Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ GIÁO DỤC CẢM XÚC VÀ KỸ NĂNG XÃ HỘI CHO HỌC SINH LỚP 1 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu giáo dục cảm xúc và kỹ năng xã hội cho học sinh lớp 1 trên thế giới và tại Việt Nam 1. Đặc điểm tâm lý hành vi của học sinh lớp 1 Theo Sigmund Freud, một trong những nhà tâm lý hàng đầu của thế kỷ 20 cho rằng con người trải qua năm giai đoạn phát triển tâm lý từ khi sinh ra cho đến khi trưởng thành. Những giai đoạn này đóng vai trò quan trọng trong công việc hình thành tính cách và cách tiếp cận thế giới xung quanh.
Trong phạm vi của đề tài, tác giả nghiên cứu giai đoạn ẩn tàng (giai đoạn tiềm ẩn) kéo dài từ 6 tuổi cho đến khi trẻ trưởng thành. Trong thời kỳ này, các cảm xúc giáo dục không hoạt động, và tâm lý siêu tôi (Siêu ngã) tiếp tục phát triển trong khi xung quanh năng lực của tâm thức tiểu ông (Id) bị kìm nén. Trẻ em phát triển các kỹ năng xã hội, giá trị và mối quan hệ với bạn đồng trang kiến và những người lớn bên ngoài gia đình. Sự phát triển của tâm thức tôi (Ego) và siêu tôi đóng góp vào giai đoạn bình tĩnh này.
Trong thời kỳ này, trẻ bắt đầu quan tâm nhiều hơn đến các mối quan hệ bạn bè, sở hữu và quan tâm khác nhau. Giai đoạn ẩn bảo tàng là thời kỳ khám phá, khi xung quanh năng tính giáo dục vẫn tồn tại nhưng được chuyển hướng sang các lĩnh vực khác như học vấn và tương tác xã hội. Giai đoạn này rất quan trọng trong việc phát triển kỹ năng xã hội, giao tiếp và tự tin. Tương tự như Freud, Erikson cho rằng mỗi giai đoạn phát triển sẽ gặp các cuộc khủng hoảng đặc biệt.
Theo ông (1963), những khủng hoảng này là mặt tâm lý xã hội, bao gồm nhu cầu tâm lý cá nhân trong sự ổn định với những yêu cầu từ xã hội. Học thuyết phát triển tâm lý của Erik Erikson (1959) phân chia quá trình phát triển thành 8 giai đoạn: năm giai đoạn đầu tiên kéo dài đến 18 tuổi và ba giai đoạn còn lại kéo dài đến tuổi trưởng thành. Erikson cho rằng quá trình trưởng thành và phát triển kéo dài tuổi thọ. Ông đặc biệt nhấn mạnh giai đoạn thiếu niên vì đây là thời điểm quan trọng nhất để hình thành thành cơ bản của một con người.
Theo học thuyết, hoàn thành từng giai đoạn một cách thành công sẽ dẫn đến một nhân cách lành mạnh và đạt được các đức tính cơ bản. Đó là những điểm mạnh mà tâm thức tôi có thể sử dụng để giải quyết các tình huống khởi phát sau này. Thất bại trong công việc hoàn thành một giai đoạn có thể dẫn đến khả năng giảm tốc trong công 22 việc hoàn thành các giai đoạn tiếp theo. Do đó, việc làm hình thành một nhân cách và cảm nhận về bản thân gần gũi hơn.
Tuy nhiên, những giai đoạn này có thể được cải thiện về sau. Giai đoạn đề tài nghiên cứu được gọi là giai đoạn trẻ có sự mâu thuẫn giữa năng lực hoặc tự ti là giai đoạn thứ tư trong thuyết phát triển tâm lý xã hội của Erikson, diễn ra từ 5 đến 12 tuổi. Trẻ em trong giai đoạn này học cách đọc, viết, tính toán và tự làm mọi thứ. Giáo viên trở thành người quan trọng trong cuộc sống của trẻ vì họ giúp trẻ phát triển những kỹ năng này.
