Tổng quan luận án

Công trình nghiên cứu "Trí tuệ xã hội của sinh viên sư phạm mầm non" do nghiên cứu sinh Nguyễn Thị Hồng thực hiện tại Trường Đại học Sư phạm Hà Nội năm 2018, dưới sự hướng dẫn khoa học của GS.TS Nguyễn Quang Uẩn và PGS.TS Trần Thị Mỵ Lương, thuộc chuyên ngành Tâm lý học chuyên ngành, mã số 9.01.

Về tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu, tác giả trình bày trên cả hai bình diện lý luận và thực tiễn:

  • Về mặt lý luận: Nghiên cứu trí tuệ xã hội (TTXH) là một hướng đi bổ sung cho việc nghiên cứu trí thông minh (IQ), trí tuệ cảm xúc (EQ) và trí tuệ sáng tạo. Nếu trí tuệ cảm xúc tiếp cận năng lực ở góc độ cá nhân đơn lẻ, thì trí tuệ xã hội mở rộng phạm vi ra nhóm cá nhân, lý giải các tác động tương tác đa chiều trong đời sống. TTXH đóng vai trò nền tảng đối với các ngành nghề thường xuyên tiếp xúc giữa người với người như giáo viên, bác sĩ, nhân viên bán hàng, nhà quản lý.
  • Về mặt thực tiễn: Việc chỉ sử dụng chỉ số IQ để đo lường khả năng của con người đã bộc lộ nhiều hạn chế trong những thập kỷ gần đây, dẫn tới sự đồng thuận ngày càng cao với thuyết đa trí tuệ của H. Gardner. Tại Việt Nam, TTXH là vấn đề còn mới và chưa có nhiều công trình nghiên cứu, đặc biệt trong lĩnh vực đào tạo sư phạm mầm non. Giáo viên mầm non là người tiếp xúc trực tiếp và ảnh hưởng lớn đến trẻ. Nền tảng kỹ năng sư phạm của giáo viên mầm non bắt nguồn từ các năng lực thuộc trí tuệ xã hội, hỗ trợ giáo viên nắm bắt tâm lý trẻ, xử lý tình huống sư phạm, điều chỉnh hành vi và thích ứng nghề nghiệp. Trong khi đó, thực tiễn giáo dục ghi nhận một số hiện tượng giáo viên có hành vi ứng xử thiếu chuẩn mực, bạo hành trẻ em, xuất phát từ sự hạn chế về trí tuệ xã hội trong nghề nghiệp. Đến thời điểm tác giả thực hiện luận án, chưa có công trình nào nghiên cứu chuyên biệt về TTXH của sinh viên sư phạm mầm non (SV SPMN).

Mục đích nghiên cứu: Làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn về TTXH của SV SPMN; từ đó đề xuất các biện pháp tác động tâm lý - sư phạm nhằm góp phần rèn luyện và phát triển TTXH cho đối tượng này.

Hệ thống giả thuyết khoa học của luận án gồm ba giả thuyết:

  1. Trí tuệ xã hội của sinh viên sư phạm mầm non ở mức độ trung bình và được biểu hiện không đồng đều. Trong đó, năng lực nhận thức xã hội được biểu hiện tốt nhất, năng lực giải quyết hiệu quả các tình huống xã hội biểu hiện kém nhất. Có sự khác biệt ý nghĩa về biểu hiện và mức độ TTXH giữa các tham số nghiên cứu như cơ sở đào tạo, năm học và học lực.
  2. Trí tuệ xã hội ở sinh viên sư phạm mầm non chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố chủ quan và khách quan, trong đó tính tích cực hoạt động, rèn luyện và lòng yêu nghề, yêu trẻ là hai yếu tố có ảnh hưởng lớn nhất.
  3. Có thể nâng cao mức độ trí tuệ xã hội của SV SPMN bằng cách tăng cường tổ chức các hoạt động rèn luyện nghiệp vụ sư phạm và tăng cường tổ chức các hoạt động trải nghiệm.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Biểu hiện và mức độ trí tuệ xã hội của sinh viên sư phạm mầm non.
  • Khách thể nghiên cứu: 511 sinh viên sư phạm mầm non hệ đại học từ năm thứ nhất đến năm thứ tư và 40 giảng viên giảng dạy chuyên ngành sư phạm mầm non, chuyên gia về trí tuệ xã hội.
  • Giới hạn nội dung: Nghiên cứu TTXH thông qua giao tiếp trong học nghề và hoạt động trong học nghề của sinh viên sư phạm mầm non.
  • Địa bàn nghiên cứu: Trường Đại học Sư phạm Hà Nội và Trường Đại học Hồng Đức. Thời gian hoàn thành luận án: năm 2018.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Tác giả luận án đã hệ thống hóa lịch sử nghiên cứu trí tuệ xã hội trên thế giới và tại Việt Nam qua các giai đoạn:

Các hướng nghiên cứu ở nước ngoài

Tác giả khái quát các công trình quốc tế thành 6 hướng tiếp cận chính:

  1. Hướng xác định khái niệm TTXH:
    • E. Thorndike (1920) lần đầu đưa ra khái niệm TTXH trên tạp chí Harper’s Magazine, phân chia trí tuệ thành trí tuệ trừu tượng, trí tuệ cơ học và trí tuệ xã hội (năng lực hiểu, quản lý con người và cư xử khôn ngoan trong các mối quan hệ người - người). Quan điểm đa trí tuệ này đã dẫn đến cuộc tranh luận kéo dài 25 năm (1920 - 1945) với Spearman.
    • D. Wechsler (1939, 1958) bác bỏ sự tồn tại độc lập của TTXH, xem đây chỉ là trí tuệ chung áp dụng vào tình huống xã hội thông qua bài trắc nghiệm WAIS.
    • J. F. Kihlstrom và N. Cantor (1987, 1989, 2000) định nghĩa TTXH là vốn kiến thức của cá nhân về thế giới xã hội để điều tiết các nhiệm vụ cuộc sống.
    • M. O’Sullivan, J. P. Guilford, R. deMille (1965) coi nhận định về hành vi là năng lực đánh giá con người.
    • M. Ford và M. Tisak (1983) định nghĩa TTXH là năng lực giải quyết các tình huống xã hội cụ thể.
    • H. Gardner (1983) trong lý thuyết Đa trí tuệ xác định "trí tuệ về người khác" gắn liền với chức năng của thùy trán.
    • R. Sternberg phân tích trí tuệ thực tiễn thông qua việc thu nhận kiến thức ngầm (Tacit Knowledge). M. Amelang và D. Bartussek (1990) cấu trúc TTXH gồm tự nhận thức, năng lực xã hội và trí tuệ cảm xúc. P. Salovey và J. Mayer (1990) định nghĩa trí tuệ cảm xúc là một dạng của TTXH.
    • H. Eysenck (1988) đề xuất mô hình trí tuệ 3 tầng bậc: trí tuệ sinh học, trí tuệ tâm trắc và trí tuệ xã hội.
  2. Hướng nghiên cứu cấu trúc TTXH: Tiêu biểu là mô hình cấu trúc 3 chiều của J. P. Guilford (1967) với 120 nhân tố, trong đó khu vực hành vi tương tác với TTXH gồm 30 năng lực. J. P. Guilford và cộng sự chia cấu trúc TTXH thành hai nhóm: hiểu hành vi người khác (gồm 6 năng lực nhận thức) và ứng phó với hành vi người khác (gồm 6 năng lực sản phẩm phân kỳ).
  3. Hướng nghiên cứu phương pháp đo lường TTXH: Điển hình là trắc nghiệm George Washington Social Intelligence Test (GWSIT) do F. A. Moss và cộng sự (T. Omwake, Ronning, Hunt) xây dựng năm 1927 và hiệu chỉnh các năm 1949, 1955; trắc nghiệm 6 nhân tố của J. P. Guilford và M. O’Sullivan (1965); trắc nghiệm Chapin Social Insight Test của F. Chapin (1942); Dymond Rating Tests của R. Dymond (1949, 1950); Role-taking Test của M. Neale (1969); các thực nghiệm giải mã tín hiệu phi ngôn ngữ của D. Smith (1985).
  4. Hướng tiếp cận tiềm ẩn (implicit approach): Nghiên cứu quan niệm tiềm ẩn của con người về TTXH qua các công trình của R. J. Sternberg (1981), K. Miura (1983), K. Mauthe (1998 - khảo sát 40 tù nhân tại Trung tâm cải tạo Alberta), Tony Buzan (2002, 2013 - mô tả 7 phẩm chất TTXH), Karl Albrecht (2006 - mô hình S.P.A.C.E gồm: Situational Awareness, Presence, Authenticity, Clarity, Empathy), Daniel Goleman (2006 - phân chia thành nhận thức xã hội và năng lực xã hội).
  5. Hướng nghiên cứu lý luận khác: Gắn TTXH với chẩn đoán thiểu năng trí tuệ (S. Greenspan, 1979); gắn với hội chứng tự kỷ và lý thuyết tâm trí (S. Baron-Cohen, U. Frith); gắn với trí tuệ nhân tạo (W. Skvoretz).
  6. Các nghiên cứu thực nghiệm tiêu biểu: G. Wagaman (1973); Sameer Babu M. và Jamia Millia Islamia (2007 - khảo sát 84 học sinh tại Malappuram, Ấn Độ); Noorje Meijs, Antonius H. Cillessen, Spijkerman (2008 - khảo sát 512 vị thành niên Tây Bắc châu Âu); Qingwen Dong, Randall J. Koper, Christine M. Collaco (2008 - khảo sát 419 sinh viên tại Hoa Kỳ); Manisha Goel và Preeti Aggarwal (2012 - khảo sát 80 học sinh tại NCR, Ấn Độ); Soleiman Y. Ismail, Md Yunus (2012 - khảo sát 203 giáo viên tại Malaysia, Ấn Độ, Trung Quốc); Duvnjak và Jasna Bajraktarević (khảo sát 280 sinh viên tại Mostar).

