Tổng quan luận án

Đề tài "Giáo dục kĩ năng giao tiếp cho học sinh lớp 5 qua trò chơi" do tác giả Trần Thị Lan thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS Đặng Thành Hưng, được bảo vệ tại Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 năm 2023, thuộc chuyên ngành Giáo dục học (mã số: 9 14 01 01).

Văn bản luận án đặt vấn đề nghiên cứu trong bối cảnh cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, khi sự phát triển của công nghệ và trí tuệ nhân tạo đặt ra yêu cầu nâng cao vị trí, vai trò của người lao động thông qua sự kết nối thông tin và cảm xúc giữa con người với con người. Trong Chương trình Giáo dục phổ thông 2018 tại Việt Nam, năng lực Giao tiếp và hợp tác được xác định là một trong những năng lực chung cốt lõi cần hình thành cho học sinh ở mọi môn học và hoạt động giáo dục. Tuy nhiên, tác giả chỉ ra khoảng trống nghiên cứu và thực tiễn: việc giáo dục kĩ năng giao tiếp trong nhà trường tiểu học hiện nay chủ yếu được lồng ghép trong dạy học tích hợp các môn học cụ thể (như môn Toán, môn Tiếng Việt) nhưng chưa được quan tâm đúng mức; các nghiên cứu trước đây thường bàn chung chung về tri thức kĩ năng mà chưa đi sâu vào quy trình rèn luyện kĩ năng, đặc biệt là lí luận về giáo dục kĩ năng giao tiếp cho học sinh lớp 5 thông qua phương tiện trò chơi giáo dục vẫn chưa được giải quyết một cách có hệ thống.

Mục đích nghiên cứu của luận án là trên cơ sở nghiên cứu lí luận và đánh giá thực trạng giáo dục kĩ năng giao tiếp cho học sinh lớp 5 qua trò chơi, đề xuất các biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả giáo dục kĩ năng giao tiếp cho học sinh lớp 5.

Giả thuyết khoa học của luận án được xác định: Nếu các biện pháp giáo dục kĩ năng giao tiếp dựa vào trò chơi mà luận án đề xuất được thiết kế và thực hiện phù hợp với chính những trò chơi đó, tạo được môi trường khuyến khích học sinh giao tiếp và trải nghiệm, tạo nhiều cơ hội rèn luyện kĩ năng thì chúng sẽ góp phần phát triển kĩ năng giao tiếp và cải thiện kết quả học tập của học sinh.

Nhiệm vụ nghiên cứu được phân định thành 3 nhiệm vụ cụ thể:

  1. Xác định cơ sở lí luận và thực trạng của việc giáo dục kĩ năng giao tiếp qua trò chơi ở tiểu học.
  2. Đề xuất các biện pháp giáo dục kĩ năng giao tiếp cho học sinh lớp 5 qua trò chơi.
  3. Thực nghiệm sư phạm và đánh giá kết quả nghiên cứu bằng thực nghiệm sư phạm.

Khách thể nghiên cứu là quá trình giáo dục kĩ năng giao tiếp cho học sinh lớp 5 trong nhà trường tiểu học. Đối tượng nghiên cứu là các biện pháp giáo dục kĩ năng giao tiếp cho học sinh lớp 5 qua trò chơi trong nhà trường tiểu học.

Phạm vi nghiên cứu của đề tài được giới hạn trên các phương diện:

  • Về nội dung: Luận án sử dụng trò chơi giáo dục (trò chơi được sử dụng trong hoạt động giáo dục/dạy học có mục đích giáo dục) làm phương tiện giáo dục kĩ năng giao tiếp cho học sinh lớp 5; các biện pháp giáo dục kĩ năng giao tiếp được giới hạn ở cấp trường và tập trung vào một số kĩ năng thiết thực đối với học sinh cuối cấp tiểu học.
  • Về không gian và địa bàn: Khảo sát thực trạng giáo viên và học sinh lớp 5 tại 15 trường tiểu học thuộc thành phố Hà Nội, phân bố đều theo ba khu vực địa bàn: 5 trường thuộc khu vực đô thị trung tâm (quận Cầu Giấy), 5 trường thuộc khu vực nông thôn (huyện Mê Linh), 5 trường thuộc khu vực miền núi (huyện Ba Vì). Địa bàn thực nghiệm sư phạm được tiến hành tại 03 trường tiểu học thuộc huyện Mê Linh.
  • Về thời gian: Khảo sát thực trạng được thực hiện vào học kì 2 năm học 2021 - 2022; thực nghiệm sư phạm được triển khai trong học kì 1 và học kì 2 năm học 2022 - 2023.
  • Về kế hoạch bài dạy thực nghiệm: Thiết kế 2 tiết dạy thực nghiệm, áp dụng ở phân môn Luyện từ và câu (môn Tiếng Việt lớp 5) và tiết sinh hoạt lớp.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Luận án đã tổng thuật hệ thống các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến giao tiếp, kĩ năng giao tiếp và trò chơi giáo dục theo các nhóm hướng tiếp cận chính:

Về giao tiếp và kĩ năng giao tiếp, tác giả điểm lại các nghiên cứu triết học và tâm lý học từ thời cổ đại đến hiện đại: quan niệm đối thoại của Xoocrate, Platon; các bức vẽ phản ánh giao tiếp mẹ con thời Phục Hưng của Leonardo da Vinci; luận điểm của L. Feuerbach và C. Mác về bản chất người trong quan hệ giao tiếp trực tiếp. Dưới góc độ tâm lý học, các nghiên cứu của L.X. Vygotsky, S.L. Rubinstein, M.I. Lisina nhấn mạnh giao tiếp là nhu cầu cơ bản hình thành nhân cách; cuộc tranh luận khoa học giữa A.N. Leontiev (coi giao tiếp là một dạng hoạt động) và B.F. Lomov (coi giao tiếp và hoạt động là hai phạm trù đồng đẳng). Ở Việt Nam, các tác giả Ngô Công Hoàn, Nguyễn Ánh Tuyết, Nguyễn Như Mai, Đinh Kim Thoa, Nguyễn Bá Đức, Lê Mạnh Hùng, Lưu Thu Thủy, Bùi Thị Hội nghiên cứu đặc điểm tâm lý, hành vi giao tiếp có văn hóa của học sinh.

Về góc độ văn hóa - xã hội và ngôn ngữ học, luận án ghi nhận công trình của W.B. Gudykunst, Y.Y. Kim, B.C. Dobkin, Elise B., cùng các nhà nghiên cứu trong nước như Nguyễn Quang, Nguyễn Văn Lê, Trần Trọng Thủy nghiên cứu về triết lý giao tiếp, văn hóa ứng xử; A. Konsôva và Pacer nghiên cứu về phương tiện giao tiếp phi ngôn ngữ. Về phân loại kĩ năng giao tiếp, tác giả phân tích hai khuynh hướng chính: phân loại theo tiến trình các giai đoạn (V.Dakharov, Hoàng Anh, Đỗ Thị Châu, Nguyễn Thạc) và phân loại theo các yếu tố cấu thành thông điệp, phương tiện (Đặng Thành Hưng, Trần Trọng Thủy, Nguyễn Văn Đồng).

Về nghiên cứu trò chơi và trò chơi giáo dục, luận án phân tích các quan điểm lý luận kinh điển của D.B. Elkonin, N.K. Krupskaya, G.V. Plekhanov, A.S. Makarenko về bản chất xã hội của trò chơi và vai trò của trò chơi đối với sự phát triển nhân cách trẻ em. Các công trình quốc tế của Janet Moyles (2005), D. Seifert và Robert J. Hoffnung (1987), James E. Johnson (1976), Paula Y. Mullineaux và L. Dilalla (2009), Charles H. Wolfgang, Laura L. Stannard, Ithel Johnes (2001), Ingrid Chalufour (2004), James F. Christie đã chứng minh tác dụng của trò chơi trong việc tích cực hóa hoạt động nhận thức của học sinh. Tại Việt Nam, các nghiên cứu của Phan Thị Lan Anh (2010), Lê Thị Minh Hà (2002), Nguyễn Thị Hòa (2003), Trương Thị Xuân Huệ (2004), Bùi Thị Lâm (2011), Lê Thị Bừng, Ngô Giang Nam (2018) đã đề cập đến trò chơi đóng vai, trò chơi học tập môn Toán hoặc trò chơi cho trẻ mầm non và học sinh vùng cao. Đồng thời, tác giả viện dẫn dự án "Học thông qua chơi" (iPlay) do Tổ chức Hợp tác Phát triển và Hỗ trợ Kỹ thuật vùng Fla-măng (VVOB) phối hợp với Bộ Giáo dục và Đào tạo triển khai tại Việt Nam, dựa trên 5 đặc điểm học qua chơi của Zosh (2018).