Đây là giai đoạn mà bạn bè trở nên quan trọng hơn và là nguồn chính cho sự tự tin của trẻ. Chúng tôi cảm thấy cần phải đạt được sự công nhận bằng cách hiện thực hóa những kỹ năng được xã hội quan trọng và bắt đầu phát triển cảm giác tự hào về những thành chất của mình. Khi trẻ bắt đầu bước vào lớp 1, việc chuyển từ hoạt động chơi sang hoạt động học là một rào cản lớn đối với học sinh. Các em thường khó tập trung trong thời gian dài, học theo cảm hứng nên kết quả học tập của các em chưa cao.
Về đặc điểm tâm lí của học sinh ở lứa tuổi này là thích chơi hơn là học một cách gò bó. Bên cạnh đó, đặc điểm sinh lí của HS phát triển chưa hoàn thiện đặc biệt là các khớp, các xương bàn tay, xương ngón tay còn yếu nên các em không thể ngồi học quá lâu và liên tục mà phải có các hình thức giúp trẻ thư giãn và vận động nhẹ nhàng vào giữa tiết học (Bùi Ngọc Huệ, 2004). Trên thế giới Dựa vào tầm quan trọng của giáo dục cảm xúc và kỹ năng xã hội và nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho học sinh có môi trường sống, học tập đầy hạnh phúc, Công ước về Quyền Trẻ em của Liên Hiệp Quốc (2010) nhấn mạnh việc bảo vệ và chăm sóc hạnh phúc cho trẻ em thông qua thỏa thuận sau: "Các quốc gia thành viên cam kết đảm bảo trẻ em được bảo vệ và chăm sóc cần thiết trong hạnh phúc, dựa trên những quyền và nghĩa vụ của cha mẹ, người giám hộ pháp lý hoặc những người khác có trách nhiệm pháp lý đối với trẻ em. Chia sẻ cùng quan điểm với Liên Hiệp Quốc, Tổ chức Y tế Thế giới khu vực Châu Âu WHO cũng đặc biệt nhấn mạnh việc thúc đẩy các hoạt động phòng ngừa tại môi trường học đường, trong đó có việc giáo dục về cảm xúc xã hội (WHO, 2021).
Cảm xúc xã hội đóng một vai trò vô cùng quan trọng trong quá trình phát triển của học sinh, chúng là "bước đệm" để học sinh tiến tới lòng yêu thương và sự hoà nhã với mọi người; cung cấp khả năng làm việc nhóm và đưa ra 23 những quyết định có trách nhiệm. Theo Howard Gardner, trí thông minh được định nghĩa là "khả năng giải quyết các vấn đề hoặc tạo ra các sản phẩm mà các giải pháp hay sản phẩm này có giá trị trong một hay nhiều môi trường văn hóa". Ông cho rằng trí thông minh không thể chỉ được đo lường qua chỉ số IQ. Tại Việt Nam, Giáo sư Sử học Dương Trung Quốc và nhiều nhà nghiên cứu khác cũng đã công nhận tính đúng đắn của lý thuyết này.
Điều này đặc biệt quan trọng đối với nhiều bậc cha mẹ, những người lâu nay có quan niệm sai lệch về trí thông minh của trẻ và cần có sự thay đổi. Năm 1983, tiến sĩ Howard Gardner, một nhà tâm lý học nổi tiếng của Đại học Harvard, đã xuất bản cuốn sách "Frames of Mind" (tạm dịch "Cơ cấu của trí tuệ"), trong đó ông công bố các nghiên cứu và lý thuyết của mình về sự đa dạng của trí thông minh (Theory of Multiple Intelligences). Trong phạm vi đề tài, tác giả nghiên cứu 3 trong 8 loại hình trí thông minh sau: - Trí thông minh ngôn ngữ: Khả năng sử dụng ngôn từ, nói hoặc viết. Người có trí thông minh này thường giỏi đọc, viết, kể chuyện và ghi nhớ từ ngữ, ngày tháng.
