Luận án tiến sĩ phát triển kĩ năng giao tiếp cho trẻ khiếm thị kèm rối loạn phổ tự kỉ 5 6 tuổi thông qua chơi

Luận án tiến sĩ nghiên cứu phát triển kỹ năng giao tiếp cho trẻ khiếm thị kèm rối loạn phổ tự kỷ 5-6 tuổi thông qua phương pháp chơi.

Chuyên ngành

Giáo Dục Đặc Biệt

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

2021

241
9
0

Phí lưu trữ

55 Point

Mục lục chi tiết

ỜI CAM ĐOAN

ỜI CẢM ƠN

MỤC ỤC

MỞ ĐẦU

1. ý do chọn đề tài

2. Mục ích nghiên cứu

3. Khách thể và ối tƣợng nghiên cứu

4. Giả thuyết khoa học

5. Nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu

6. Luận điểm cần bảo vệ

7. Đóng góp mới của luận án

8. Bố cục của Luận án

1. CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN KĨ NĂNG GIAO TIẾP CHO TRẺ KHIẾM THỊ KÈM RỐI LOẠN PHỔ TỰ KỈ 5-6 TUỔI THÔNG QUA CHƠI

1.1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề

1.1.1. Nghiên cứu về giáo dục trẻ khiếm thị kèm rối loạn phổ tự kỉ 5-6 tuổi

1.1.2. Nghiên cứu về phát triển kĩ năng giao tiếp cho trẻ trẻ khiếm thị kèm rối loạn phổ tự kỉ 5-6 tuổi

1.1.3. Nghiên cứu về phát triển kỹ năng giao tiếp cho trẻ khiếm thị kèm rối loạn phổ tự kỉ 5-6 tuổi thông qua chơi

1.1.4. Đánh giá chung về nghiên cứu tổng quan

1.2. Những vấn đề chung về trẻ khiếm thị kèm rối loạn phổ tự kỉ 5-6 tuổi

1.2.1. Khái niệm và ph n loại

1.2.2. Nguyên nh n cơ bản gây khiếm thị k m rối loạn phổ tự k ở trẻ em

1.2.3. Tiêu chí nhận biết trẻ khiếm thị kèm rối loạn phổ tự kỉ

1.2.4. Ảnh hƣởng của khiếm thị kèm rối loạn phổ tự kỉ đến các lĩnh vực phát triển của trẻ

1.3. Kỹ năng giao tiếp của trẻ khiếm thị kèm rối loạn phổ tự kỉ 5-6 tuổi

1.3.1. Khái niệm kĩ năng, kĩ năng giao tiếp và phát triển kĩ năng giao tiếp

1.3.2. Đặc điểm kỹ năng giao tiếp của trẻ khiếm thị kèm rối loạn phổ tự kỉ 5-6 tuổi

1.3.3. Đánh giá kỹ năng giao tiếp của trẻ khiếm thị kèm rối loạn phổ tự kỉ 5-6 tuổi

1.4. Chơi và phát triển kĩ năng giao tiếp cho trẻ khiếm thị k m rối loạn phổ tự kỉ 5-6 tuổi thông qua chơi

1.4.1. Khái niệm và vai tr của chơi đối với việc phát triển kĩ năng giao tiếp cho trẻ khiếm thị kèm RLPTK

1.4.2. Đặc điểm chơi của trẻ khiếm thị k m rối loạn phổ tự kỉ 5-6 tuổi

1.4.3. Các bƣớc tổ chức chơi cho trẻ khiếm thị k m rối loạn phổ tự kỉ 5-6 tuổi

1.4.4. Quá trình phát triển kĩ năng giao tiếp cho trẻ khiếm thị kèm rối loạn phổ tự kỉ 5-6 tuổi thông qua chơi

1.4.5. Mục đích, nghĩa phát triển kĩ năng giao tiếp cho trẻ khiếm thị kèm rối loạn phổ tự kỉ 5-6 tuổi thông qua chơi

1.4.6. Nội dung phát triển kĩ năng giao tiếp cho trẻ khiếm thị kèm rối loạn phổ tự kỉ 5-6 tuổi thông qua chơi

1.4.7. Phƣơng pháp phát triển kỹ năng giao tiếp cho trẻ khiếm thị kèm rối loạn phổ tự kỉ 5-6 tuổi thông qua chơi

1.4.8. Hình thức phát triển kỹ năng giao tiếp cho trẻ khiếm thị kèm rối loạn phổ tự kỉ 5-6 tuổi thông qua chơi

1.4.9. Các yếu tố ảnh hƣởng đến phát triển kĩ năng giao tiếp cho trẻ khiếm thị kèm rối loạn phổ tự kỉ 5-6 tuổi thông qua chơi