Khoảng trống nghiên cứu được luận án xác định: Phần lớn các công trình trong và ngoài nước tập trung vào đối tượng trẻ em mầm non, học sinh THCS hoặc các đối tượng chuyên biệt (trẻ khuyết tật, học sinh dân tộc thiểu số). Chưa có công trình nào trực tiếp nghiên cứu chuyên sâu về quy trình thiết kế, lựa chọn và tổ chức trò chơi giáo dục nhằm phát triển kĩ năng giao tiếp toàn diện cho học sinh lớp 5 trong trường tiểu học. Luận án đặt vị trí nghiên cứu vào việc giải quyết khoảng trống này thông qua một hệ thống giải pháp sư phạm hoàn chỉnh.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Luận án vận dụng 5 quan điểm và cách tiếp cận phương pháp luận cơ bản:

  1. Tiếp cận hệ thống - cấu trúc: Xem giáo dục kĩ năng giao tiếp qua trò chơi là một hệ thống toàn vẹn gồm mục tiêu, nguyên tắc, nội dung, hình thức và đánh giá kết quả; các thành tố có mối quan hệ tương tác, phụ thuộc lẫn nhau.
  2. Tiếp cận tích hợp: Tích hợp nội dung giáo dục kĩ năng giao tiếp vào các môn học và hoạt động giáo dục thông qua trò chơi nhằm tránh trùng lặp và phát huy hứng thú học tập.
  3. Tiếp cận hoạt động: Xác định kĩ năng giao tiếp được hình thành và biến đổi thông qua hoạt động thực tế; người học được trải nghiệm chủ động qua các hành động chơi.
  4. Tiếp cận năng lực: Bám sát yêu cầu cần đạt của năng lực Giao tiếp và hợp tác theo Chương trình Giáo dục phổ thông 2018.
  5. Tiếp cận kĩ năng sống: Xem kĩ năng giao tiếp là kĩ năng sống cốt lõi, tập trung chuyển dịch kiến thức, hiểu biết thành thái độ và hành vi giao tiếp cụ thể.

Về khái niệm công cụ, luận án tiếp thu định nghĩa của PGS.TS Đặng Thành Hưng:

  • Kĩ năng: Là dạng hành động được thực hiện có tính kĩ thuật, một cách linh hoạt trong các điều kiện, môi trường khác nhau dựa trên kinh nghiệm sống, hiểu biết, khả năng vận động và các điều kiện sinh học, tâm lý, xã hội của cá nhân để giải quyết vấn đề nhằm đạt kết quả theo mục đích đã định.
  • Kĩ năng giao tiếp: Là một dạng hành động có tính kĩ thuật giúp các bên tiến hành giao tiếp, được thực hiện tự giác dựa trên tri thức về công việc liên quan, khả năng vận động và những điều kiện sinh học - tâm lý - xã hội của cá nhân để đạt được mục đích hoặc lợi ích giao tiếp đã định.
  • Trò chơi giáo dục: Là những trò chơi được lựa chọn và sử dụng trực tiếp để dạy học, tuân theo mục đích, nội dung, nguyên tắc và phương pháp dạy học, có chức năng tổ chức, hướng dẫn và động viên học sinh tìm kiếm, lĩnh hội tri thức, rèn luyện kĩ năng, hành vi ứng xử văn hóa, xã hội.

Về khung phân loại kĩ năng giao tiếp, luận án dựa trên hệ thống của V.Dakharov gồm 4 nhóm với 10 kĩ năng cụ thể: nhóm kĩ năng đóng vai tích cực chủ động; nhóm kĩ năng thể hiện sự thụ động; nhóm kĩ năng điều chỉnh sự phù hợp cân bằng; nhóm kĩ năng diễn đạt cụ thể, dễ hiểu. Đối chiếu với yêu cầu của Chương trình Giáo dục phổ thông 2018 và đặc điểm lứa tuổi học sinh lớp 5, tác giả xác định 7 kĩ năng có thể giáo dục qua trò chơi: (1) Kĩ năng nghe đối tượng giao tiếp, (2) Kĩ năng tự chủ cảm xúc, hành vi, (3) Kĩ năng diễn đạt cụ thể, dễ hiểu, (4) Kĩ năng linh hoạt mềm dẻo trong giao tiếp, (5) Kĩ năng thuyết phục đối tượng, (6) Kĩ năng điều khiển quá trình giao tiếp, (7) Sự nhạy cảm trong giao tiếp. Trong đó, luận án lựa chọn 3 kĩ năng cốt lõi để theo dõi, đo đạc thực nghiệm:

  • Kĩ năng nghe đối tượng giao tiếp.
  • Kĩ năng diễn đạt cụ thể, dễ hiểu.
  • Kĩ năng tự chủ cảm xúc, hành vi.

Về phân loại trò chơi, luận án sử dụng cách phân loại theo chức năng tâm sinh lý của Đặng Thành Hưng gồm: nhóm trò chơi phát triển nhận thức (cảm giác, tri giác, trí nhớ, tư duy, tưởng tượng); nhóm trò chơi phát triển các giá trị (thái độ, cảm xúc, chuẩn mực đạo đức, thẩm mỹ); nhóm trò chơi phát triển vận động. Cấu trúc một trò chơi giáo dục được chuẩn hóa gồm 7 thành phần: (1) Tên trò chơi, (2) Mục tiêu trò chơi (mục tiêu kép: kiến thức bài học và kĩ năng giao tiếp), (3) Phương tiện và điều kiện chơi, (4) Luật/quy tắc chơi, (5) Số người tham gia, (6) Hành động chơi, (7) Kết quả chơi và khen thưởng.

