Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI VỀ QUẢN LÝ CẢM XÚC CỦA HỌC SINH TRƯỜNG TIỂU HỌC 1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề 1. Nghiên cứu ở nước ngoài Ở nước ngoài, các công trình nghiên cứu về “quản lý cảm xúc” còn ít, chưa được phổ biến. Các công trình nghiên cứu ở nước ngoài thiên về nghiên cứu “trí tuệ cảm xúc” như trong lĩnh vực tâm lý học có các đại biểu tiêu biểu nghiên cứu về EI.Thorndike (1970), giáo sư tâm lý giáo dục ở trường Đại học tổng hợp Columbia là một trong những người đầu tiên tìm cách nhận dạng trí tuệ cảm xúc mà lúc đó ông gọi là trí tuệ xã hội.
Trí tuệ xã hội theo ông là “Năng lực hiểu và kiểm soát của một người đàn ông, đàn bà, con trai, con gái dùng để hành động một cách khôn ngoan trong các mối quan hệ của con người”. Đó là một dạng năng lực mà sự có mặt của nó rất phong phú từ công việc của người y tá, người gác cổng trong doanh trại, người công nhân trong nhà máy, người bán hàng,. Thorndike đề nghị một số phương pháp đánh giá trí tuệ trong phòng thí nghiệm nhưng đó là một quá trình đơn giản: làm cho có sự phù hợp giữa những bức tranh có những khuôn mặt biểu lộ những cảm xúc khác nhau với việc nhận biết, mô tả đúng những cảm xúc đó. Robert Thorndike và Saul Stern (1937) đã xem xét những cố gắng đo lường của E.
Nhưng Robert Thorndike và Saul Stern kết luận rằng những cố gắng đo lường năng lực ứng xử với mọi người đã ít nhiều thất bại. Điều này có thể do trí tuệ xã hội là một phức hợp gồm một số các năng lực khác nhau hoặc một phức hợp của một số lớn các thói quen và thái độ xã hội cụ thể. Sau nửa thế kỷ tiếp theo, các nhà tâm lý học hành vi và trào lưu đo lường IQ đã quay trở lại ý tưởng đo lường EI. Đầu tiên là David Wechsler (1952), mặc dù vẫn tiếp tục phát triển trắc nghiệm IQ của mình vốn lúc đó đã được sử 5 dụng rộng rãi, nhưng ông cũng phải thừa nhận rằng các năng lực xúc cảm như là một phần trong vô số các năng lực của con người.
Howard Gardner (1983) là người có công lớn trong việc xem xét lại lý thuyết trí tuệ cảm xúc trong tâm lý học. Mô hình đa trí tuệ nổi tiếng của ông cho rằng, trí tuệ cá nhân gồm hai loại: Trí tuệ nội nhân cách và trí tuệ liên nhân cách. Rewven Bar - On nhà tâm lý học người Isarael (quốc tịch Mỹ), là người đầu tiên đưa ra thuật ngữ EQ (Emotional Intelligence Quotient) trong luận án tiến sỹ của mình năm 1985. Ông đặt trí tuệ cảm xúc trong phạm vi lý thuyết nhân cách, đưa ra mô hình Well - being (1997) với ý định trả lời câu hỏi “tại sao một người nào đó lại có khả năng thành công trong cuộc sống hơn những người khác?”.
Ông đã nhận diện được 5 khu vực bao quát về mặt chức năng phù hợp với thành công trong cuộc sống: - Các kỹ năng làm chủ xúc cảm của mình. - Các kỹ năng điều khiển xúc cảm liên cá nhân. - Tính thích ứng. - Kiểm soát stress.
- Tâm trạng chung. Bar - On đã sử dụng thuật ngữ trí tuệ cảm xúc theo ý nghĩa hợp lý sau: Trí thông minh thể hiện qua một tập hợp các năng lực chung, các năng lực cụ thể và các kỹ năng…, nó đặc trưng cho sự tích luỹ những hiểu biết được dùng đó đương đầu với cuộc sống một cách có hiệu quả [2, tr. Peter- Salovey và Jonh Mayer (1990) đã chính thức công bố lý thuyết trí tuệ cảm xúc trong bài báo “Trí tuệ cảm xúc”. Bài báo này đã có ảnh hưởng mạnh nhất đến lý thuyết trí tuệ cảm xúc tại thời điểm đó.