1.5. Kết luận chƣơng 1

2. CHƢƠNG 2: THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN KĨ NĂNG GIAO TIẾP CHO TRẺ KHIẾM THỊ KÈM RỐI LOẠN PHỔ TỰ KỈ 5-6 TUỔI THÔNG QUA CHƠI

2.1. Tổ chức khảo sát thực trạng

2.1.1. Mục đích khảo sát

2.1.2. Nội dung, phƣơng pháp và công cụ khảo sát

2.1.3. Mẫu khách thể và địa bàn khảo sát thực trạng

2.1.4. Các bƣớc khảo sát thực trạng

2.2. Đánh giá kết quả khảo sát

2.2.1. Thực trạng mức độ kỹ năng giao tiếp của trẻ khiếm thị kèm rối loạn phổ tự kỉ 5-6 tuổi

2.2.2. Kết quả đánh giá thực trạng phát triển kỹ năng giao tiếp cho trẻ khiếm thị kèm rối loạn phổ tự kỉ 5-6 tuổi thông qua chơi

2.3. Thực trạng nhận thức của GV về tầm quan trọng phát triển kỹ năng giao tiếp cho trẻ thông qua chơi

2.4. Thực trạng nhận thức của giáo viên về ảnh hƣởng của khiếm thị và rối loạn phổ tự k đến sự phát triển của trẻ

2.5. Thực trạng nội dung phát triển kỹ năng giao tiếp cho trẻ khiếm thị kèm rối loạn phổ tự k 5-6 tuổi thông qua chơi

2.6. Thực trạng biện pháp giáo viên sử dụng để phát triển kỹ năng giao tiếp cho trẻ khiếm thị kèm rối loạn phổ tự k 5-6 tuổi thông qua chơi

2.7. Các hình thức phát triển kỹ năng giao tiếp cho trẻ khiếm thị kèm rối loạn phổ tự k 5-6 tuổi thông qua chơi

2.8. Thực trạng yếu tố ảnh hƣởng đến phát triển kỹ năng giao tiếp cho trẻ khiếm thị kèm rối loạn phổ tự k 5-6 tuổi thông qua chơi

2.9. Đánh giá chung về kết quả khảo sát thực trạng

2.9.1. Kết quả đạt đƣợc

2.9.2. Hạn chế và nguyên nhân

2.10. Kết luận chƣơng 2

3. CHƢƠNG 3: BIỆN PHÁP PHÁT TRIỂN KĨ NĂNG GIAO TIẾP CHO TRẺ KHIẾM THỊ KÈM RỐI LOẠN PHỔ TỰ KỈ 5-6 TUỔI THÔNG QUA CHƠI

3.1. Nguyên tắc đề xuất biện pháp

3.1.1. Đảm bảo tính giáo dục

3.1.2. Đảm bảo tính hệ thống

3.1.3. Đảm bảo tính toàn diện

3.1.4. Đảm bảo tính thực tiễn

3.1.5. Đảm bảo tính tiếp cận cá nhân

3.1.6. Đảm bảo tính tự nguyện tham gia

3.2. Đề xuất biện pháp phát triển kỹ năng giao tiếp cho trẻ khiếm thị kèm rối loạn phổ tự kỉ 5-6 tuổi thông qua chơi

3.2.1. Nhóm biện pháp chuẩn bị phát triển kỹ năng giao tiếp cho trẻ khiếm thị kèm rối loạn phổ tự kỉ 5-6 tuổi thông qua chơi

