đặt vấn đề”. Ngoài ra, tác giả cũng cho rằng: “Vấn đề bao giờ cũng đảm bảo hai điều kiện (cái đã biết và cái chưa biết), trong đó cái đã biết là điều kiện để đi đến cái cần tìm” (1996, được trích dẫn trong Huỳnh Văn Sơn, 2012). Như vậy, theo các nhà Tâm lí học, vấn đề là sự phản ánh mâu thuẫn giữa “cái chưa biết” và “cái đã biết” trong quá trình nhận thức của mỗi chủ thể. Từ đó chúng tôi cho rằng, vấn đề là sự phản ánh mâu thuẫn trong quá trình khám phá thế giới xung quanh của chủ thể, xuất hiện trong những tình huống cụ thể.
Kỹ năng giải quyết vấn đề George Polya, một trong những nhà toán học và giáo viên vĩ đại của thế kỉ 20 đã cho rằng “Giải quyết một vấn đề có nghĩa là tìm ra cách để vượt qua chướng ngại vật, đạt được một mục tiêu mà ta không thể đạt được ngay lập tức” (1981, được trích dẫn trong Billstein, Libeskind, Lott, & Boschmans, 2004). Trong khi đó, từ điển Giáo dục quốc tế viết: “GQVĐ là một thuật ngữ trong lí thuyết học tập của R. Garne dùng để chỉ phạm trù cao nhất của kỹ năng tư duy. Đặc điểm của GQVĐ là sự kết hợp của hai hay nhiều quy tắc theo cách thức mới lạ để giải quyết một vấn đề”.
Luan van 13 Từ việc tham khảo những quan điểm của nhiều nhà nghiên cứu, các tổ chức về kỹ năng và kỹ năng GQVĐ, chúng tôi cho rằng: Kỹ năng giải quyết vấn đề là khả năng vận dụng những tri thức và kinh nghiệm vốn có của bản thân để tìm ra cách làm, hướng đi hiệu quả cho những sự việc, tình huống phát sinh trong cuộc sống hằng ngày. Khái niệm trò chơi đóng vai theo chủ đề 1. Khái niệm chơi Có rất nhiều những định nghĩa, mô tả về chơi trong suốt chiều dài của lịch sử nghiên cứu, được tổng hợp trong nghiên cứu của J. Cemore (2005), có thể kể đến như: Friedrich Froebel đã định nghĩa chơi là một hoạt động thuần túy nhất, mang tính tinh thần nhất của con người.
Đồng thời, nó là điển hình cho toàn bộ cuộc sống của loài người – về cuộc sống tự nhiên ẩn giấu bên trong con người và vạn vật. John Dewey cho rằng chơi bao gồm các hoạt động được thực hiện một cách tự nhiên, không có chủ ý cho lợi ích của bất kì kết quả nào. Theo Sigmund Freud, khi chơi trẻ em lặp lại tất cả mọi thứ gây ấn tượng lớn với chúng trong cuộc sống thực, và khi làm như vậy, trẻ tái tạo sức mạnh của những ấn tượng và biến mình thành chủ nhân của các tình huống. Erick Erikson cho rằng chơi giúp trẻ học được những gì có thể chấp nhận được trong xã hội và thực hành kiểm soát các tình huống.
Từ những khái niệm trên chúng ta có thể nhận thấy điểm chung: chơi là một hoạt động tự nhiên mang tính chất xã hội của trẻ. Chơi có sáu đặc điểm: - Động lực nội tại: một đứa trẻ chơi bởi vì nó muốn chơi. Những mong muốn và sự bền bỉ khi chơi đến từ bên trong trẻ. Trẻ sẽ không thực sự chơi khi trẻ chưa sẵn sàng.
Trẻ chỉ “chơi” khi bị thu hút và bắt đầu chơi vì mong muốn của bản thân. Đây là một cách thức khác với các dạng hoạt động thú vị còn lại mà trẻ tham gia. - Chú ý đến phương tiện: chơi là định hướng đến quá trình. Trẻ em chỉ quan tâm đến những gì chúng đang làm tại thời điểm chơi, chúng không hề quan tâm đến Luan van 14 sản phẩm hay kết quả của quá trình chơi.
