Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1. Cơ sở khoa học của học hợp tác 1. Cơ sở tâm lý học Về đặc điểm tâm lý học lứa tuổi thì HS trung học phổ thông là lứa tuổi thanh niên. Các em đã gần trưởng thành, cơ thể có sự phát triển hài hòa, không có nhiều biến động và mâu thuẫn như lứa tuổi HS trung học cơ sở nhưng các em vẫn chưa đạt sự trưởng thành về mặt xã hội.
Ở lứa tuổi thanh niên HS, các em đã có những trưởng thành về mặt tâm lý. Các em đã có khả năng tự ý thức và đánh giá bản thân mình, ý thức về tính người lớn của các em ngày càng phát triển, các em có nhu cầu được tôn trọng và được đối xử bình đẳng, sẵn sàng chứng tỏ bản thân và mong muốn được mọi người công nhận. Phạm vi giao tiếp của HS trung học phổ thông ngày càng được mở rộng, tính độc lập trong giao tiếp với người lớn ngày càng tăng, GV có cách nhìn khác so với khi các em còn ở trường trung học cơ sở. HS trung học phổ thông có thể tự quản lý thời khóa biểu, quản lý sinh hoạt hàng ngày, tự học tập nghiên cứu và có những đánh giá về các vấn đề liên quan đến học tập mà không còn quá phụ thuộc vào thầy cô giáo.
Các mối quan hệ giữa HS với các bạn học khác và với GV có ảnh hưởng rất lớn đối với quá trình hình thành, phát triển trí tuệ và nhân cách của HS. Tác giả Lê Văn Hồng cho rằng công tác giáo dục phải tạo điều kiện cho HS giao tiếp với nhau, từ đó giúp các em nhận thức được bản thân mình và người khác, đồng thời qua đó phát triển một số kỹ năng như kỹ năng so sánh, phân tích khái quát hành vi của bạn và của bản thân. Cơ sở xã hội học Trong cuộc sống, không cá nhân nào tồn tại một cách hoàn toàn độc lập. Các mối quan hệ xã hội của người học với gia đình, với bạn bè, với thầy cô và 5 những mối quan hệ xã hội khác tạo nên một mạng lưới thông tin đa dạng và phức tạp.
Theo tác giả Thái Duy Tuyên, hợp tác đóng vai trò quan trọng trong cuộc sống con người, nó quyết định sự thành bại của mỗi cá nhân trong xã hội. Ông cũng cho rằng cần rèn luyện cho HS các kỹ năng hợp tác từ khi còn ngồi trên ghế nhà trường, cần chú trọng việc dạy kỹ năng hợp tác như việc dạy kiến thức và kỹ năng cơ bản khác.[23] DHHT là một PPDH mang tính cộng đồng cao, trong đó nhấn mạnh vai trò quan trọng của mối quan hệ giữa những người học với nhau. Sự hợp tác và kết hợp ý tưởng, trí tuệ của nhiều người tạo nên sức mạnh tập thể. Trong quá trình học tập và nghiên cứu, những kiến thức mà mỗi người học thu được không phải chỉ là kết quả hoạt động của riêng cá nhân người học mà còn gồm những điều người học rút ra thông qua quá trình tiếp xúc, trao đổi ý kiến, cùng phối hợp giải quyết vấn đề hay tranh luận phản biện.
Cơ sở lý luận dạy học Dạy học theo hướng lấy người học làm trung tâm là một trong những tư tưởng quan trọng trong quá trình đổi mới PPDH ở các nhà trường hiện nay. Để giúp cho người học trở thành trung tâm của quá trình học tập thì cần phát huy tinh thần dân chủ trong quá trình dạy và học. Người học cần hiểu rõ mục đích và nhiệm vụ học tập của mình để tự giác cố gắng hoàn thiện bản thân, trở thành con ngoan trò giỏi, vững vàng về tư tưởng, đạo đức, phấn đấu vì ngày mai lập nghiệp. Để quá trình dạy và học diễn ra một cách dân chủ thì bản thân người học phải chủ động, tích cực hoàn thành những kế hoạch học tập, nỗ lực vượt qua khó khăn.
Đồng thời GV cần hình thành và rèn luyện cho HS khả năng độc lập suy nghĩ, không quá phụ thuộc vào thầy cô, chủ động nghiên cứu tài liệu, tiếp thu tri thức một cách có chọn lọc, những vấn đề còn gặp khó khăn có thể mang ra cùng trao đổi, thảo luận. Quá trình trao đổi, tiếp xúc hàng ngày giúp xây dựng nên mối quan hệ thân thiết, gắn bó giữa giữa thầy với trò và giữa các trò với nhau. 6 Các mối quan hệ trong nhà trường sẽ trở nên tốt đẹp hơn khi người thầy có niềm tin ở HS, tin vào những phẩm chất và năng khiếu riêng biệt của mỗi HS, tôn trọng những suy nghĩ, ý kiến cá nhân của HS, biết nắm bắt tâm lý của HS để giúp đỡ HS giải quyết những vấn đề khó khăn, từ đó giúp động viên tinh thần học tập của HS. Lịch sử nghiên cứu vấn đề 1.
Nghiên cứu ở nước ngoài Từ thế kỷ XVIII, các nhà giáo dục ở các nước tư bản phương Tây đã có những nghiên cứu về DHHT. Đối lập với phong cách học tập mang tính cá nhân và cạnh tranh theo kiểu truyền thống, các nhà giáo dục thời kì này đã đưa ra các lý thuyết về dạy DHHT. Theo đó DHHT là một mô hình dạy học mang mang tính xã hội mà ở đó HS cùng nhau chia sẻ nhiệm vụ và thành quả học tập, cùng nghiên cứu và giúp đỡ lẫn nhau, nhận ra niềm vui từ quá trình làm việc tập thể khiến việc học không còn nhàm chán. Ở nước Anh, Joseph Lancaster và Andrew Bell đã tiến hành nghiên cứu và tổ chức thực nghiệm DHHT.