3.2.2. Nhóm biện pháp thực hiện phát triển KNGT cho trẻ khiếm thị kèm rối loạn phổ tự kỉ 5-6 tuổi thông qua chơi

3.2.3. Nhóm biện pháp bổ trợ phát triển kỹ năng giao tiếp cho trẻ rối loạn phổ tự kỉ 5-6 tuổi thông qua chơi

3.3. Khảo sát tính cần thiết và khả thi của các biện pháp đã đề xuất

3.4. Kết luận chƣơng 3

4. CHƢƠNG 4: THỰC NGHIỆM PHÁT TRIỂN KĨ NĂNG GIAO TIẾP CHO TRẺ KHIẾM THỊ KÈM RỐI LOẠN PHỔ TỰ KỈ 5-6 TUỔI THÔNG QUA CHƠI

4.1. Những vấn đề chung về tổ chức thực nghiệm

4.1.1. Mục đích thực nghiệm

4.1.2. Nội dung thực nghiệm

4.1.3. Giả thuyết khoa học

4.1.4. Địa bàn và khách thể thực nghiệm

4.1.5. Quy trình thực nghiệm

4.2. Đánh giá kết quả thực nghiệm

4.3. Tiến hành thực nghiệm sƣ phạm và kết quả thực nghiệm

4.3.1. Trƣờng hợp nghiên cứu 01

4.3.2. Trƣờng hợp nghiên cứu 02

4.3.3. Trƣờng hợp nghiên cứu 03

4.3.4. So sánh kết quả trƣớc và sau thực nghiệm của 03 trƣờng hợp

4.4. Kết luận chƣơng 4

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

DANH MỤC BẢNG

DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ

Tóm tắt

I. Giới thiệu về phát triển kỹ năng giao tiếp

Phát triển kỹ năng giao tiếp cho trẻ khiếm thị và rối loạn phổ tự kỷ là một vấn đề quan trọng trong giáo dục đặc biệt. Trẻ em trong nhóm này thường gặp khó khăn trong việc tương tác xã hội, điều này ảnh hưởng đến khả năng hòa nhập của các em. Việc phát triển kỹ năng giao tiếp không chỉ giúp trẻ cải thiện khả năng tương tác mà còn tạo điều kiện cho sự phát triển toàn diện của trẻ. Theo nghiên cứu, trẻ khiếm thị kèm rối loạn phổ tự kỷ thường thiếu các kỹ năng như lắng nghe, phản hồi và duy trì cuộc trò chuyện. Do đó, việc áp dụng các phương pháp giáo dục phù hợp, đặc biệt là thông qua trò chơi giáo dục, có thể mang lại hiệu quả tích cực trong việc phát triển kỹ năng giao tiếp cho trẻ.

1.1. Tầm quan trọng của kỹ năng giao tiếp

Kỹ năng giao tiếp là một trong những yếu tố quyết định đến sự thành công trong cuộc sống của trẻ. Đối với trẻ khiếm thị và rối loạn phổ tự kỷ, việc phát triển kỹ năng giao tiếp là cần thiết để giúp các em hòa nhập với xã hội. Nghiên cứu cho thấy rằng trẻ em có kỹ năng giao tiếp tốt hơn có khả năng xây dựng mối quan hệ xã hội tốt hơn, từ đó nâng cao chất lượng cuộc sống. Việc phát triển kỹ năng giao tiếp thông qua trò chơi không chỉ giúp trẻ học hỏi mà còn tạo ra môi trường an toàn để các em thực hành và cải thiện khả năng tương tác của mình.

II. Phương pháp phát triển kỹ năng giao tiếp qua trò chơi

Việc sử dụng trò chơi giáo dục để phát triển kỹ năng giao tiếp cho trẻ khiếm thị và rối loạn phổ tự kỷ đã được chứng minh là hiệu quả. Trò chơi không chỉ tạo ra môi trường học tập vui vẻ mà còn giúp trẻ phát triển các kỹ năng xã hội cần thiết. Các hoạt động như chơi nhóm, đóng vai, và các trò chơi tương tác giúp trẻ học cách lắng nghe, chia sẻ và thể hiện cảm xúc. Theo các chuyên gia, việc can thiệp sớm thông qua trò chơi có thể giúp trẻ cải thiện đáng kể kỹ năng giao tiếp và khả năng hòa nhập xã hội. Hơn nữa, trò chơi còn giúp trẻ phát triển kỹ năng xã hội, từ đó tạo ra nền tảng vững chắc cho sự phát triển cá nhân trong tương lai.

2.1. Các loại trò chơi phù hợp

Các loại trò chơi phù hợp cho trẻ khiếm thị và rối loạn phổ tự kỷ bao gồm trò chơi tương tác, trò chơi nhóm và các hoạt động nghệ thuật. Những trò chơi này không chỉ giúp trẻ phát triển kỹ năng giao tiếp mà còn khuyến khích sự sáng tạo và khả năng làm việc nhóm. Việc lựa chọn trò chơi cần dựa trên đặc điểm và nhu cầu của từng trẻ, nhằm đảm bảo rằng các em có thể tham gia một cách tích cực và hiệu quả. Các giáo viên và phụ huynh cần phối hợp chặt chẽ để tạo ra môi trường chơi an toàn và hỗ trợ cho trẻ.