- Với một vật, trong “chơi” trẻ sẽ nghĩ “Mình có thể làm gì với vật này?”, thay vì “Vật này có để làm gì?”. Đó là sự khác nhau giữ hoạt động chơi và hoạt động khám phá thông thường. Sự khác biệt này tạo ra khả năng vô tận cho trẻ trong lúc chơi. - Liên quan đến hành vi công cụ: điều này để mô tả trò chơi giả vờ.
- Tự do khỏi các quy tắc áp đặt từ bên ngoài: trong chơi không hề có các quy tắc được thành lập để chơi. Trẻ chỉ thiết lập và tuân theo quy tắc trong bối cảnh chơi của chúng. - Tích cực tham gia: trong khi chơi, trẻ rất tích cực tham gia vào trò chơi dù là chơi cùng người khác hay chơi một mình. Trẻ rất tập trung và không dễ bị phân tâm.
Sự tích cực và tập trung của trẻ giúp duy trì trò chơi và đẩy quy trình suy nghĩ ngày càng phức tạp hơn. Piaget cho rằng trẻ em xây dựng sự hiểu biết của bản thân thông qua việc tương tác với môi trường và học cách thích nghi nó. Sự thích nghi đó bao gồm hai quá trình xảy ra đồng thời, là đồng hoá và điều ứng. Piaget cũng giải thích thêm rằng, nếu không được thực hành thường xuyên trong bối cảnh chơi, các kỹ năng mà trẻ có sẽ bị mất.
Thông qua chơi, trẻ đồng hoá thông tin và ghi nhận kiến thức. Chơi cho phép trẻ học GQVĐ, giúp trẻ liên kết được kiến thức đã có với các kỹ năng, khái niệm mới, tiếp thu kiến thức mới (UK Essays, 2018). Trẻ xây dựng kiến thức mới thông qua chơi dù trẻ đang thực hành những gì đã được học ở những môi trường khác nhau hay xây dựng kiến thức mới thì “chơi” luôn đóng vai trò quan trọng không thể thiếu trong suốt quá trình đó. Như vậy, chơi giúp trẻ tăng cường phát triển nhận thức và các mối quan hệ xã hội.
Trẻ xây dựng những khái niệm, biểu tượng mới thông qua chơi; những trải nghiệm tích cực, chủ động trong lúc chơi giúp trẻ khắc sâu kiến thức và ghi nhớ chúng một cách lâu dài. Khái niệm trò chơi đóng vai theo chủ đề Trò chơi ĐVTCĐ hay còn gọi là trò chơi giả bộ có cốt truyện là đặc trưng của lứa tuổi mẫu giáo. Với mỗi cách nhìn nhận trò chơi ở góc độ khác nhau như theo Luan van 15 nguồn gốc, theo cấu trúc hay theo ý nghĩa của nó mà trò chơi còn có các tên gọi khác nhau như: trò chơi giả bộ có cốt truyện, trò chơi đóng vai theo chủ đề, chơi biểu tượng, chơi tưởng tượng, chơi giả tạo, chơi nhập vai… (Cemore, 2005). Đề tài luận văn sử dụng tên gọi “Trò chơi đóng vai theo chủ đề” bởi chính nội hàm của nó, đó là: có một chủ đề chơi nhất định (các mảng hiện thực của cuộc sống xã hội) và khi chơi trẻ đóng vai (giả làm người lớn) để phản ánh mảng hiện thực đó.
Theo tác giả Đinh Văn Vang (2016), trò chơi ĐVTCĐ là loại trò chơi sáng tạo tiêu biểu, khi chơi trẻ mô phỏng lại những sự việc diễn ra trong cuộc sống xung quanh, bằng những hành động chơi mang tính tưởng tượng độc đáo. Tác giả Nguyễn Bích Thủy và Nguyễn Thị Anh Thư (2005) cho rằng trò chơi ĐVTCĐ là trò chơi phổ biến nhất ở trẻ mẫu giáo, phản ánh cuộc sống xung quanh rất đa dạng với các mảng hiện thực hết sức phong phú. Các mảng hiện thực được phản ánh vào trò chơi được coi là chủ đề của trò chơi. Theo tác giả Nguyễn Thị Ánh Tuyết (2007) thì: “Trò chơi ĐVTCĐ là một loại trò chơi mà khi chơi trẻ mô phỏng một mảng nào đó của cuộc sống người lớn trong xã hội bằng việc nhập vào (hay còn gọi là đóng vai) một nhân vật nào đó để thực hiện chức năng xã hội của họ bằng những hành động mang tính tượng trưng”.