Những nghiên cứu cho thấy mô hình DHHT giúp thúc đẩy người học học tập, nâng cao hiệu quả dạy học và mô hình DHHT được triển khai ngày càng rộng rãi. John Dewey đã viết cuốn sách có tựa đề “Democracy and Education” (Nền dân chủ và giáo dục), trong đó ông đã chỉ ra rằng con người có thói quen sống theo cộng đồng, hợp tác với nhau để cùng giải quyết các vấn đề khó khăn. Lớp học phải phản ánh được thực tế xã hội và HS cần được dạy sống hợp tác ngay từ khi còn ngồi trên ghế nhà trường. HS được học các nguyên tắc dân chủ thông qua những hành động như: tự lựa chọn thời khóa biểu, chọn cách học phù hợp với bản thân, tự chuẩn bị cho quá trình học tập nghiên cứu,… Trong tác phẩm “Sự làm việc đồng đội”, Albert Bandura nghiên cứu về những năng lực của người học.
Theo ông thì khi người học cùng nhau học tập, hoạt động hướng tới mục tiêu chung thì các cá nhân người học có sự phụ thuộc tích cực lẫn nhau, thúc đẩy mỗi các nhân tích cực hoạt động hướng tới mục tiêu 7 học tập. Quá trình cùng nhau học tập cũng sẽ làm xuất hiện những mâu thuẫn giữa các cá nhân người học và giữa các nhóm người học với nhau. Những mâu thuẫn này được Jean Piaget nhắc đến trong nghiên cứu “Sự giải quyết mâu thuẫn”. Theo đó ông cho rằng những nhóm HS có quan điểm đối lập với nhau về cách giải quyết vấn đề khi cùng nhau hoạt động, tranh luận phản biện rồi dẫn tới thống nhất câu trả lời chung thì có thể tìm ra phương án giải quyết vấn đề một cách đúng đắn và sẽ tự nhận ra những thiếu sót, sai lầm của cá nhân.
Carl Ransom Rogers là một nhà tâm lý học người Mỹ và là một trong số những người sáng lập nên thuyết tiếp cận nhân văn trong tâm lý học, tập trung vào việc hiểu biết nhân cách và mối quan hệ giữa con người với con người. Đến những năm 1960, ông đã ứng dụng những học thuyết nghiên cứu của mình vào giáo dục với chiến lược lấy HS làm trung tâm. Những hoạt động học tập được thiết kế với mục đích nhằm tạo ra một môi trường học mang tính hợp tác, thuận lợi cho việc học tập của HS. GV cần tổ chức một môi trường học tập thoải mái, thuận lợi cho việc trao đổi giữa HS với nhau và với GV.
HS có thể lựa chọn phương pháp giải quyết vấn đề phù hợp với năng lực của mình, học cách lắng nghe và trao đổi với nhau về các vấn đề. GV cần lắng nghe và tôn trọng những ý kiến của HS, tất cả những ý kiến mâu thuẫn đối lập đều góp phần xây dựng bài học, tạo cơ hội để HS có thể nói lên được quan điểm cá nhân hay những điều họ đang suy nghĩ. Lý thuyết của Carl Ransom Rogers tập trung vào mối quan hệ giữa con người với con người thông qua sự hợp tác giữa các người học với nhau và với GV. Học thuyết “Tâm lý học văn hóa - lịch sử” của nhà tâm lý học Liên Xô Lev Semyonovich Vygotsky cho rằng chất lượng học tập của HS phụ thuộc rất nhiều vào việc thiết kế và tổ chức các hoạt động dạy học của GV.
GV cần phải xác định được trình độ hiện tại của người học và khả năng phát triển của họ để từ đó quyết định khi nào thì để người học hoạt động độc lập và khi nào thì cần sự giúp đỡ, hướng dẫn để từ đó lựa chọn những phương pháp dạy học phù hợp. 8 Từ cuối thế kỉ XX, trật tự thế giới thay đổi và một cộng đồng mang tính toàn cầu dần hình thành. Và trong bối cảnh thế giới toàn cầu hóa và sự phụ thuộc lẫn nhau ngày càng sâu rộng yêu cầu giáo dục phải có những thay đổi. Nền giáo dục hiện đại không chỉ tập trung chú trọng vào việc giáo dục con người mà còn cần hình thành cho người học những phẩm chất và năng lực cần thiết.
Từ đó các hoạt động ngoại khóa trong trường học được quan tâm và xuất hiện ngày càng nhiều như: các hoạt động văn nghệ thể thao chào mừng các ngày lễ lớn, các câu lạc bộ thể thao, câu lạc bộ âm nhạc mỹ thuật,… Những nghiên cứu của nhà tâm lý học chuyên nghiên cứu về giáo dục Robert Slavin đã chỉ ra rằng những HS tích cực tham gia và có thành tích tốt trong các hoạt động ngoại khóa như thể dục thể thao hay văn hóa văn nghệ thường được các bạn học khác đánh giá cao, có nhiều các mối quan hệ xã hội, các kỹ năng giao tiếp và khả năng làm việc tập thể phát triển trong khi những HS chỉ tập trung học tập, có kết quả học tập tốt lại gặp một số khó khăn về giao tiếp trong các mối quan hệ với bạn bè. Robert Slavin đã lý giải rằng những thành công trong các hoạt động tập thể mang lại lợi ích cho tất cả mọi người trong khi thành công trong học tập thường chỉ mang lại lợi ích cho riêng mỗi cá nhân.