Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về dạy học trải nghiệm Chương 2: Biện pháp nâng cao kết quả học tập cho học sinh trong dạy học nội dung “acid - base - ph - oxide - muối”, khoa học tự nhiên lóp 8. Chương 3: Thực nghiệm sư phạm và bàn luận. Cơ SỞ LÝ LUẬN VÀ THựC TIỄN VÈ DẠY HỌC KHOA HỌC TỤ NHIÊN THEO MÔ HÌNH TRẢI NGHIỆM 1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề 7.
Trên thế giới Giáo dục theo trải nghiệm là một triết lí đưa ra nhiều phương pháp, trong đó các nhà giáo dục có mục đích thu hút người học vào trải nghiệm trực tiếp và phản ánh tập trung để nâng cao kiến thức, phát triển các kỳ năng, làm rõ các yêu càu cần đạt và phát triển năng lực của HS nhằm đóng góp cho cộng đồng. Giá trị của kinh nghiệm như một công cụ trong việc tạo ra tri thức và thúc đẩy sự phát triển của con người đã được nhìn nhận từ thế kỉ thứ IV trước công nguyên “Việc sử dụng ngôn ngừ của tri thức không phải là bằng chứng cho thấy họ sở hữu nó”. Bằng tuyên bố này, Aristotle có ý nói rằng lý thuyết không được hiểu cho đến khi một người có khả năng áp dụng nó. Khái niệm giáo dục trải nghiệm hay nói cách khác là học qua thực hành đã có một lịch sử tương đối dài.
Một số chương trình giáo dục đã đưa người học ra bên ngoài các phòng học quen thuộc đế trải nghiệm thể giới thực đế đạt được mục tiêu học tập cùa họ. Mãi cho đến khoảng thời gian cùa những năm 1970, giáo dục trải nghiệm mới nổi lên như một lĩnh vực giáo dục được công nhận và đến nàm 1977, Hiệp hội Giáo dục Trải nghiệm (AEE). Chủ yếu trong thế kỳ này, công trình của John Dewey thì học tập thông qua kinh nghiệm đã được đánh giá cao như một nền tảng quan trọng trong môi trường giáo dục. John Dewey đã đưa ra thách thức lớn đến với các nhà giáo dục trong những năm 1910, 1920, 1930 để phát triển các chương trinh giáo dục không bị cô lập khỏi các trải nghiệm thực tế.
Carl Rogers đã từng nói: “Đối với tôi, kinh nghiệm là cơ quan có thẩm quyền cao nhất. Nền tảng của giá trị là kinh nghiệm của chính tôi. Không có ý tưởng nào của người khác, và không có ý tưởng nào của riêng tôi có thẩm quyền như kinh nghiệm của tôi. Đó là kinh nghiệm mà tôi phải trở lại nhiều lần, đế khám phá một sự gần đủng hơn với sự thật vỉ nó đang trong quá trình trở thành trong tôi.
Kinh thánh hay lời tiên tri, triết học hay nghiên cứu, chúa hay con người đều không thể làm tiền lệ cho những kinh nghiệm mà tôi có. Kinh nghiệm của tôi không phải là có căn cứ chính xác vì nó không thể sai được. Nó là loại căn cứ vì nó có thể được kiểm tra theo những cách thức cơ bản mới. Theo cách này, những lỗi thường gặp hoặc những sai lầm luôn có cách sửa chữa.” Rogers phân biệt hai loại học tập: nhận thức (không có ý nghĩa) và kinh nghiệm (có ý nghĩa).
Nhận thức tương ứng với kiến thức học thuật như định nghĩa và kinh nghiệm là kiến thức được áp dụng vào thực tế. Chìa khóa của sự khác biệt này là học tập trải nghiệm đáp ứng nhu cầu và mong muốn của người học. Rogers đã liệt kê nhừng phẩm chất của học tập trải nghiệm: 5 - Sự tham gia cùa cá nhân - Kích hoạt chế độ học tập - Đánh giá bởi người học - Sự ảnh hưởng đến người học Đối với Rogers, học tập qua trải nghiệm tương đương với sự thay đổi và trưởng thành của một cá nhân. Ông cảm nhận rằng, tất cả con người đều có xu hướng học hỏi từ thế giới tự nhiên xung quanh và vì vậy vai trò của GV là tạo điều kiện cho HS của mình được trải nghiệm điều đó.
