Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 1. Một số hướng tiếp cận nghiên cứu về động cơ trong tâm lý học Động cơ là vấn đề có ý nghĩa lí luận và thực tiễn cơ bản trong tâm lí học. Động cơ có vai trò quyết định kết quả của hoạt động và sự phát triển nhân cách con người. Vì vậy, vấn đề động cơ đã thu hút sự quan tâm nghiên cứu của nhiều nhà tâm lý học trên thế giới với các hướng tiếp cận khác nhau như: tiếp cận của Phân tâm học; tiếp cận của tâm lý học hành vi; tiếp cận của tâm lý học nhận thức; tiếp cận của tâm lý học nhân văn; tiếp cận của tâm lý học hoạt động.
Mỗi hướng tiếp cận đã mang lại những đóng góp nhất định lý giải bản chất, nguồn gốc, nội dung, cấu trúc, yếu tố ảnh hưởng và con đường phát triển của động cơ. Hướng tiếp cận của Phân tâm học Các tác giả tiêu biểu của trường phái Phân tâm học là S. Freud, toàn bộ những động lực thúc đẩy con người hoạt động đều nảy sinh từ nhu cầu cấp bách của “cái nó”. Trong tất cả động lực thúc đẩy cá nhân hành động, chỉ có hai động lực thúc đẩy cơ bản là bản năng sống (Eros) và bản năng chết (Thanatos).
Eros giúp cá nhân duy trì sự tồn tại. Các xung lực Eros không phải là thứ nhu cầu tính dục nói chung, mà đó là xung lực Libido (khát dục), nguồn năng lượng vốn có ngay từ khi cá nhân mới được sinh ra và tồn tại đến lúc tuổi già, dưới một hình thức nào đó. Trái lại, Thatanos được xem là tập hợp những xung lực tàn phá có ở tất cả mọi người, hoạt động tuân theo nguyên tắc entropy, theo đó bất kỳ hệ thống năng lượng nào cũng tìm cách duy trì trạng thái cân bằng động. Freud, mọi hành vi của con người đều được thúc đẩy bởi hai xung lực này [Dẫn theo 10].
Freud, các lí thuyết phân tâm học mới của A. lại có những luận giải khác về động lực hoạt động của con người.Adler, động cơ chính cho những hành động của con người 13 là nhu cầu bù đắp cho những cảm giác tự ti của bản thân mà họ đã trải qua trong thời thơ ấu để trở nên hoàn hảo. Đây là quy luật cơ bản của cuộc sống con người, nó là “Nhu cầu lớn lao vươn lên”, đi từ khiếm khuyết đến hoàn thiện. Adler tin rằng động lực phấn đấu cho sự hoàn hảo là bẩm sinh và động lực này chính là cuộc sống.
Adler coi việc theo đuổi sự hoàn hảo là động cơ cơ bản duy nhất, chứ không phải là sự kết hợp của các động cơ riêng biệt. Động cơ này được thể hiện trong nhận thức của đứa trẻ rằng mình bất lực và có giá trị thấp so với những người xung quanh. Nhưng ngay từ khi sinh ra, nó đã hiện diện dưới dạng một khả năng. Vì vậy, cảm giác này phải được nuôi dưỡng và phát triển.
Sự phấn đấu vươn lên để đạt tới hoàn hảo được thể hiện ở cả cấp độ cá nhân và cấp độ xã hội [Dẫn theo 64]. Khi nghiên cứu về động cơ, E. Fromm đã tiến hành từ bản chất kép của con người với tư cách vừa là động vật, vừa là đại diện của loài người. Một mặt, do tách khỏi tự nhiên, con người có được tự do và độc lập, mặt khác, là một phần của tự nhiên, con người cảm thấy sự cô đơn, cô độc của mình.
Đây là mâu thuẫn chính của sự tồn tại ở con người. Xung đột này "kích hoạt" các cơ chế phát triển động cơ, nhu cầu ở trong người gắn liền với nỗ lực vượt qua cảm giác cô đơn, cô độc, giành lấy tự do và an toàn cho cuộc sống. Fromm tập trung vào động cơ chính của cuộc sống con người - khát vọng tự do và độc lập, ở đó tích hợp những nhu cầu quan trọng nhất cho sự tồn tại của con người [Dẫn theo 64]. Horney đã liên kết sự phát triển của động lực con người với các yếu tố văn hóa xã hội.
Môi trường xã hội buộc một người phải liên tục so sánh mình với người khác, cạnh tranh với họ, tìm kiếm sự công nhận, yêu thương và bảo vệ của họ, điều này góp phần làm xuất hiện chứng lo âu. Mong muốn vượt qua cảm giác lo lắng ảnh hưởng đến thái độ của cá nhân đối với bản thân, đối với cuộc sống nói chung, và quyết định sự lựa chọn chiến lược hành vi dựa trên sự vận động đối với mọi người, chống lại mọi người và xa rời mọi 14 người. Horney, lo lắng có thể biểu hiện bằng sự bất lực, thù địch, cô lập. Nhu cầu và động cơ hành vi của một người được hình thành tùy thuộc vào đặc điểm của trải nghiệm lo âu [Dẫn theo 64] Cảm giác bất lực làm nảy sinh nhu cầu được người khác chấp thuận, phục tùng, những người có thể trở thành chỗ dựa và bảo vệ cho anh ta, cũng như động cơ để liên kết, giúp đỡ và tìm kiếm người bảo trợ.