III. Đánh giá hiệu quả của các biện pháp can thiệp

Đánh giá hiệu quả của các biện pháp can thiệp trong việc phát triển kỹ năng giao tiếp cho trẻ khiếm thị và rối loạn phổ tự kỷ là rất quan trọng. Các nghiên cứu cho thấy rằng trẻ em tham gia vào các hoạt động trò chơi giáo dục có sự cải thiện rõ rệt trong kỹ năng giao tiếp và khả năng tương tác xã hội. Việc theo dõi và đánh giá thường xuyên giúp xác định những điểm mạnh và điểm yếu của trẻ, từ đó điều chỉnh phương pháp can thiệp cho phù hợp. Các chuyên gia khuyến nghị rằng việc sử dụng các công cụ đánh giá định kỳ sẽ giúp giáo viên và phụ huynh nắm bắt được tiến trình phát triển của trẻ, từ đó có những điều chỉnh kịp thời.

3.1. Các chỉ số đánh giá

Các chỉ số đánh giá hiệu quả can thiệp bao gồm mức độ tham gia của trẻ trong các hoạt động trò chơi, khả năng lắng nghe và phản hồi trong giao tiếp, cũng như sự cải thiện trong các kỹ năng xã hội khác. Việc ghi nhận những thay đổi này không chỉ giúp đánh giá hiệu quả của chương trình can thiệp mà còn tạo động lực cho trẻ trong quá trình học tập. Các giáo viên cần sử dụng các phương pháp đánh giá đa dạng để có cái nhìn toàn diện về sự phát triển của trẻ.

25/01/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận án đƣợc cấu trúc thành 4 chƣơng, bao gồm: - Chƣơng 1: Cơ sở l luận về phát triển KNGT cho trẻ khiếm thị k m RLPTK 5-6 tuổi thông qua chơi. - Chƣơng 2: Thực trạng phát triển KNGT cho trẻ khiếm thị k m RLPTK 5-6 tuổi thông qua chơi. - Chƣơng 3: Biện pháp phát triển KNGT cho trẻ khiếm thị k m RLPTK 5-6 tuổi thông qua chơi. - Chƣơng 4: Thực nghiệm biện pháp phát triển KNGT cho trẻ khiếm thị k m RLPTK 5-6 tuổi thông qua chơi.

7 luan an CHƢƠNG 1 CƠ SỞ U N VỀ PHÁT TRIỂN KĨ NĂNG GIAO TIẾP CHO TRẺ KHIẾM THỊ K M R I O N PHỔ T KỈ 5-6 TUỔI THÔNG QUA CHƠI 1. Tổng quan nghiên cứu vấn ề 1. Nghiên cứu v giáo ục trẻ khiếm thị kèm rối loạn phổ tự kỉ 5-6 tuổi Giáo dục cho trẻ khuyết tật đã đƣợc phát triển mạnh mẽ từ thế kỉ XV-XVI với nghiên cứu của các tác giả Felix Platter (1536-1614), Ponce De Leon (1520- 1584), Denis Diderot (1713-1784), Pestalozzi (1746), Valentin Hauy (1745),. Các tác giả đã đề cập đến thuật ngữ liên quan đến khuyết tật và hình thức, phƣơng pháp h trợ đặc biệt dành cho nhóm trẻ này.

Tuy nhiên, đối với trẻ khiếm thị k m rối loạn phổ tự kỉ, trên thế giới đến cuối thế kỉ thứ XIX và Việt Nam là những năm cuối của thế kỉ XX mới bắt đầu đƣợc nhắc đến [20][71] [76]. Những nghiên cứu này chủ yếu tập trung vào các vấn đề sau: Th nhất Nghi n c u đề cập đến trẻ khiếm thị kèm rối loạn phổ tự kỉ Trên thế giới, từ cuối thế kỉ XX đã có nhiều nghiên cứu đề cập đến thuật ngữ “trẻ đa tật”, “trẻ khiếm thị đa tật” cũng nhƣ “trẻ khiếm thị kèm rối loạn phổ tự kỉ”. Mc Ines & Treffry (1982), Ann Silverrain.M (1984), Gates và Kappan (1985) đã đƣa ra quan niệm trẻ đa tật là trẻ có từ hai dạng khuyết tật trở lên. Còn trong nghiên cứu của nhóm tác giả Corn & Koenig (1996), Sapp.