Nghiên cứu trong nước và vị trí của luận án

Tại Việt Nam, các nghiên cứu về TTXH còn tương đối khiêm tốn:

  • Trần Kiều và cộng sự (2005) trong đề tài cấp Nhà nước KX-05-06 đã định nghĩa TTXH là năng lực hoàn thành nhiệm vụ trong hoàn cảnh tương tác với người khác.
  • Nguyễn Công Khanh và cộng sự (2011) nghiên cứu chỉ số SQ trên 1389 sinh viên Trường ĐHSP Hà Nội và ĐHSP Thái Nguyên, thiết lập mô hình cấu trúc 4 thành tố.
  • Huỳnh Văn Sơn và cộng sự (2011) khảo sát nhận thức về TTXH của 400 phụ huynh có con từ 6 - 11 tuổi tại TP. Hồ Chí Minh.
  • Kiều Thị Thanh Trà (2017) khảo sát đặc điểm TTXH của 866 sinh viên Trường ĐHSP TP. Hồ Chí Minh theo mô hình S.P.A.C.E.

Khoảng trống nghiên cứu được lựa chọn giải quyết: Các nghiên cứu trong nước trước đó mới dừng lại ở khảo sát nhận thức của phụ huynh hoặc sinh viên sư phạm nói chung. Chưa có công trình nào đi sâu nghiên cứu lý luận và đánh giá thực trạng biểu hiện, mức độ TTXH ở sinh viên sư phạm mầm non - đối tượng đào tạo đặc thù gắn liền với sự phát triển tâm lý lứa tuổi mầm non. Luận án lựa chọn giải quyết khoảng trống này bằng cách xây dựng mô hình cấu trúc, bộ công cụ đo lường và thực nghiệm biện pháp tác động chuyên biệt cho SV SPMN.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết và khái niệm công cụ

  • Khái niệm trí tuệ: Luận án phân tích ba nhóm quan điểm: (1) trí tuệ là khả năng lao động và học tập (Ananhiev, Ackerman); (2) đồng nhất trí tuệ với tư duy trừu tượng (Phạm Hoàng Gia, R. Sternberg); (3) trí tuệ là khả năng thích ứng (J. Piaget, D. Wechsler, Rieunier, W. Stern, H. Gardner, Sillamy). Luận án xác định: Trí tuệ là phức hợp các năng lực nhận thức, khả năng sáng tạo và khả năng làm chủ cảm xúc của con người trong xã hội, được hình thành và phát triển trong hoạt động, do điều kiện văn hóa - lịch sử quy định.
  • Khái niệm trí tuệ xã hội của luận án: Kế thừa quan điểm của E. Thorndike, J. P. Guilford và Nguyễn Công Khanh, tác giả xác định: Trí tuệ xã hội là năng lực phức hợp bao gồm năng lực nhận thức xã hội, năng lực thiết lập và duy trì các mối quan hệ xã hội, năng lực hòa nhập, năng lực thích ứng với hoạt động trong môi trường xã hội và khả năng giải quyết hiệu quả các tình huống trong sự tương tác xã hội với người/nhóm người khác.