Còn đối với John Dewey, “Giáo dục chính là cuộc sống”. Triết lý giáo dục của Dewey đã thúc đẩy phong trào giáo dục tiến bộ và tạo ra sự phát triền của các chương trình và thử nghiệm “giáo dục trải nghiệm”. Bên cạnh đó, không thể không nhắc đến David Kolb - giáo sư về hành vi tổ chức. Òng chính là tác giả của Học tập qua trải nghiệm.
Một trong những lý thuyết trực của hoạt động trải nghiệm của Kolb, ông chỉ ra rằng: "Học từ trải nghiêm là quá trình học theo đó kiến thức, năng lực được tạo ra thông qua việc chuyển hóa kinh nghiêm học. Học từ trải nghiêm gần giống với học thông qua làm nhưng khác ở chỗ nó gắn với kinh nghiệm và cảm xúc cùa cá nhân Lí thuyết Học từ trải nghiêm là cách tiếp cận về phương pháp học đối với các lĩnh vực nhận thức. Đe phát triển sự hiểu biết khoa học, chúng ta có thể tác động vào nhận thức của người họ nhưng để hình thành và phát triển phấm chất thì người học phải được trải nghiệm. Chính việc trải nghiệm sể khiến cho việc học trở nên hiệu quả hơn, và chúng còn hiệu quả hơn nữa khi có sự định hướng, tư vấn của GV.
Phương pháp dạy học trải nghiệm đã được áp dụng rộng rãi trong giáo dục, đặc biệt là trong các khoa học xã hội và nhân văn, giúp HS phát triển các kỹ năng như: tư duy phản biện, giải quyết vấn đề, giao tiếp và hợp tác nhóm. Hiện nay, phương pháp dạy học trải nghiệm vẫn được sử dụng và phát triển rộng rãi trong các lĩnh vực khác nhau của giáo dục, nhằm tăng hiệu quả học tập và phát triển các kỹ năng cần thiết cho sự thành công trong công việc và cuộc sống. Một nghiên cứu được thực hiện tại Đại học Bristol ờ Anh đã sử dụng phương pháp dạy học trải nghiệm trong việc giảng dạy môn hóa học cho sinh viên đại học. Nghiên cứu này đã được công bố trên tạp chí Journal of Chemical Education vào năm 2014.
Trong nghiên cứu này, các tác giả đà sử dụng phương pháp dạy học trải nghiệm của Kolb để giảng dạy môn hóa học cho 53 sinh viên. Sinh viên được phân chia thành 2 nhóm: nhóm thực nghiệm và nhóm so sánh. Nhóm thực hiện đã tham gia vào các hoạt động thực tế như thực nghiệm và thảo luận nhóm, trong khi nhóm so sánh chỉ được giảng dạy bằng lí thuyết trên bảng đen. Kết quả cho thấy, sinh viên nhóm thực nghiệm đã có kết quả học tập tốt hơn so với nhóm so sánh.
Đặc biệt ràng sinh viên 6 trong nhóm thực nghiệm có kết quả cao hơn trong việc hiếu sâu khái niệm cơ bản trong hóa học và phát triển kỹ năng giải quyết vấn đề. Ngoài ra, phương pháp dạy học trải nghiệm của Kolb đã giúp sinh viên phát triển kỹ năng tư duy phản biện và học tập độc lập. Tại Trung Quốc, một nghiên cứu được thực hiện tại Đại học Nam Kinh đã sử dụng phương pháp dạy học trải nghiệm trong việc giảng dạy mỏn hóa học cho sinh viên. Trong nghiên cứu này, các sinh viên được khuyến khích tham gia vào các hoạt động thực tế như thực nghiệm và thảo luận nhóm đế học tập và phát triển các kỹ năng.
