vực kinh doanh thì Jay (2005) đã viết rằng “Giao tiếp hiệu quả nhất chính là biết khi nào phải ngừng nói chuyện và bắt đầu nghe, đặc biệt quan trọng hơn khi những cảm xúc trong đội thống nhất và khi nhân viên đang chia sẻ những ý tưởng” [63,tr 87–90]. Smith (2005), cho rằng sinh viên tốt nghiệp ngành kế toán cần thiết phải có kỹ năng lắng nghe, phi ngôn ngữ. Grey (2010), tuyên bố rằng 91% chuyên gia kế toán xác định giao tiếp bằng ngôn ngữ nói là cần thiết trong lĩnh vực của họ.
Rossetto và Murphy (2010), cần phát triển kỹ năng nghe và kỹ năng đối thoại trực tiếp [Dẫn theo 102]. Các tác giả chỉ ra rằng đối với sinh viên ngành kế toán thì tập trung học 2 kỹ năng chính là lắng nghe và kỹ năng sử dụng phương tiện ngôn ngữ. Tổng quan tình hình nghiên cứu về kĩ năng giao tiếp của nhân viên công tác xã hội với trẻ khuyết tật 1. Những nghiên cứu chung về tầm quan trọng kỹ năng giao tiếp của nhân viên công tác xã hội với trẻ khuyết tật Nghiên cứu của Allen và Wood (1978), cũng chỉ ra rằng chức năng của thông tin liên lạc bao gồm điều khiển, chia sẻ cảm xúc, chia sẻ thông tin, chia sẻ lễ nghĩa và hình tượng…Để hoàn thành những chức năng của thông tin một người có khả năng giao tiếp phải biết hành động như thế nào cho phù hợp, điều này cho rằng phù hợp là tiêu chí để mở rộng ý nghĩa cho năng lực giao tiếp [46, 286 – 292].
Dựa trên lý thuyết của Carl Rogers, Carkhuff và các nhà lý luận tư vấn khác, thì Toseland và Spielberg (1982) [90, tr.66-73] cho rằng, muốn hỗ trợ tiến trình thay đổi của đối tượng trợ giúp thì nhân viên CTXH cần phải có kỹ năng giao tiếp với đối tượng và để tự họ khám phá ra: sự đồng cảm; sự chân thật; sự tôn trọng; sự cụ thể; tự tiết lộ; nhận ra tiềm năng bản thân và tự thực hiện. Tuy nhiên, sự thay đổi như thế nào thì phụ thuộc vào khả năng của cá nhân. Di Blasi et al (2001), đã nghiên cứu điều tra ảnh hưởng của KNGT trong mối quan hệ giữa bác sĩ và bệnh nhân tại các bệnh viện ở Châu Âu, Mỹ và Canada đã kết luận rằng, các chuyên gia giỏi về KNGT tạo ra sự khác biệt tích cực đáng kể đối với sức khỏe của bệnh nhân [54].