Bảng tổng hợp mô hình cấu trúc trí tuệ xã hội của một số tác giả tiêu biểu được luận án điểm lại:

Tác giả Năm Mô hình cấu trúc trí tuệ xã hội
E. Thorndike 1920 Năng lực hiểu biết, quản lý con người; hành vi khôn ngoan trong quan hệ người - người.
F. A. Moss và cộng sự 1927, 1955 Năng lực biết chung sống với người khác (phán đoán tình huống, nhớ tên và mặt, quan sát hành vi, nhận biết trạng thái qua từ ngữ/khuôn mặt, cảm nhận sự hài hước).
P. E. Vernon 1933 Hiểu biết xã hội, nhạy cảm với thông điệp từ người khác, hòa nhập cộng đồng và giải quyết vấn đề xã hội.
S. Greenspan 1979 Mô hình thứ bậc gồm: Sự nhạy cảm xã hội, Hiểu biết xã hội và Giao tiếp xã hội.
M. Amelang & D. Bartussek 1990 3 thành tố: Tự nhận thức bản thân, Năng lực xã hội và Trí tuệ cảm xúc (hạt nhân).
Daniel Goleman 2006 2 nhóm thành phần: Nhận thức xã hội (đồng cảm sơ khai, hòa điệu, đồng cảm có ý thức, ý thức xã hội) và Năng lực xã hội (đồng điệu, tự thể hiện, ảnh hưởng, quan tâm lo lắng).
Karl Albrecht 2006 Mô hình S.P.A.C.E: Nhận thức tình huống, Thể hiện bản thân, Tạo sự tín nhiệm, Giao tiếp hiệu quả, Thấu cảm.
Tony Buzan 2013 7 phẩm chất: Tầm nhìn, tự tin, quan tâm, tôn trọng, thái độ tích cực, sử dụng ngôn ngữ cơ thể, biết lắng nghe.
Nguyễn Công Khanh 2011 4 thành tố: Nhận thức xã hội; Thiết lập, duy trì quan hệ xã hội; Thích ứng hòa nhập môi trường mới; Giải quyết vấn đề trong tương tác xã hội.

Kế thừa mô hình của Nguyễn Công Khanh nhưng điều chỉnh cho phù hợp với hoạt động đào tạo mầm non, tác giả luận án xác lập mô hình cấu trúc TTXH của SV SPMN gồm 5 thành tố:

  1. Năng lực nhận thức xã hội;
  2. Năng lực thiết lập và duy trì các mối quan hệ xã hội;
  3. Năng lực hòa nhập môi trường giáo dục mầm non;
  4. Năng lực thích ứng với hoạt động trong giáo dục mầm non;
  5. Năng lực giải quyết các tình huống xã hội trong giáo dục mầm non.

Nguyên tắc tiếp cận và phương pháp nghiên cứu

Luận án vận dụng ba nguyên tắc tiếp cận:

  • Nguyên tắc hoạt động: TTXH hình thành và biểu hiện qua việc tham gia các hoạt động xã hội, chịu sự tác động tương hỗ giữa sinh viên và môi trường học tập, rèn luyện.
  • Nguyên tắc hệ thống: Xem TTXH là một cấu trúc tâm lý trọn vẹn gồm 5 thành tố liên kết chặt chẽ trong cấu trúc nhân cách, chịu tác động bởi hệ thống các yếu tố chủ quan và khách quan.
  • Nguyên tắc phát triển: TTXH biến đổi và phát triển theo sự trưởng thành nhân cách, sự tích lũy kinh nghiệm nghề nghiệp qua các năm học, không mang tính bẩm sinh bất biến.