Lo lắng, biểu hiện bằng thái độ thù địch, cho rằng sự thống trị của động cơ quyền lực, khuất phục người khác, đấu tranh, hủy diệt, gắn liền với nhu cầu vượt trội, tự cung tự cấp và lợi dụng người khác. Trải nghiệm sự cô lập của chính mình góp phần làm nảy sinh các nhu cầu về tự cung tự cấp, ưu việt, cô độc, độc lập và nhận ra động cơ của sự tha hóa. Horney, động lực bao gồm các nhu cầu và động cơ khác nhau bổ sung cho nhau chứ không loại trừ nhau. Sự mất cân bằng giữa hai yếu tố này có thể dẫn đến những khuyết tật trong phát triển nhân cách [Dẫn theo 64].
Như vậy, theo hướng tiếp cận của Phân tâm học, đặc biệt là Phân tâm học cổ điển, mỗi tác giả đều có cách lí giải khác nhau về nhân tố then chốt thúc đẩy hoạt động của con người, song về bản chất thì bản năng tính dục, cảm giác tự ti được lan tỏa, sức mạnh bẩm sinh hay sự chạy trốn tự do, các mối quan hệ hay tâm hồn, khí chất của con người đều là sức mạnh của bản năng nhưng dưới hình thức khác mà thôi. Họ quan niệm những cái liên quan đến động lực thúc đẩy con người hoạt động là những cái nằm trong bản thân mỗi người. Họ nhấn mạnh đến các yếu tố bên trong, bẩm sinh, di truyền là động lực cho hoạt động của con người. Tuy nhiên, chúng tôi cho rằng những yếu tố này trước khi trở thành lực thúc đẩy con người phải được con người nhận thức, đánh giá và nhìn nhận về tầm quan trọng, sự ảnh hưởng của nó với xu hướng phát triển của cá nhân.
Xét ở góc độ này, các nhà Phân tâm học còn chưa quan tâm đến vai trò của ý thức một cách thỏa đáng. Chúng tôi cho rằng, cách nhìn nhận động cơ của con người như những bản năng ở trên thường dẫn đến chỗ đối lập cá nhân 15 với xã hội và xem xét môi trường sống chỉ là những điều kiện để bản năng mà con người vốn có từ lúc mới được sinh ra được bộc lộ dần dần trong quá trình phát triển của cá thể mà thôi. Đặc biệt, đối với độ tuổi của các giảng viên, do hoạt động giảng dạy có bản chất xã hội sâu sắc nên việc xem động cơ dạy học như những bản năng sẽ phủ nhận hoặc đánh giá không đúng mức tính tích cực, chủ động và tự giác của người giảng viên trong quá trình tiến hành hoạt động này. Hướng tiếp cận của tâm lý học hành vi Khái niệm động cơ được phát triển bởi các nhà tâm lý học hành vi mà đại biểu là J.
Trong Tâm lý học hành vi cổ điển của J. Watson động cơ được giải thích trên cơ sở mối quan hệ kích thích-phản ứng (S-R). Chỉ những kích thích bên ngoài gây ra phản ứng nhất định của sinh vật mới được nghiên cứu, tức là không có nguyên nhân bên trong của hành vi. Theo hướng này, động cơ sinh lý làm cơ sở cho hành vi xuất hiện.
Trong chủ nghĩa hành vi cổ điển (J. Watson, Skinner), khái niệm về động cơ nội tại không tồn tại [Dẫn theo 72]. Tolman vào năm 1948 [Dẫn theo 74] đã đặt câu hỏi về lược đồ S → R, cho rằng nó quá đơn giản. Bằng nghiên cứu của mình, ông đi đến kết luận rằng mối liên hệ giữa các kích thích và phản ứng là có tính gián tiếp, có khâu trung gian tham gia điều kiển hành vi.
Công thức của J.Tolman đã có một dạng khác: S → J → R, trong đó các biến trung gian là liên kết giữa. Ông xác định ba nhóm "các biến số trung gian"gồm: hệ thống nhu cầu, hệ thống động cơ giá trị (sở thích của một số đối tượng hơn những đối tượng khác) và các trường hành vi biến đổi (tình huống mà hành động được thực hiện). Tolman, trong số những đại diện của xu hướng này, người nổi tiếng nhất là K. Với kết quả nghiên cứu được thực hiện trên chuột K.
Hull cho rằng vì nhu cầu có trước hành động của sinh vật và đi kèm với nó, nên nó có đặc tính thúc đẩy tức là 16 động cơ xuất hiện. Chúng tôi nhận thấy, quan niệm về việc sử dụng phần thưởng (vật chất hay tinh thần) và sự trách phạt như là động lực thúc đẩy các nhà tâm lí học hành vi đã khẳng định rằng, nếu những hành vi cụ thể người giảng viên liên tục được củng cố thì thói quen hay khuynh hướng hành động theo những cụ thể đó sẽ được hình thành và phát triển.L (1971), với lý thuyết học tập xã hội, đã tiến xa hơn so với các bậc tiền bối của mình khi giải thích hành vi con người. Ông cho rằng, chúng ta thực hiện một hành vi nào đó không chỉ vì cái chúng ta nhận được mà còn trên cơ sở nhận thức, đánh giá của chúng ta về hậu quả của hành vi mà mỗi cá nhân có thể nhận được nếu thực hiện một hành vi nào đó [68]. Có thể nói, hạn chế chính của Tâm lý học hành vi là đã đồng nhất động cơ hành vi của người và động vật.
Các nghiên cứu về động cơ hành vi của Tâm lý học hành vi cũng chưa chỉ ra được cấu trúc thứ bậc của hệ động cơ hoạt động. Tuy nhiên, cách tiếp cận hành vi về vấn đề nguồn gốc, nguyên nhân dẫn đến hành vi của con người có ứng dụng rộng rãi trong cuộc sống. Nó góp phần lý giải cái gì định hướng, thúc đẩy, duy trì hay trì hoãn hoạt động của con người, đặc biệt là trong lĩnh vực học tập, giảng dạy.