Về phương pháp nghiên cứu thực tiễn và xử lý dữ liệu:

  • Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi và phỏng vấn: Khảo sát cán bộ quản lý, giáo viên và học sinh lớp 5 tại 15 trường tiểu học thuộc quận Cầu Giấy, huyện Mê Linh, huyện Ba Vì; phân tích hồ sơ dạy học và kế hoạch bài dạy của giáo viên.
  • Phương pháp thực nghiệm sư phạm: Tổ chức tại 3 trường tiểu học thuộc huyện Mê Linh với nhóm thực nghiệm (TN) và nhóm đối chứng (ĐC) tương đương; áp dụng các bài dạy tích hợp trò chơi rèn luyện kĩ năng giao tiếp.
  • Phương pháp nghiên cứu trường hợp: Theo dõi chi tiết diễn biến tâm lý, thái độ và sự tiến bộ về hành vi giao tiếp của 02 học sinh cụ thể qua các giai đoạn trước, trong và sau thực nghiệm.
  • Phương pháp thống kê toán học: Toàn bộ số liệu thực nghiệm được xử lý bằng phần mềm SPSS phiên bản 20.0, áp dụng quy trình phân tích phương sai một yếu tố (One-Way ANOVA), kiểm định tính đồng nhất của phương sai (Test of Homogeneity of Variances - Levene Test), các kiểm định độ bền vững (Robust Tests of Equality of Means: Welch và Brown-Forsythe) và tính toán độ lớn ảnh hưởng (Effect Size).

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Cơ sở lí luận của giáo dục kĩ năng giao tiếp cho học sinh lớp 5 qua trò chơi

Chương này trình bày toàn bộ khung lý thuyết của đề tài. Tác giả phân tích đặc điểm tâm sinh lý của học sinh lớp 5 (độ tuổi 11 - 12): giai đoạn hoàn thiện thể chất, tri giác mang tính đại thể và gắn liền với cảm xúc trực quan; tư duy chuyển dần từ các thao tác cụ thể sang khái quát hóa lý luận; nhu cầu giao tiếp mở rộng ra ngoài phạm vi gia đình đến bạn bè và tập thể lớp. Vốn kinh nghiệm giao tiếp của học sinh lớp 5 đã có những nền tảng nhất định về ngôn ngữ và biểu cảm phi ngôn ngữ, nhưng còn thiếu tính tự chủ, dễ nảy sinh tranh cãi, mất bình tĩnh khi gặp bất đồng.

Luận điểm cơ bản của chương là khẳng định tính ưu việt của trò chơi giáo dục trong việc phát triển kĩ năng giao tiếp. Trò chơi có bản chất xã hội sâu sắc, mô phỏng các mối quan hệ đời sống, buộc người chơi phải tương tác, trao đổi thông tin, tuân thủ kỷ luật và luật chơi. Chương 1 xác định nguyên tắc thiết kế trò chơi phục vụ phát triển kĩ năng giao tiếp phải hướng tới "mục tiêu kép": vừa đáp ứng mục tiêu học tập của bài học, vừa tạo môi trường cho học sinh thực hành các kĩ năng nghe, nói, bày tỏ cảm xúc và giải quyết xung đột. Con đường giáo dục được xác định là thông qua dạy học các môn học (đặc biệt là môn Tiếng Việt) và các hoạt động giáo dục tập thể ngoài giờ lên lớp.

Chương 2: Thực trạng giáo dục kĩ năng giao tiếp qua trò chơi cho học sinh lớp 5

Chương 2 mô tả chi tiết kết quả khảo sát thực tế tại 15 trường tiểu học trên địa bàn thành phố Hà Nội đại diện cho 3 vùng sinh thái giáo dục: đô thị (Cầu Giấy), nông thôn (Mê Linh) và miền núi (Ba Vì).