Hệ thống phương pháp nghiên cứu thực tế gồm:

  • Phương pháp nghiên cứu tài liệu, văn bản: Thu thập, phân tích, tổng hợp các tài liệu lý luận trong và ngoài nước.
  • Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn:
    • Điều tra bằng bảng hỏi: Sử dụng Phiếu trưng cầu ý kiến (thang đo tự đánh giá) xây dựng theo ma trận các tiêu chí của 5 thành tố.
    • Phương pháp giải bài tập tình huống: Sử dụng thang đo bài tập đo nghiệm tình huống giả định trong giáo dục mầm non.
    • Phương pháp quan sát: Theo dõi hành vi, thái độ ứng xử của sinh viên trong học tập và rèn luyện nghiệp vụ.
    • Phương pháp phỏng vấn sâu: Phỏng vấn giảng viên, chuyên gia và sinh viên để thu thập thông tin định tính bổ trợ.
    • Phương pháp phân tích chân dung tâm lý điển hình: Lựa chọn phân tích sâu 3 trường hợp đại diện cho 3 mức độ TTXH (cao, trung bình, thấp).
  • Phương pháp thực nghiệm tác động sư phạm: Thiết kế các biện pháp rèn luyện nghiệp vụ sư phạm và hoạt động trải nghiệm nhằm kiểm định khả năng phát triển TTXH của sinh viên.
  • Phương pháp xử lý số liệu bằng thống kê toán học: Sử dụng các đại lượng thống kê cơ bản như điểm trung bình (ĐTB), độ lệch chuẩn (ĐLC), kiểm định độ tin cậy của thang đo, phân tích tương quan và so sánh trước - sau thực nghiệm.

Khách thể và nguồn dữ liệu: Điều tra thực tiễn trên mẫu 511 sinh viên sư phạm mầm non hệ đại học (từ năm thứ nhất đến năm thứ tư) tại hai cơ sở đào tạo là Trường Đại học Sư phạm Hà Nội và Trường Đại học Hồng Đức, cùng 40 giảng viên chuyên ngành SPMN và chuyên gia tâm lý.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Cơ sở lý luận về trí tuệ xã hội của sinh viên sư phạm mầm non

Chương 1 tập trung giải quyết nhiệm vụ xây dựng cơ sở lý luận cho toàn bộ công trình:

  • Phân tích và hệ thống hóa các cách tiếp cận lý thuyết về trí tuệ và trí tuệ xã hội trên thế giới và tại Việt Nam.
  • Xác định đặc điểm tâm lý của sinh viên sư phạm mầm non: Sinh viên SPMN thuộc lứa tuổi thanh niên sinh viên, đang trong quá trình định hình nhân cách nghề nghiệp; hoạt động học nghề đòi hỏi sự phối hợp giữa tri thức khoa học, kỹ năng chăm sóc giáo dục trẻ mầm non và kỹ năng giao tiếp ứng xử sư phạm.
  • Xác định các yêu cầu nghề nghiệp đối với giáo viên mầm non tương lai: Đòi hỏi tính kiên nhẫn, lòng yêu nghề mến trẻ, sự nhạy cảm trong việc nhận biết nhu cầu của trẻ và kỹ năng xử lý các xung đột, tình huống sư phạm phát sinh hằng ngày.
  • Xây dựng định nghĩa, cấu trúc 5 thành tố của TTXH ở SV SPMN và hệ thống hóa các chỉ báo biểu hiện cụ thể của từng thành tố trong môi trường giáo dục mầm non.
  • Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến TTXH của SV SPMN, chia thành hai nhóm:
    • Nhóm yếu tố chủ quan: Tính tích cực hoạt động, rèn luyện; lòng yêu nghề, yêu trẻ; mức độ tự nhận thức; học lực; nhu cầu giao tiếp.
    • Nhóm yếu tố khách quan: Môi trường giáo dục tại trường sư phạm; phương pháp giảng dạy và rèn luyện của giảng viên; môi trường thực tế tại trường mầm non; gia đình, bạn bè và bối cảnh kinh tế - xã hội.