Họ học tốt nhất qua việc đọc, ghi chú, lắng nghe bài giảng, thảo luận và tranh luận. Họ cũng giỏi trong việc giảng dạy và thuyết phục, học ngoại ngữ dễ dàng nhờ trí nhớ tốt và khả năng hiểu cú pháp và cấu trúc ngôn ngữ. - Trí thông minh tương tác giao tiếp: Khả năng làm việc với người khác, nhạy cảm với cảm xúc, tâm trạng, tính khí, động cơ của người khác. Họ giao tiếp tốt, dễ dàng đồng cảm và hợp tác, thường là lãnh đạo hoặc thành viên tích cực trong nhóm.
Họ học tốt nhất qua làm việc nhóm, thảo luận và tranh luận. - Trí thông minh nội tâm: Khả năng hiểu và làm việc với chính mình. Người có trí thông minh này thường hướng nội, thích làm việc một mình, có ý thức tự giác cao và khả năng hiểu rõ cảm xúc, mục tiêu, động cơ của bản thân. Họ thường thích theo đuổi những tư tưởng triết học và học tốt nhất khi được tập trung vào chủ đề của mình.
Lý thuyết của Gardner nhấn mạnh rằng mỗi người đều có một vài loại trí thông minh trên, nhưng sẽ có một hoặc vài loại nổi trội hơn. Ông cũng chỉ ra rằng hệ thống giáo dục truyền thống chỉ đánh giá học sinh qua trí thông minh ngôn ngữ và logic/toán học, bỏ qua các loại trí thông minh khác như âm nhạc, vận động, thị giác, giao tiếp. Điều này dẫn đến việc nhiều học sinh không phát huy được hết tiềm năng của mình. Nếu học sinh được học theo cách phù hợp với thế mạnh của họ, việc học tập sẽ hiệu 24 quả hơn (Howard Gardner, 1983).
Năm 1990, Mayer và Salovey, hai nhà tâm lý học người Mỹ, lần đầu tiên xây dựng khái niệm “trí tuệ cảm xúc” dưới góc nhìn là một dạng năng lực nhận thức, được trình bày trong bài báo “Trí tuệ cảm xúc” (Emotional Intelligence) đăng trên tạp chí Trí tưởng tượng, Nhận thức và Nhân cách (Imagination, Cognition and Personality). Đến năm 1997, họ định nghĩa rằng: “Trí tuệ cảm xúc là năng lực nhận biết và bày tỏ cảm xúc, hòa cảm xúc vào suy nghĩ, để hiểu, suy luận về cảm xúc và để điều khiển, kiểm soát cảm xúc của mình và của người khác.” Năm 1999, Mayer, Caruso và Salovey định nghĩa chi tiết hơn: “Trí tuệ cảm xúc đề cập đến năng lực nhận biết ý nghĩa của cảm xúc và quan hệ của chúng, từ đó tìm nguyên nhân và cách giải quyết vấn đề. Trí tuệ cảm xúc liên quan đến năng lực nhận thức, đánh giá các cảm nhận liên quan đến cảm xúc, hiểu rõ thông tin của các cảm xúc đó và kiểm soát, điều khiển chúng.” Một số nhà nghiên cứu khác cũng đồng ý với quan điểm của Mayer và Salovey rằng trí tuệ cảm xúc là một dạng năng lực. Chẳng hạn, Boyatzis và cộng sự (2000) cho rằng: “Trí tuệ cảm xúc của một người thể hiện ở năng lực tự nhận thức, tự quản lý, nhận thức xã hội và các kỹ năng tương tác xã hội vào những thời điểm thích hợp với tần suất đủ để đạt hiệu quả trong những tình huống khác nhau.” Mathew và cộng sự (2002) cho rằng: “Trí tuệ cảm xúc đề cập đến năng lực nhận biết và bày tỏ cảm xúc, hiểu các cảm xúc, chuyển hóa cảm xúc vào trong suy nghĩ, điều khiển cả cảm xúc tích cực và tiêu cực của bản thân cũng như của người khác.” Khác với quan điểm xem trí tuệ cảm xúc như một năng lực thuần túy, một số tác giả cho rằng trí tuệ cảm xúc là sự kết hợp giữa các năng lực trí tuệ và các năng lực phi trí tuệ.
Tiêu biểu cho quan điểm này là R.