Theo Luật Trách Nhiệm Quốc Gia của Ấn Độ (1995); Đạo Luật Giáo dục cho ngƣời khuyết tật ở Mỹ (1990) (Individuals with Disabilities Education Act – IDEA), khái niệm đa tật có đề cập đến thuật ngữ “đa khuyết tật” bao gồm nhiều tật: Mù điếc, khiếm thị kèm khuyết tật trí tuệ, khiếm thị kèm theo khuyết tật ngôn ngữ, khiếm thị kèm theo khuyết tật vận động, khiếm thị kèm theo rối loạn phổ tự kỉ [48]. Các nghiên cứu này đều khẳng định, một trẻ đƣợc xem là “đa tật” nếu trẻ mắc từ hai hay nhiều tình trạng khuyết tật đ i hỏi sự chú ý đến giáo dục mà không thể đáp ứng theo cách tổ chức cho ngƣời đơn tật [48]. Nhóm tác giả Mastropieri & Scruggs (2014) đƣa ra quan điểm: Trẻ đa tật là trẻ có hai hoặc nhiều hơn khiếm khuyết cơ thể gây ảnh hƣởng đáng kể đến khả năng học tập và sinh hoạt của cá nh n khi chƣa có sự điều chỉnh môi trƣờng, thuật ngữ 8 luan an này không bao gồm trẻ mù điếc. Trẻ đa tật có thể có sự kết hợp của những khiếm khuyết đa dạng nhƣ: khiếm khuyết về ngôn ngữ lời nói, vận động, kĩ năng học tập, khuyết tật trí tuệ, khiếm thính, khiếm thị và/ hoặc tổn thƣơng não bộ.

Ngoài ra, các nghiên cứu cũng tập trung tìm hiểu trẻ khiếm thị kèm RLPTK ở một số nƣớc trên thế giới. Tiêu biểu là nghiên cứu của nhóm tác giả Gates và Kappan (1985) [48], Klein (2000) [80], Rogow (1998) [86] cho thấy, trẻ em khiếm thị có khuyết tật khác bao gồm cả trẻ khiếm thị kèm rối loạn phổ tự kỉ chiếm khoảng 49-60% trong tổng số trẻ khiếm thị. Nhóm tác giả Parker, Amy, Pogrund, Rona (2009) đã triển khai nghiên cứu trên đối tƣợng trẻ khiếm thị từ sơ sinh đến 22 tuổi ở Hoa K và kết quả thu đƣợc: số lƣợng trẻ khiếm thị có kèm theo khuyết tật khác chiếm khoảng 65% trong tổng số trẻ khiếm thị (bao gồm cả trẻ mù và trẻ nhìn kém) [97]. Nhóm tác giả Grimmet, Eric S Summer, Sharon, Parker (2008) đã nghiên cứu trên 202 trẻ khiếm thị từ sơ sinh đến ấu nhi, kết quả cho thấy có khoảng 60% trong tổng số 202 trẻ này có kèm theo các khuyết tật khác nhƣ: khiếm khuyết về thính giác, khuyết tật vận động, chậm phát triển trí tuệ và rối loạn phổ tự kỉ [100].

Các tác giả Wiley and Meinzen Derr (2012), Boder, Christy, Bruce Susan (2015) cũng đã phát hiện ra rằng, trẻ đa tật nói chung, trẻ khiếm thị kèm rối loạn phổ tự kỉ nói riêng ngày càng chiếm số lƣợng nhiều hơn trong tổng số trẻ khuyết tật, trong đó, có khoảng 30-40% trẻ khuyết tật thị giác có ít nhất một hoặc nhiều các khuyết tật khác kèm theo, chủ yếu là khuyết tật thính giác, khuyết tật trí tuệ, rối loạn phổ tự kỉ và đặc biệt là điếc mù [98]. Bên cạnh đó, nhóm tác giả Erin (1989), Alexander (1990) & Groenveld (1993) cũng nghiên cứu trong nhóm trẻ đa tật và nhận thấy t lệ trẻ khiếm thị kèm theo bại não chiếm khoảng 80%, k m động kinh là 60%, não úng thủy 20%, khiếm thính 10% và khuyết tật trí tuệ, rối loạn phổ tự kỉ là khoảng 80% [84]. Miller, Menacker, and Batshaw (2002) đã nghiên cứu và chỉ ra rằng có tỉ lệ 2/3 trẻ em có khuyết tật phát triển sẽ có thêm các vấn đề về cơ quan thị giác. Ở Việt Nam, nhóm tác giả Nguyễn Thị Hoàng Yến, Đ Thị Thảo, Phạm Thị Bền trong nghiên cứu về trẻ khuyết tật, những thuật ngữ trong lĩnh vực giáo dục đặc biệt cũng đã chỉ rõ trẻ đa tật là những trẻ có từ hai khuyết tật trở lên.