Chương 2: Tổ chức và phương pháp nghiên cứu

Chương 2 trình bày quy trình thiết kế, triển khai nghiên cứu và chuẩn hóa công cụ đo:

  • Quy trình tổ chức nghiên cứu gồm 3 giai đoạn:
    • Giai đoạn 1: Xây dựng cơ sở lý luận, thiết kế công cụ đo lường mức độ TTXH của SV SPMN (bảng hỏi tự đánh giá và bài tập tình huống đo nghiệm).
    • Giai đoạn 2: Nghiên cứu thực trạng biểu hiện và mức độ TTXH của 511 SV SPMN tại Đại học Sư phạm Hà Nội và Đại học Hồng Đức; phân tích các yếu tố ảnh hưởng.
    • Giai đoạn 3: Tổ chức thực nghiệm biện pháp tác động tâm lý - sư phạm rèn luyện, phát triển TTXH cho sinh viên.
  • Thiết kế công cụ và kiểm tra độ tin cậy: Xây dựng ma trận thang đo Phiếu trưng cầu ý kiến và ma trận thang đo giải bài tập tình huống; kiểm định độ tin cậy và độ phân biệt của các thang đo trước khi tiến hành điều tra diện rộng.
  • Thiết kế hệ thống thang điểm và tiêu chí phân loại mức độ TTXH của SV SPMN thành các mức: cao, trung bình, thấp.

Chương 3: Kết quả nghiên cứu thực tiễn trí tuệ xã hội của sinh viên sư phạm mầm non

Chương 3 công bố toàn bộ dữ liệu khảo sát thực trạng, kết quả phân tích yếu tố ảnh hưởng, chân dung tâm lý và kết quả thực nghiệm:

  • Đánh giá chung thực trạng:
    • Qua thang đo tự đánh giá: Phân tích mức độ TTXH tổng thể và mức độ của 5 thành tố; so sánh mức độ theo cơ sở đào tạo (Trường Đại học Sư phạm Hà Nội và Trường Đại học Hồng Đức), theo năm đào tạo (từ năm thứ nhất đến năm thứ tư) và theo kết quả học lực.
    • Qua thang đo bài tập tình huống: Phân tích kết quả giải quyết các tình huống trên toàn mẫu và theo từng thành tố cụ thể (nhận thức xã hội, thiết lập - duy trì quan hệ, hòa nhập môi trường GDMN, thích ứng hoạt động GDMN, giải quyết tình huống xã hội).
    • Tương quan giữa kết quả tự đánh giá và kết quả giải bài tập tình huống: Đối chiếu giữa nhận thức tự đánh giá của sinh viên với năng lực hành vi thực tế khi giải quyết các tình huống giả định. Phân tích tương quan giữa các thành tố cấu thành TTXH.
  • Thực trạng các yếu tố ảnh hưởng:
    • Đánh giá mức độ ảnh hưởng của nhóm yếu tố chủ quan và nhóm yếu tố khách quan. Kết quả chỉ ra tính tích cực rèn luyện và lòng yêu nghề, yêu trẻ là hai yếu tố chủ quan có ảnh hưởng mạnh nhất.
    • Dự báo xu hướng biến đổi mức độ ảnh hưởng của các yếu tố đến TTXH của SV SPMN.
  • Phân tích chân dung tâm lý điển hình: Đi sâu phác họa 3 trường hợp đại diện:
    • Sinh viên Nguyễn Thị H.: Thể hiện mức độ trí tuệ xã hội ở mức cao.
    • Sinh viên Vi Thị N.: Thể hiện mức độ trí tuệ xã hội ở mức trung bình.
    • Sinh viên Hoàng Thanh Th.: Thể hiện mức độ trí tuệ xã hội ở mức thấp.
  • Thực nghiệm tác động: So sánh kết quả đo đạc mức độ TTXH của sinh viên trước thực nghiệm (TTN) và sau thực nghiệm (STN) thông qua thang đo bài tập tình huống; phân tích hiệu quả tác động theo từng năm đào tạo; khẳng định tính khả thi của các biện pháp rèn luyện nghiệp vụ và hoạt động trải nghiệm sư phạm.