Tiêu chí khảo sát Số lượng / Đối tượng
Địa bàn khảo sát 15 trường tiểu học (5 trường quận Cầu Giấy, 5 trường huyện Mê Linh, 5 trường huyện Ba Vì)
Lực lượng tham gia khảo sát Cán bộ quản lý, giáo viên dạy lớp 5 và học sinh khối lớp 5
Thời gian khảo sát Học kì 2 năm học 2021 - 2022
Công cụ khảo sát Bảng hỏi giáo viên, bảng hỏi học sinh, phiếu phân tích giáo án, biên bản quan sát giờ dạy, phỏng vấn sâu

Kết quả khảo sát phản ánh các nội dung thực trạng:

  • Về nhận thức: Phần lớn giáo viên và học sinh đều nhận thức được lợi ích của trò chơi trong việc phát triển kĩ năng giao tiếp, tạo hứng thú và giải tỏa căng thẳng trong học tập. Giáo viên đánh giá cao sự cần thiết của các kĩ năng nghe, diễn đạt mạch lạc và tự chủ hành vi.
  • Về mức độ thực hiện: Trò chơi chủ yếu được giáo viên sử dụng trong các hoạt động khởi động bài học hoặc củng cố kiến thức cuối tiết học; rất ít khi trò chơi được thiết kế như một hoạt động học tập chính nhằm rèn luyện kĩ năng giao tiếp. Trong phân tích giáo án, mục tiêu kĩ năng giao tiếp hầu như không được đưa vào mục tiêu bài dạy thành các tiêu chí cụ thể.
  • Về thực trạng kĩ năng giao tiếp của học sinh: Học sinh tham gia trò chơi thường có biểu hiện ganh đua quá mức, dễ nổi nóng, tranh cãi gay gắt khi thua cuộc, thiếu kiên nhẫn lắng nghe ý kiến của bạn cùng nhóm và gặp khó khăn khi diễn đạt ý tưởng một cách ngắn gọn, súc tích.
  • Khó khăn của giáo viên: Hạn chế về quỹ thời gian trong một tiết học (35 - 40 phút); quy mô lớp học đông; khó khăn trong việc quản lý trật tự lớp học khi tổ chức chơi; thiếu tài liệu hướng dẫn kỹ thuật thiết kế trò chơi tích hợp kĩ năng giao tiếp.

Tác giả chỉ ra nguyên nhân chủ yếu của những hạn chế trên là giáo viên chưa nắm vững quy trình sư phạm về thiết kế và tổ chức trò chơi có định hướng phát triển kĩ năng; cơ sở vật chất phòng học chưa thật sự linh hoạt cho các hoạt động vận động nhóm.

Chương 3: Biện pháp giáo dục kĩ năng giao tiếp cho học sinh lớp 5 qua trò chơi

Dựa trên cơ sở lý luận và thực trạng đã khảo sát, tác giả đề xuất 4 biện pháp sư phạm đồng bộ, được xây dựng trên 3 nguyên tắc: đảm bảo phát triển kĩ năng giao tiếp qua tổ chức trò chơi; đảm bảo tính vừa sức, phù hợp với học sinh lớp 5; đảm bảo tính hiệu quả sư phạm.

Hệ thống các biện pháp cụ thể bao gồm:

  1. Xây dựng quy trình thiết kế và lựa chọn trò chơi giáo dục kĩ năng giao tiếp: Luận án cụ thể hóa quy trình gồm các bước xác định mục tiêu kép, phân tích nội dung bài học, lựa chọn loại hình trò chơi phù hợp (nhận thức, giá trị hoặc vận động), xây dựng luật chơi và phân công vai trò nhằm tối đa hóa cơ hội tương tác giữa các cá nhân trong nhóm.
  2. Xây dựng kĩ thuật thiết kế kế hoạch bài dạy/hoạt động giáo dục nhằm giáo dục kĩ năng giao tiếp qua trò chơi: Cung cấp kĩ thuật biên soạn kế hoạch bài dạy tích hợp, trong đó xác định rõ thời điểm tổ chức trò chơi (khám phá kiến thức mới, luyện tập hay củng cố); chỉ rõ các chỉ báo hành vi giao tiếp mà học sinh cần thể hiện trong từng pha hoạt động; chuẩn bị hệ thống câu hỏi gợi mở của giáo viên.
  3. Tổ chức giáo dục kĩ năng giao tiếp qua một số trò chơi giáo dục kĩ năng giao tiếp: Triển khai các kịch bản trò chơi mẫu có nội dung tích hợp (khoa học, nghệ thuật, xã hội, môi trường, đời sống) vào phân môn Luyện từ và câu và giờ sinh hoạt lớp. Hướng dẫn giáo viên phương pháp quan sát, can thiệp sư phạm kịp thời để uốn nắn các hành vi tranh cãi, hướng dẫn học sinh lắng nghe và diễn đạt đúng mực.
  4. Thiết kế và tổ chức môi trường khuyến khích rèn luyện kĩ năng giao tiếp: Tổ chức không gian lớp học linh hoạt, xây dựng văn hóa giao tiếp bình đẳng, tôn trọng sự khác biệt; thiết lập quy tắc ứng xử nhóm, khen thưởng các cá nhân và tập thể có thái độ hợp tác tích cực, giúp học sinh giải tỏa áp lực tâm lý khi bộc lộ bản thân.