Trong mô hình nguyên thuỷ của hai tác giả, trí tuệ cảm xúc được nhận diện như là năng lực làm chủ, điều khiển, kiểm soát tình cảm, xúc cảm của mình và của người khác để sử dụng thông tin này định hướng cách suy nghĩ và cách hành động của một cá nhân. Hai tác giả này đã đưa ra một mô hình nhấn mạnh đến mặt nhận 6 thức. Mô hình này tập trung vào những khả năng tâm trí cụ thể phục vụ cho việc nhận biết và tổ chức điều khiển xúc cảm. Năm 1997, Jonh Mayer và Salovey chính thức định nghĩa: “EI là một năng lực nhận biết, bày tỏ xúc cảm, hoà xúc cảm vào suy nghĩ, hiểu, suy luận với xúc cảm, điều khiển kiểm soát xúc cảm của mình và của người khác” [2, tr.
Mô hình trí tuệ cảm xúc dựa trên định nghĩa này là kiểu mô hình thuần nhất năng lực gồm bốn năng lực cơ bản tương ứng với mức độ từ thấp đến cao: - Nhận thức và bày tỏ xúc cảm. - Hoà xúc cảm vào suy nghĩ. - Thấu hiểu và biết phân tích xúc cảm. - Điều khiển các xúc cảm một cách có suy nghĩ, có tính toán.
Daniel Goleman, một tiến sỹ tâm lý học của Đại học Harward người phụ trách chuyên mục khoa học của tờ Times, tập hợp những kết quả nghiên cứu về trí tuệ cảm xúc và viết thành cuốn sách gây tiếng vang lớn ở Mỹ với nhan đề “Trí tuệ cảm xúc: Tại sao nó lại có thể quan trọng hơn IQ đối với tính cách, sức khoẻ và sự thành công trong suốt cuộc đời?”. Từ đây EQ trở thành yếu tố quan trọng để lựa chọn con người vào vị trí lãnh đạo. Mô hình trí tuệ cảm xúc do Daniel Goleman đề xuất là một mô hình kiểu hỗn hợp gồm năm lĩnh vực: - Hiểu biết về xúc cảm của mình. - Tự thúc đẩy, động cơ hoá mình.
- Nhận biết xúc cảm của người khác. - Xử lý các mối quan hệ. Tóm lại có ba đại biểu tiêu biểu nghiên cứu về EI: 1. Rewven Bar - On đưa ra lý thuyết phân cách và mô hình kiểu hỗn hợp bằng cách hoà trộn vào trí tuệ cảm xúc những đặc tính phi năng lực.
Mô hình 7 của ông dự đoán thành công với tư cách là “Sản phẩm cuối cùng của cái mà một người cố gắng đạt được, cố gắng hoàn thành…” 2. Peter - Salovey và Jonh Mayer: Trong lý thuyết của mình đã “giới hạn trí tuệ cảm xúc vào một khái niệm năng lực tâm lý và tách trí tuệ cảm xúc ra khỏi những nét tích cực quan trọng” của nhân cách. Vì vậy, mô hình của Peter- Salovey và Jonh Mayer là kiểu mô hình thuần nhất năng lực chú ý vào khái niệm hạt nhân của trí tuệ cảm xúc, đó chính là các xúc cảm và sự tương tác giữa xúc cảm và ý nghĩ. Daniel Goleman đề xuất lý thuyết hiệu quả thực hiện công việc trong đó đưa ra kiểu mô hình hỗn hợp mô tả trí tuệ cảm xúc bao gồm các năng lực tâm lý và các phẩm chất nhân cách.