Kết quả cho thấy chính phương pháp này đã giúp sinh viên phát triến kỹ năng giải quyết vấn đề và phát triển khả năng hợp tác nhóm. Mặc dù phương pháp dạy học trải nghiệm có nhiều ưu điếm và được áp dụng rộng rãi trong giáo dục nhưng vẫn còn tồn tại một số khó khăn khi áp dụng phương pháp này trên Thế giới. Khó khăn chính tôi muốn đưa ra trong bài luận văn này và việc khó khăn khi đánh giá và đo lường kết quả học tập của HS. Dạy học trải nghiệm đòi hỏi HS phải có trải nghiệm và học hòi từ các hoạt động thực tế, do đó, khó đánh giá và đo lường kết quả học tập của HS.
Vì vậy việc cải thiện và phát triển cách thức đánh giá học sinh, tôi đã lựa chọn xây dựng hệ thống đánh giá các mức độ đạt được của các yêu cầu cần đạt đế từ đó đánh giá được chính xác năng lực của HS. Tuy nhiên việc GV có thề xác định rõ ràng được các mức độ đạt được các yêu cầu cần đạt còn gặp nhiều khó khăn, lúng túng trong việc xây dựng nhiệm vụ trong quá trình dạy học theo mô hình dạy học của Kolb. Bên canh đó, nhiều GV chưa thực sự biết cách áp dụng thêm các phương tiện dạy học đế nâng cao chất lượng HS. Ở Việt Nam Theo bài viết của PGS.TS Đinh Thị Kim Thoa, “Hoạt động trải nghiệm sáng tạo - Hoạt động quan trọng trong chương trình GDPT mới” có đề cập đến sự khác biệt giữa việc học đi đôi với hành và học thông qua làm, thông qua từ việc trải nghiệm.
TS có nói: “Thực hành, trải nghiệm đều là những phương thức học hiệu quả, gắn với vận động, với thao tác vật chất, với đời sống thực tiễn. Việc học thông qua làm, học đi đôi với hành và học từ trải nghiệm đều giúp người học đạt được tri thức và kinh nghiệm nhưng theo các hướng tiếp cận không hoàn toàn như nhau, trong đó trải nghiệm có ỷ nghĩa giáo dục cao nhất và có phần bao hàm cả làm và thực hành”. Qua đó cho ta thấy, hoạt động trải nghiệm sáng tạo góp phần hình thành kiến thức, kỹ nàng hay thậm chí là phẩm chất của người học. Việc học tập qua trải nghiệm không phải là điều quá mới mẻ đối với các nước trên Thế giới, tuy nhiên đối với Việt Nam thì đây là một vấn đề cần được quan tâm đặc biệt.
Việc vận dụng trải nghiệm vào giảng dạy còn hạn chế, tuy nhiên hiện nay, 7 đã có một sô GV áp dụng vào giảng dạy, viêt sáng kiên kinh nghiệm hay đưa vào các luận văn, luận án như : - Sáng kiến kinh nghiệm “Tồ chức hoạt động trải nghiệm trong dạy học bài phân bón - hóa học 11 Trung học phổ thông nhằm phát triển nàng lực hợp tác cho học sinh” của tác giả Nguyễn Văn Xô - Giáo viên trường THPT Con Cuống - Nghệ An, năm 2020. Qua việc áp dụng dạy học trải nghiệm vào giảng dạy, HS đã có nhiều thay đổi về thái độ, hành vi trong quá trình hợp tác theo chiều hướng tích cực và đạt hiệu quả hơn, nâng cao hiệu quả lĩnh hội tri thức của HS như: HS chủ động, hãng say, tích cực tham gia các hoạt động học tập hợp tác, nghiêm túc làm việc; nhiệm vụ của từng thành viên chi tiết, rõ ràng, phát huy toàn bộ khả năng; HS hăng hái trao đổi chứng tỏ HS đã có khả năng thực hiện nhiệm vụ được giao và được thể hiện ở kết quả kiểm tra cuối bài.