Chương 3 khẳng định 4 biện pháp này có mối quan hệ biện chứng chặt chẽ, trong đó quy trình thiết kế và kĩ thuật soạn giảng là điều kiện cần, việc tổ chức chơi là nội dung trọng tâm, và môi trường khuyến khích là điều kiện đủ để các kĩ năng được hình thành bền vững.

Chương 4: Thực nghiệm sư phạm

Chương 4 kiểm chứng tính khả thi và hiệu quả của các biện pháp đã đề xuất. Thực nghiệm được tiến hành tại 03 trường tiểu học thuộc huyện Mê Linh, thành phố Hà Nội trong năm học 2022 - 2023, phân chia học sinh thành nhóm thực nghiệm (TN) và nhóm đối chứng (ĐC) với số lượng và trình độ ban đầu tương đương.

Quá trình đánh giá được thực hiện qua 3 giai đoạn: trước thực nghiệm, giữa thực nghiệm và sau thực nghiệm, tập trung vào hai trục chỉ số chính:

  1. Mức độ tích cực giao tiếp của học sinh trong các hoạt động.
  2. Sự tiến bộ ở 3 kĩ năng giao tiếp cốt lõi: kĩ năng nghe đối tượng giao tiếp; kĩ năng diễn đạt cụ thể, dễ hiểu; kĩ năng tự chủ cảm xúc, hành vi.
Trục đánh giá Các bước phân tích thống kê trên SPSS 20.0 Ý nghĩa kết quả ghi nhận
Mức độ tích cực giao tiếp - Thống kê mô tả (Mean, Std. Deviation)
- Test of Homogeneity of Variances
- Phân tích One-Way ANOVA
- Robust Tests of Equality of Means
Trước thực nghiệm: Không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa nhóm TN và ĐC.
Sau thực nghiệm: Điểm trung bình nhóm TN cao hơn rõ rệt nhóm ĐC với mức ý nghĩa thống kê p < 0.05.
Sự tiến bộ của các kĩ năng giao tiếp cụ thể - Đánh giá tại 3 thời điểm: trước, giữa và sau thực nghiệm
- Test of Homogeneity of Variances
- Phân tích ANOVA & Robust Tests
- Đo lường mức độ ảnh hưởng (Effect Size)
Nhóm TN có sự tiến bộ vượt bậc ở cả 3 kĩ năng: kĩ năng lắng nghe tập trung hơn; kĩ năng diễn đạt ngắn gọn, đúng trọng tâm tăng lên; kĩ năng tự kiềm chế, điều chỉnh cảm xúc khi tranh luận được cải thiện rõ rệt so với nhóm ĐC.
Phân tích trường hợp (Case study) Theo dõi dọc 02 trường hợp học sinh có khó khăn về giao tiếp trước thực nghiệm Học sinh có chuyển biến thực tế: từ rụt rè, thụ động hoặc hiếu thắng sang chủ động tham gia phối hợp với nhóm, biết chấp nhận kết quả thắng thua của trò chơi.

Đánh giá chung kết quả thực nghiệm khẳng định việc đưa trò chơi giáo dục vào kế hoạch bài dạy theo đúng quy trình sư phạm đã mang lại hiệu quả rõ rệt, chứng minh tính đúng đắn của giả thuyết khoa học ban đầu.

Kết quả và những đóng góp mới

Về mặt lý luận, luận án góp phần làm sáng tỏ quan niệm khoa học về kĩ năng giao tiếp ở lứa tuổi học sinh tiểu học, tiếp cận dưới góc độ một kĩ năng học tập cốt lõi của học sinh. Đề tài hệ thống hóa cơ sở lý luận về việc sử dụng trò chơi giáo dục như một phương tiện đặc thù để phát triển kĩ năng giao tiếp; chỉ rõ mối liên kết giữa cấu trúc của trò chơi với các biểu hiện hành vi giao tiếp theo định hướng Chương trình Giáo dục phổ thông 2018.

Về mặt thực tiễn, luận án mang lại những đóng góp cụ thể:

  • Cung cấp bức tranh thực trạng toàn diện về hoạt động giáo dục kĩ năng giao tiếp qua trò chơi tại 15 trường tiểu học đại diện cho ba vùng đô thị, nông thôn và miền núi trên địa bàn Hà Nội; chỉ rõ những bất cập trong nhận thức, cách thiết kế giáo án và năng lực điều hành trò chơi của giáo viên.
  • Đề xuất hệ thống 4 biện pháp đồng bộ có tính khả thi, trong đó xây dựng quy trình thiết kế và kĩ thuật soạn kế hoạch bài dạy tích hợp trò chơi với nội dung phong phú (khoa học, nghệ thuật, xã hội, môi trường) áp dụng cụ thể vào phân môn Luyện từ và câu và giờ sinh hoạt lớp.
  • Xây dựng quy trình đo lường thực nghiệm khoa học, chuẩn hóa các tiêu chí đánh giá kĩ năng giao tiếp của học sinh tiểu học bằng phần mềm thống kê SPSS 20.0, làm bằng chứng xác thực cho sự tiến bộ của học sinh.