Ông cho rằng mô hình hỗn hợp này có độ hiệu lực dự đoán rất cao. Đặc biệt mô hình này giúp cho dù đoán và phát triển những năng lực vượt trội của những cá nhân xuất sắc trong công việc của từng loại nghề nghiệp, ở từng cấp độ. Nghiên cứu ở trong nước Ở Việt Nam, thuật ngữ “quản lý cảm xúc” và những công trình nghiên trình nghiên cứu về quản lý cảm xúc còn hạn chế, chủ yếu các công trình nghiên cứu đa phần ở quy mô lớn hơn bao hàm về quản lý cảm xúc như các nghiên cứu ở mảng đề tài lớn thiên về “trí tuệ cảm xúc” như: Năm 2002, Nguyễn Thị Dung đã tìm hiểu về trí tuệ cảm xúc ở người giáo viên chủ nhiệm trong luận văn Thạc sĩ Tâm lý học tại trí tuệ cảm xúc Viện Khoa học Giáo dục. Năm 2004, Dương Thị Hoàng Yến đã tìm hiểu trí tuệ cảm xúc ở người giáo viên chủ nhiệm trong luận văn Thạc sĩ Tâm lý học tại Đại học Sư phạm Hà Nội.
Đến năm 2010, một nghiên cứu hướng về quản lý cảm xúc nhưng vẫn ở khía cạnh nhỏ của quản lý cảm xúc đó là kiểm soát xúc cảm tiêu cực của học sinh THCS do Nguyễn Phan Chiêu Anh thực hiện nghiên cứu trong luận văn Thạc sĩ tại trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh. 8 Nhìn chung, các công trình nghiên cứu về lý luận và thực tiễn trong và ngoài nước về quản lý cảm xúc chưa nhiều, đa phần đều hướng về trí tuệ cảm xúc. Một số khái niệm 1. Khái niệm quản lý Trong tâm lý học có rất nhiều định nghĩa về quản lý: Quản lý là thực hiện những công việc có tác dụng định hướng, điều tiết, phối hợp các hoạt động của cấp dưới quyền.
Quản lý còn là sự khai thông , thiết lập các mối quan hệ cụ thể để hoạt động đông người được hình thành tiến hành trôi chảy, đạt hiệu quả bền lâu, không ngừng phát triển. Ngoài ra, quản lý còn là tác động chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý một cách gián tiếp hoặc trực tiếp nhằm thu được những diễn biến thay đổi tích cực Quản lý về cơ bản và trước hết là tác động của con người để họ thực hiện, hoàn thành những công việc được giao; để họ làm những điều bổ ích, có lợi. Điều đó đòi hỏi ta phải hiểu rõ và sâu sắc về con người như: cấu tạo thể chất, những nhu cầu, các yếu tố năng lực, các quy luật tham gia hoạt động (tích cực, tiêu cực). Nếu xét trên phương diễn nghĩa của từ, quản lý được hiểu như là chủ trì hay phụ trách một công việc nào đó.
Bản thân khái niêm quản lý có tính đa nghĩa, nên có sự khác biệt giữa nghĩa rông và nghĩa hẹp. Nhìn chung, có rất nhiều định nghĩa về quản lý. Tuy nhiên, trong nghiên cứu của mình chúng tôi chọn cách hiểu “Quản lý là sự tác động của một chủ thể lên nhiều đối tượng và thiết lập mối quan hệ để hoạt động một cách gián tiếp hoặc trực tiếp nhằm mang lại những hiệu quả tối ưu”. Khái niệm cảm xúc Cảm xúc của con người cũng là loại hiện tượng được quan tâm nghiên cứu của các nhà khoa học khác nhau.
Trong tâm lý học có nhiều cách giải thích khác nhau về khái niệm, nguồn gốc, kiểu loại của cảm xúc, quan hệ nó với các quá trình tâm lý khác và vai trò của nó đối với hành động của con người. Từ điển Tiếng Việt (Hoàng Phê chủ biên - 1997): Cảm xúc là rung động trong lòng do tiếp xúc với sự việc gì đó. Từ điển Oxford English Dictionary định nghĩa: Cảm xúc là một kích động hay một rối loạn tinh thần, tình cảm, đam mê, mọi trạng thái mãnh liệt hay kích thích.