Tác giả Nguyễn Đức Minh (2010) trong nghiên cứu “ i o dục trẻ khiếm thị” cho rằng, trẻ khiếm thị đa tật là cách gọi khác của trẻ mà ngoài khuyết tật thị giác còn có thêm một hoặc nhiều khuyết tật khác kèm theo [39]. Nhóm tác giả Đ Thị Thảo, Trần Thị 9 luan an Tuyết (2017) cũng đã đề cập đến khái niệm trẻ khiếm thị kèm rối loạn phổ tự kỉ là những trẻ vừa bị khiếm thị và rối loạn phổ tự kỉ, và cần những biện pháp giáo dục đặc thù cho nhóm trẻ này chứ không phải nhƣ trẻ khiếm thị hoặc trẻ rối loạn phổ tự kỉ [60]. Nhóm tác giả Phạm Minh Mục, Trần Thu Giang (2012) cũng chỉ rõ trẻ đa tật là trẻ có từ hai hay nhiều khuyết tật trở lên và các khuyết tật này ảnh hƣởng đến sự phát triển của trẻ, đ i hỏi cần có các biện pháp can thiệp đặc thù mà không phải là chỉ cho một dạng khuyết tật [43] [44]. Th hai Nghi n c u ảnh hưởng của khuyết tật thị gi c và rối loạn phổ tự kỉ đến sự phát triển của trẻ Tác giả Nandini Rawal & Vimual Thawani đã chỉ ra khó khăn đặc trƣng của trẻ khiếm thị đa tật nói chung và trẻ khiếm thị kèm rối loạn phổ tự kỉ nói riêng nhƣ: a) Có nhận thức lệch lạc, chƣa chính xác về thế giới xung quanh; b) Thiếu sự tò mò và thiếu động lực cơ bản và có biểu hiện ph ng vệ khi đƣợc động chạm đến; c) Có vấn đề về y tế dẫn đến chậm phát triển nghiêm trọng; d) Khó khăn trong việc thiết lập và duy trì mối quan hệ cá nh n; e) Khó khăn trong ăn uống, giấc ngủ [48].

Đặc biệt, tác giả cũng khẳng định, khiếm thị k m rối loạn phổ tự kỉ đã ảnh hƣởng nghiêm trọng đến kĩ năng giao tiếp xã hội của trẻ [48]. Khiếm khuyết của cơ quan thị giác kết hợp với rối loạn phổ tự kỉ đã ảnh hưởng đến vấn đề nhận th c của trẻ khiếm thị đa tật (Fraiberg (1977), Hyvarinen (1994), Watren (1994), Hatton (1996), A. Theo các tác giả, trẻ khiếm thị khiếm thị k m rối loạn phổ tự kỉ hạn chế trong việc thu nhận các thông tin từ môi trƣờng xung quanh, giảm thiểu cảm giác, khó khăn, ngh o nàn trong nhận thức cảm tính và ảnh hƣởng tiêu cực đến sự phát triển của tƣ duy và tƣởng tƣợng. Trẻ chủ yếu sử dụng cơ quan xúc giác khi tri giác các sự vật hiện tƣợng nên biểu tƣợng của trẻ thƣờng rất ngh o nàn, khuyết thiếu hoặc đôi khi xuất hiện biểu tƣợng sự vật không phù hợp với chính nó [48][96].