Về khuyến nghị, luận án đề xuất:

  • Đối với Bộ Giáo dục và Đào tạo, các Sở, Phòng Giáo dục và Đào tạo: Cần tổ chức các chuyên đề bồi dưỡng chuyên môn cho giáo viên tiểu học về phương pháp dạy học thông qua chơi; bổ sung tài liệu hướng dẫn kĩ thuật thiết kế trò chơi rèn luyện kĩ năng giao tiếp.
  • Đối với Ban giám hiệu các trường tiểu học: Tạo điều kiện linh hoạt về thời khóa biểu, trang bị cơ sở vật chất phòng học, khuyến khích giáo viên mạnh dạn đổi mới hình thức tổ chức dạy học.
  • Đối với giáo viên tiểu học: Cần chủ động đưa mục tiêu rèn luyện kĩ năng giao tiếp vào giáo án; kiên trì rèn nếp tự chủ cảm xúc cho học sinh trong các hoạt động tập thể.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Về mặt hạn chế, văn bản luận án phản ánh một số điểm giới hạn:

  • Phạm vi địa bàn khảo sát và thực nghiệm mới chỉ thực hiện trên địa bàn thành phố Hà Nội (khảo sát tại Cầu Giấy, Mê Linh, Ba Vì; thực nghiệm tại 3 trường thuộc huyện Mê Linh), do đó chưa bao quát được toàn diện đặc điểm học sinh tiểu học ở các vùng miền văn hóa khác trên cả nước.
  • Kế hoạch bài dạy thực nghiệm sư phạm chỉ tập trung thiết kế cho 2 tiết học ở phân môn Luyện từ và câu (môn Tiếng Việt lớp 5) và tiết sinh hoạt lớp; chưa mở rộng thử nghiệm trên tất cả các môn học khác trong chương trình lớp 5 như Toán, Khoa học, Lịch sử và Địa lý.
  • Luận án tập trung đo đạc sâu vào 3 kĩ năng giao tiếp cốt lõi (nghe, diễn đạt, tự chủ cảm xúc), chưa có điều kiện khảo sát thực nghiệm chuyên sâu toàn bộ 7 kĩ năng giao tiếp đã định danh.

Hướng nghiên cứu tiếp theo có thể phát triển từ đề tài bao gồm việc mở rộng quy mô thực nghiệm sang các khối lớp khác ở cấp tiểu học (lớp 1 đến lớp 4); thử nghiệm thiết kế trò chơi giáo dục kĩ năng giao tiếp trên nhiều môn học tích hợp khác nhau; đồng thời nghiên cứu phối hợp giữa gia đình và nhà trường trong việc duy trì và rèn luyện kĩ năng giao tiếp thông qua trò chơi tại gia đình.

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu tham khảo có giá trị chuyên môn đối với nhiều đối tượng trong lĩnh vực khoa học giáo dục:

  • Đối với nghiên cứu sinh, học viên cao học chuyên ngành Giáo dục học và Lý luận dạy học Tiểu học: Luận án cung cấp khung cơ sở lý thuyết chặt chẽ về kĩ năng, kĩ năng giao tiếp (dựa trên quan điểm của Đặng Thành Hưng, V.Dakharov) và quy trình xử lý thực nghiệm sư phạm bằng phân tích phương sai One-Way ANOVA, kiểm định Levene, Robust Tests trên phần mềm SPSS 20.0.
  • Đối với cán bộ quản lý giáo dục tiểu học và chuyên viên phụ trách chuyên môn: Đề tài cung cấp cơ sở dữ liệu thực trạng đáng tin cậy về những khó khăn của giáo viên tiểu học khi đổi mới phương pháp dạy học theo Chương trình Giáo dục phổ thông 2018, từ đó có căn cứ xây dựng kế hoạch bồi dưỡng giáo viên phù hợp.
  • Đối với giáo viên tiểu học: Các kịch bản trò chơi mẫu, kĩ thuật thiết kế kế hoạch bài dạy tích hợp ở Chương 3 là tài liệu hướng dẫn trực tiếp, giúp giáo viên vận dụng ngay vào thực tế giảng dạy phân môn Luyện từ và câu cũng như các hoạt động trải nghiệm, sinh hoạt lớp.
  • Đối với phụ huynh học sinh: Cung cấp góc nhìn về vai trò của hoạt động chơi trong việc uốn nắn hành vi, rèn luyện thói quen lắng nghe và kiểm soát cảm xúc cho trẻ cuối cấp tiểu học.