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp về mặt lý luận tâm lý học

  • Xây dựng và chuẩn hóa các khái niệm công cụ: Khái niệm "Trí tuệ xã hội" và "Trí tuệ xã hội của sinh viên sư phạm mầm non" dưới góc độ tiếp cận năng lực của tâm lý học.
  • Xác lập mô hình cấu trúc TTXH của SV SPMN gồm 5 thành tố đặc thù (nhận thức xã hội, thiết lập và duy trì quan hệ xã hội, hòa nhập môi trường GDMN, thích ứng hoạt động GDMN, giải quyết tình huống xã hội trong GDMN), chỉ rõ hệ thống chỉ báo biểu hiện của từng thành tố.
  • Thiết kế hệ thống thang đo phù hợp (phiếu tự đánh giá và hệ thống bài tập tình huống đo nghiệm) để lượng hóa biểu hiện và mức độ TTXH của sinh viên ngành mầm non.
  • Hệ thống hóa các yếu tố chủ quan và khách quan tác động đến TTXH của SV SPMN, làm sáng tỏ cơ chế hình thành và biến đổi của TTXH trong quá trình đào tạo nghề nghiệp.

Đóng góp về mặt thực tiễn

  • Cung cấp bức tranh thực trạng về mức độ và biểu hiện TTXH của sinh viên sư phạm mầm non tại hai cơ sở đào tạo lớn (Trường Đại học Sư phạm Hà Nội và Trường Đại học Hồng Đức); chỉ ra sự biểu hiện không đồng đều giữa các năng lực thành phần (năng lực nhận thức xã hội chiếm ưu thế, trong khi năng lực giải quyết tình huống xã hội còn nhiều hạn chế).
  • Xác định rõ vai trò quyết định của tính tích cực hoạt động, rèn luyện và lòng yêu nghề, yêu trẻ đối với việc nâng cao TTXH của sinh viên.
  • Đề xuất và kiểm nghiệm thực tế hệ thống các biện pháp tác động tâm lý - sư phạm, bao gồm việc tăng cường tổ chức rèn luyện nghiệp vụ sư phạm thường xuyên và đẩy mạnh các hoạt động trải nghiệm thực tiễn.
  • Cung cấp dữ liệu thực tiễn và cơ sở khoa học cho các cơ sở đào tạo giáo viên mầm non trong việc điều chỉnh chương trình đào tạo, đồng thời giúp sinh viên có định hướng tự rèn luyện nhân cách và năng lực nghề nghiệp.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Dựa trên các giới hạn được tác giả trình bày trong luận án:

  • Hạn chế về phạm vi địa bàn và khách thể: Nghiên cứu thực nghiệm và khảo sát thực tiễn mới chỉ thực hiện tại 02 trường đại học (Trường Đại học Sư phạm Hà Nội và Trường Đại học Hồng Đức) với 511 sinh viên đại học. Chưa bao phủ các trường đào tạo sư phạm mầm non ở các vùng miền khác hoặc các hệ đào tạo khác (như cao đẳng sư phạm).
  • Hạn chế về nội dung khảo sát: Luận án mới chỉ tập trung xem xét TTXH biểu hiện qua hai kênh hoạt động chính là giao tiếp trong học nghề và hoạt động trong học nghề của sinh viên; chưa mở rộng sang toàn bộ các mối quan hệ xã hội ngoài phạm vi nhà trường.
  • Tác giả tự nhận định do các giới hạn về thời gian, kinh nghiệm và điều kiện nghiên cứu nên công trình khó tránh khỏi những thiếu sót nhất định trong quá trình triển khai.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Tiếp tục mở rộng phạm vi khảo sát trên mẫu sinh viên mầm non toàn quốc; nghiên cứu theo dõi dọc (longitudinal study) sự phát triển TTXH của sinh viên từ khi học đại học cho đến giai đoạn trực tiếp làm việc tại các trường mầm non.

Giá trị tham khảo

Luận án mang lại giá trị tham khảo cụ thể cho các nhóm đối tượng:

  • Đối với các nhà quản lý giáo dục và giảng viên khoa Giáo dục Mầm non: Cung cấp khung năng lực và tiêu chí đo lường TTXH để tích hợp vào chương trình đào tạo; tham khảo các biện pháp tổ chức rèn luyện nghiệp vụ sư phạm và hoạt động trải nghiệm để áp dụng vào giảng dạy thực tế.
  • Đối với sinh viên chuyên ngành Sư phạm Mầm non: Tài liệu giúp sinh viên nhận thức rõ tầm quan trọng của TTXH đối với nghề nghiệp tương lai, tự soi chiếu mức độ của bản thân qua các tiêu chí để có kế hoạch tự bồi dưỡng, nâng cao năng lực ứng xử và giải quyết tình huống sư phạm.
  • Đối với nghiên cứu sinh, học viên cao học ngành Tâm lý học và Giáo dục học: Cung cấp cơ sở tài liệu tổng quan toàn diện về lịch sử nghiên cứu trí tuệ xã hội trên thế giới và tại Việt Nam; cung cấp quy trình phương pháp luận xây dựng bộ công cụ đo nghiệm kết hợp giữa phiếu tự đánh giá và bài tập tình huống thực tiễn.