Sự kết hợp của khuyết tật thị giác với các khiếm khuyết khác bao gồm RLPTK còn ảnh hƣởng đến khả năng đọc viết, đặc biệt là kĩ năng tiền đọc, tiền viết chữ Braille của trẻ. Các tác giả Zascarvage & Keefe (2004), Witenstein (2006), Durando (2008), McDonmell & Hawken (2008) đã nhấn mạnh, việc đọc viết chữ Braille là rất khó khăn đối với nhóm trẻ này [97]. Nhóm tác giả Trief Ellen, Bruce Susan, Cascella & Paul (2010), Romski & Sevcik (2005); Franco, Meer, Lang & Camargo (2010); Beal, Alvarez & Huston (2014) đã ph n tích những ảnh hƣởng của khuyết tật thị giác với các khiếm khuyết 10 luan an khác đi k m đặc biệt là rối loạn phổ tự kỉ, khiếm thính đối với sự phát triển ngôn ngữ của trẻ. Những trẻ này rất hạn chế về ngôn ngữ lời nói, chủ yếu sử dụng ngôn ngữ cử chỉ điệu bộ và ngôn ngữ biểu tƣợng.

Đối với một số trẻ khiếm thị có ngôn ngữ lời nói thì vốn từ của các em thƣờng ngh o nàn, chỉ tập trung vào danh từ; khả năng hiểu lời nói hạn chế [98] [103]. Th ba Nghi n c u về mục ti u, chương trình, phương ph p và c c yếu tố ảnh hưởng đến gi o dục cho trẻ khiếm thị kèm rối loạn phổ tự kỉ Tác giả Sumitra Mishra (2011) đã chỉ rõ mục tiêu căn bản của bất kì chƣơng trình giảng dạy cho trẻ khiếm thị đa tật là làm cho cuộc sống của trẻ hạnh phúc và lành mạnh hơn. Mục tiêu giáo dục cho trẻ khiếm thị k m rối loạn phổ tự kỉ là tạo cơ hội để trẻ có những trải nghiệm học tập, giúp các em quan t m đến những nhu cầu thiết yếu của bản th n nhƣ ăn uống, đánh răng, tắm giặt cũng nhƣ nhu cầu di chuyển từ nơi này đến nơi khác, tìm kiếm định vị các vật mà trẻ cần; hình thành kĩ năng giải quyết vấn đề tự nhiên xuất hiện trong cuộc sống, nhận biết những ngƣời quan trọng trong cuộc sống của trẻ, thiết lập mối quan hệ với họ và tự đƣa yêu cầu khi trẻ cần h trợ [48]. Mục tiêu cuối cùng của giáo dục cho trẻ khiếm thị k m rối loạn phổ tự kỉ chính là để trẻ có thể sống độc lập nhất và có khả năng giao tiếp với mọi ngƣời xung quanh.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Luận án tiến sĩ mang tiêu đề "Phát triển kỹ năng giao tiếp cho trẻ khiếm thị kèm rối loạn phổ tự kỷ thông qua chơi" của tác giả Nguyễn Thị Thắm, dưới sự hướng dẫn của PGS. Phạm Minh Mục và PGS.TS Nguyễn Xuân Hải, được thực hiện tại Viện Khoa Học Giáo Dục Việt Nam vào năm 2021. Nghiên cứu này tập trung vào việc phát triển kỹ năng giao tiếp cho trẻ em từ 5-6 tuổi bị khiếm thị và rối loạn phổ tự kỷ thông qua các hoạt động chơi. Luận án không chỉ cung cấp những phương pháp giáo dục hiệu quả mà còn nhấn mạnh tầm quan trọng của việc tạo ra môi trường học tập tích cực và thân thiện cho trẻ em khuyết tật.

Để mở rộng thêm kiến thức về giáo dục đặc biệt và phát triển kỹ năng giao tiếp cho trẻ em, bạn có thể tham khảo các tài liệu liên quan như "Biện pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ rối loạn phổ tự kỷ 3-4 tuổi qua phương pháp PECS tại trung tâm giáo dục Ngày Mới, Đống Đa, Hà Nội", nơi nghiên cứu về phát triển ngôn ngữ cho trẻ em tự kỷ, hoặc "Luận Án Tiến Sĩ Về Kỹ Năng Giao Tiếp Bằng Lời Nói Cho Trẻ 5-6 Tuổi Chậm Phát Triển Ngôn Ngữ", tài liệu này cũng đề cập đến kỹ năng giao tiếp cho trẻ em trong độ tuổi tương tự. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn sâu sắc hơn về các phương pháp giáo dục cho trẻ em khuyết tật và cách thức phát triển kỹ năng giao tiếp hiệu quả.