Vygotsky, chơi thực sự tạo điều kiện cho sự phát triển nhận thức của trẻ và trò chơi ĐVTCĐ là nguồn phát triển hàng đầu cho trẻ mầm non. Vygotsky cho rằng, trò chơi ĐVTCĐ giúp trẻ phát triển khả năng tự điều chỉnh, kích thích trẻ sử dụng các biểu tượng tinh thần (đặc biệt là ngôn ngữ) một cách linh hoạt. Hơn thế nữa, trò chơi ĐVTCĐ còn giúp trẻ có phản ứng nhanh với các tình huống xã hội, hành động theo cách mà xã hội mong muốn để từ đó thúc đẩy khả năng chia sẽ, hợp tác, chờ đợi và tôn trọng quy ước chung ở trẻ. Như vậy, trong quan điểm của L.
Vygotsky, trò chơi giả bộ mang đậm tính chất xã hội (Berk & Meyers, 2013). Từ những khái niệm trên, chúng tôi cho rằng: Trò chơi đóng vai theo chủ đề là dạng trò chơi sáng tạo, đặc trưng của tuổi mẫu giáo. Trong đó, trẻ thực hiện các vai của người lớn theo một chủ đề nhất định và thực hiện các hành động nhằm giải quyết các tình huống nảy sinh từ chức năng xã hội mà họ đảm nhận. Đặc điểm của trò chơi đóng vai theo chủ đề Trò chơi ĐVTCĐ mang những đặc điểm sau đây: Trò chơi ĐVTCĐ bao giờ cũng có một chủ đề nhất định.
Trong khi chơi, trẻ phản ánh cuộc sống xung quanh đa dạng với các mảng hiện thực vô cùng phong phú. Các mảng hiện thực được phản ánh qua trò chơi được gọi là chủ đề của trò chơi. Ví dụ như chủ đề sinh hoạt gia đình, chủ đề bán hàng, chủ đề giao thông… Chính vì vậy, phạm vi tiếp xúc của trẻ càng rộng, kinh nghiệm của trẻ càng nhiều thì chủ đề chơi của trẻ càng phong phú. Chính vì trò chơi ĐVTCĐ mô phỏng các mối quan hệ xã hội của người lớn nên khi tham gia vào trò chơi này cần phải có nhiều trẻ, cùng chơi, cùng hợp tác (bác sĩ cùng với bệnh nhân; người bán hàng cùng với người đi mua hàng; cô giáo cùng với học sinh.
Điều này thể hiện một nét đặc trưng của trò chơi ĐVTCĐ, đó là tính hợp tác. Trẻ hợp tác với bạn càng tốt thì các vấn đề xảy ra trong quá trình chơi được giải quyết càng ổn thoả (Nguyễn Ánh Tuyết, Nguyễn Thị Như Mai, & Đinh Thị Kim Thoa, 2011). Để tham gia trò chơi này trẻ cần phải đóng vai. Trẻ phải giả làm người lớn, đặt mình vào vị trí của một người nào đó với các chức năng xã hội mà người đó đảm nhận và bắt chước hành động của họ.
Trò chơi ĐVTCĐ mang tính ký hiệu tượng trưng, tính khái quát, mô phỏng. Mặc dù trò chơi ĐVTCĐ phản ánh những hiện tượng có thực trong cuộc sống xung quanh trẻ, nhưng hành động của trẻ chỉ có tính chất mô phỏng lại một cách khái quát, tượng trưng (hành động giả vờ). Mặt khác, trong khi chơi, trẻ sử dụng những đồ vật, đồ chơi thay thế. Những vật thay thế này mang tính ký hiệu tượng trưng và được trẻ sử dụng không theo đúng chức năng của chúng.
Ví dụ: bút làm kim tiêm, ghế làm ô tô, chổi làm ngựa. Hoặc trẻ dùng hành động của mình để thực hiện chức năng của một vật.