Câu hỏi thường gặp

1. Luận án xác định cấu trúc trí tuệ xã hội của sinh viên sư phạm mầm non gồm những thành tố nào?

Tác giả xác định cấu trúc TTXH của SV SPMN gồm 5 thành tố: (1) Năng lực nhận thức xã hội; (2) Năng lực thiết lập và duy trì các mối quan hệ xã hội; (3) Năng lực hòa nhập môi trường giáo dục mầm non; (4) Năng lực thích ứng với hoạt động trong giáo dục mầm non; (5) Năng lực giải quyết các tình huống xã hội trong giáo dục mầm non. Mô hình này kế thừa cấu trúc của Nguyễn Công Khanh nhưng tách riêng năng lực hòa nhập và thích ứng để gắn chặt với bối cảnh giáo dục mầm non.

2. Giả thuyết nghiên cứu về mức độ và sự biểu hiện TTXH của sinh viên được kiểm định như thế nào?

Luận án giả thuyết rằng TTXH của SV SPMN ở mức độ trung bình và biểu hiện không đồng đều giữa các mặt: năng lực nhận thức xã hội biểu hiện tốt nhất, trong khi năng lực giải quyết hiệu quả các tình huống xã hội biểu hiện kém nhất. Đồng thời, có sự khác biệt ý nghĩa về biểu hiện và mức độ TTXH theo các tham số: cơ sở đào tạo, năm học và kết quả học lực của sinh viên.

3. Khách thể và địa bàn khảo sát thực tiễn của đề tài được triển khai ở đâu?

Khảo sát thực tiễn được tiến hành trên 511 sinh viên sư phạm mầm non hệ đại học từ năm thứ nhất đến năm thứ tư và 40 giảng viên chuyên ngành, chuyên gia trí tuệ xã hội. Địa bàn nghiên cứu được giới hạn tại 02 trường: Trường Đại học Sư phạm Hà Nội và Trường Đại học Hồng Đức.

4. Những yếu tố nào ảnh hưởng lớn nhất đến trí tuệ xã hội của sinh viên sư phạm mầm non?

Theo giả thuyết và khung phân tích của luận án, TTXH của sinh viên chịu ảnh hưởng của cả yếu tố chủ quan và khách quan. Trong đó, hai yếu tố chủ quan có ảnh hưởng lớn nhất là: tính tích cực hoạt động, rèn luyện của bản thân sinh viên và lòng yêu nghề, yêu trẻ.

5. Biện pháp tác động tâm lý - sư phạm nào được luận án đề xuất và đưa vào thực nghiệm?

Tác giả đề xuất và đưa vào thực nghiệm hai nhóm biện pháp can thiệp chính: tăng cường tổ chức các hoạt động rèn luyện nghiệp vụ sư phạm thường xuyên và tăng cường tổ chức các hoạt động trải nghiệm thực tiễn nhằm nâng cao năng lực ứng phó và giải quyết tình huống sư phạm mầm non.

Kết luận

Luận án tiến sĩ "Trí tuệ xã hội của sinh viên sư phạm mầm non" của tác giả Nguyễn Thị Hồng đã làm sáng tỏ cơ sở lý luận về TTXH trong tâm lý học chuyên ngành và xây dựng mô hình cấu trúc 5 thành tố phù hợp với đối tượng đào tạo mầm non. Công trình đã đo lường thực trạng TTXH trên 511 sinh viên tại hai trường đại học, khẳng định các giả thuyết về mức độ phát triển, sự phân hóa giữa các năng lực thành phần cũng như các yếu tố chi phối. Kết quả thực nghiệm của luận án cung cấp căn cứ khoa học cho việc áp dụng các biện pháp rèn luyện nghiệp vụ và hoạt động trải nghiệm nhằm nâng cao năng lực nghề nghiệp cho đội ngũ giáo viên mầm non tương lai.