Câu hỏi thường gặp

  1. Khái niệm kĩ năng và kĩ năng giao tiếp trong luận án được tiếp cận theo quan điểm lý thuyết của tác giả nào? Luận án thống nhất sử dụng quan niệm của PGS.TS Đặng Thành Hưng. Theo đó, kĩ năng là dạng hành động được thực hiện có tính kĩ thuật, một cách linh hoạt trong các điều kiện khác nhau để đạt kết quả theo tiêu chí đã định; kĩ năng giao tiếp là một dạng hành động có tính kĩ thuật giúp các bên tiến hành giao tiếp, được thực hiện tự giác dựa trên tri thức liên quan, khả năng vận động và các điều kiện tâm lý - xã hội để đạt mục đích giao tiếp.

  2. Luận án lựa chọn những kĩ năng giao tiếp cụ thể nào của học sinh lớp 5 để theo dõi và đo lường sự tiến bộ trong thực nghiệm sư phạm? Từ khung phân loại 10 kĩ năng của V.Dakharov và đối chiếu với Chương trình Giáo dục phổ thông 2018, luận án xác định 7 kĩ năng có thể giáo dục qua trò chơi, trong đó chọn 3 kĩ năng thường xuyên sử dụng nhất trong học tập và sinh hoạt để theo dõi, đo lường thực nghiệm: (1) Kĩ năng nghe đối tượng giao tiếp, (2) Kĩ năng diễn đạt cụ thể, dễ hiểu, (3) Kĩ năng tự chủ cảm xúc, hành vi.

  3. Địa bàn khảo sát thực trạng và địa bàn thực nghiệm sư phạm của đề tài được triển khai ở đâu? Khảo sát thực trạng được thực hiện tại 15 trường tiểu học thuộc thành phố Hà Nội đại diện cho 3 vùng: quận Cầu Giấy (đô thị), huyện Mê Linh (nông thôn) và huyện Ba Vì (miền núi). Thực nghiệm sư phạm được triển khai tại 03 trường tiểu học thuộc địa bàn huyện Mê Linh, thành phố Hà Nội.

  4. Bốn biện pháp giáo dục kĩ năng giao tiếp cho học sinh lớp 5 qua trò chơi được đề xuất trong Chương 3 là gì? Bốn biện pháp gồm: (1) Xây dựng quy trình thiết kế và lựa chọn trò chơi giáo dục kĩ năng giao tiếp; (2) Xây dựng kĩ thuật thiết kế kế hoạch bài dạy/hoạt động giáo dục nhằm giáo dục kĩ năng giao tiếp qua trò chơi; (3) Tổ chức giáo dục kĩ năng giao tiếp qua một số trò chơi giáo dục kĩ năng giao tiếp cụ thể; (4) Thiết kế và tổ chức môi trường khuyến khích rèn luyện kĩ năng giao tiếp.

  5. Luận án đã sử dụng các kĩ thuật thống kê toán học nào trên phần mềm SPSS để xử lý số liệu thực nghiệm ở Chương 4? Tác giả sử dụng phần mềm SPSS phiên bản 20.0 để thực hiện thống kê mô tả (Mean, Std. Deviation), kiểm định tính đồng nhất của phương sai (Test of Homogeneity of Variances), phân tích phương sai một yếu tố (One-Way ANOVA), các kiểm định độ bền vững (Robust Tests of Equality of Means: Welch và Brown-Forsythe) và tính toán chỉ số mức độ ảnh hưởng (Effect Size) ở cả 3 thời điểm trước, giữa và sau thực nghiệm.

Kết luận

Luận án tiến sĩ "Giáo dục kĩ năng giao tiếp cho học sinh lớp 5 qua trò chơi" của tác giả Trần Thị Lan là một công trình nghiên cứu chuyên ngành Giáo dục học được thực hiện công phu, giải quyết thỏa đáng vấn đề phát triển kĩ năng giao tiếp cho học sinh cuối cấp tiểu học thông qua phương tiện trò chơi giáo dục. Bằng việc kết hợp nghiên cứu lý luận có hệ thống, khảo sát thực trạng trên diện rộng tại 15 trường tiểu học ở Hà Nội và kiểm chứng qua thực nghiệm sư phạm với các kĩ thuật thống kê toán học chuẩn xác, luận án đã chứng minh tính hiệu quả và khả thi của hệ thống biện pháp sư phạm do tác giả xây dựng. Các kết quả nghiên cứu không chỉ bổ sung cơ sở khoa học cho lý luận giáo dục tiểu học mà còn cung cấp bộ tài liệu ứng dụng thiết thực phục vụ công tác giảng dạy của giáo viên theo định hướng phát triển năng lực của Chương trình Giáo dục phổ thông 2018.