Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 1. Các công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài 1. Những công trình nghiên cứu liên quan đến phẩm chất kỷ luật và giáo dục phẩm chất kỷ luật 1. Các công trình nghiên cứu ở nước ngoài Trước đây, trong quân đội Xô Viết đã có nhiều công trình nghiên cứu liên quan đến PCKL và giáo dục PCKL với nội dung và cách thức tiếp cận khác nhau.
Culacốp (1979) với công trình“Giáo dục tính kỷ luật cho các chiến sĩ Xô - Viết” [23], cho rằng kỷ luật ở các phân đội tốt hay không tốt, phần lớn tuỳ thuộc vào trình độ nhận thức và sự thể hiện hành động kỷ luật của cán bộ, chiến sĩ ở các đơn vị đó. Theo tác giả, tính kỷ luật là một trong những phẩm chất quan trọng nhất của người quân nhân đang phục vụ trong quân đội cách mạng; tính kỷ luật của quân nhân có cấu trúc hết sức phức tạp bao gồm động cơ hành vi kỷ luật và các kỹ năng, kỹ xảo, thói quen hành vi kỷ luật. Anchipốp cho rằng “cấu trúc tính kỷ luật của nhân cách quân nhân gồm: sự hiểu biết về kỹ thuật và vũ khí, về điều lệnh, chuẩn mực đạo đức, tự ý thức sâu sắc về ý nghĩa chính trị và xã hội của kỷ luật, niềm tin chính trị và đạo đức của cá nhân cũng như những kỹ năng, kỹ xảo, thói quen tuân thủ các đòi hỏi của kỷ luật quân sự” [Dẫn theo 102, tr. Theo tác giả, tính kỷ luật là một phẩm chất tâm lý rất quan trọng tạo thành nhân cách quân nhân, có ý nghĩa thúc đẩy hệ thống thái độ, hành vi, ý thức tích cực trong chấp hành kỷ luật quân đội của mỗi quân nhân.
luan an 13 Nghiên cứu về kinh nghiệm giáo dục, rèn luyện kỷ luật cho quân nhân, trong cuốn “Hãy trở thành người chiến sĩ có kỷ luật” [34], tác giả A. Êrêmencô (1981) cho rằng kỷ luật là yếu tố tạo nên sức mạnh chiến đấu và chiến thắng của quân đội cách mạng. Theo tác giả, nếu không có kỷ luật sẽ không thể có quân đội, kỷ luật nghiêm minh là thuộc tính hữu cơ của quân đội. Ngoài ra, tác giả còn đề cập đến những tác động của nhiệm vụ quân sự và sự cần thiết đối với mỗi quân nhân đó là phải hiểu mình đang làm gì, làm vì cái gì, cái gì đang thôi thúc mình hành động, từ đó tác giả rút ra kết luận mọi nội dung công việc muốn thực hiện thắng lợi đều nhờ vào chấp hành nghiêm kỷ luật.
Công trình “Quân đội hiện đại và kỷ luật” [52] của nhóm tác giả A. Lugierencô (1982) và “Thế nào là quân nhân có đạo đức” [110] của tác giả Đ. Vôncôgônốp (1982), cũng đề cập vấn đề tăng cường tính tổ chức kỷ luật và trật tự của quân đội trong điều kiện hiện đại. Đặc biệt, các tác giả đã làm rõ vai trò, ý nghĩa của kỷ luật đối với sự sẵn sàng chiến đấu của các lực lượng vũ trang Liên Xô; những biểu hiện của kỷ luật trong hoạt động quân sự.
Các tác giả cho rằng vấn đề tăng cường kỷ luật đang ngày càng đòi hỏi cao hơn đối với vai trò hoạt động của cán bộ chỉ huy, cán bộ chính trị, của các tổ chức đảng, đoàn thành niên trong giáo dục, bồi dưỡng nâng cao ý thức và duy trì nghiêm kỷ luật. Để tăng cường kỷ luật của quân đội Nga, trong bài “Về xác định khái niệm kỷ luật quân sự tự giác” [111], tác giả I. Vônkốp (2004) cho rằng việc hình thành, phát triển kỷ luật tự giác ở mỗi quân nhân là một quá trình thống nhất và đấu tranh giữa tính tự giác và tính tự phát, trong đó tính tự giác sẽ dần dần chiếm được vị trí thống trị. Sự thống trị của tính tự giác sẽ dẫn tới việc giải quyết mâu thuẫn giữa tính tự phát và tính tự giác, từ đó làm nảy sinh một chất lượng mới của kỷ luật quân sự - kỷ luật tự giác.
Theo tác giả, kỷ luật của mỗi quân nhân được hình thành trên cơ sở giác ngộ nghĩa vụ trách nhiệm cá nhân về bảo vệ tổ quốc của mình. Vì vậy, để hình thành và củng cố kỷ luật cao thì luan an 14 một trong những phương hướng công tác quan trọng nhất là phải phát triển, tăng cường tính tự giác chấp hành kỷ luật của quân nhân. Nghiên cứu về “Mối tương quan của kỷ luật quân sự và tính kỷ luật” [112], tác giả I. Vônkốp (2005) cũng cho rằng kỷ luật là những yêu cầu của nhà nước đối với việc tổ chức, điều chỉnh các quan hệ, hành vi của quân nhân nhằm hình thành và củng cố trật tự, thống nhất mọi hành động tập thể trong lực lượng vũ trang.
Theo tác giả, tính kỷ luật của quân nhân có thể xem như phẩm chất của họ, đó là thái độ nhận thức của cá nhân đối với kỷ luật đã được thiết lập trong lực lượng vũ trang và khả năng tạo nên hành vi của bản thân phù hợp với các yêu cầu của kỷ luật. Tác giả cũng chỉ rõ dấu hiệu đặc trưng của tính tự giác trong vấn đề kỷ luật là những động cơ, hành vi của các quân nhân được hình thành trên những quan niệm và niềm tin cá nhân vững chắc về sự cần thiết và lợi ích từ kỷ luật, từ sự giác ngộ về nghĩa vụ và trách nhiệm cá nhân của bản thân đối với Tổ quốc, tập thể trong từng hành vi của mình. Ngoài những công trình nêu trên, còn một số tác giả như V. Pustôvalốp cũng quan tâm nghiên cứu vấn đề duy trì kỷ luật trong bối cảnh tình hình mới.
Dựa vào những kết quả nghiên cứu, các tác giả cho rằng trong xã hội nước Nga hiện nay đã hình thành nên một thái độ thiếu tôn trọng đối với pháp luật, chính quyền, sự khó chịu về những biện pháp nhằm duy trì trật tự xã hội đó là nguồn gốc xã hội dẫn đến những hành vi vi phạm kỷ luật ở các quân nhân. Mặc dù, các công trình nghiên cứu nêu trên chưa đề cập, luận giải sâu về bản chất kỷ luật nhưng đã làm rõ thêm nguồn gốc và những đặc điểm nổi bật của kỷ luật trong giai đoạn phát triển mới. Các nhà tâm lý học phương Tây, cũng rất quan tâm nghiên cứu và đánh giá cao vai trò của kỷ luật trong hoạt động quân sự. Nhiều công trình đã được nghiên cứu và triển khai ứng dụng vào trong hoạt động quân sự trên các phương diện như: thiết kế chẩn đoán để tuyển, lựa chọn, đào tạo huấn luyện sĩ quan, binh sĩ; tổ chức chỉ huy, quản lý quân đội, đã thu được những kết quả đáng kể.
Theo các nhà tâm lý học phương Tây, kỷ luật có vai trò vô luan an 15 cùng quan trọng, giúp cho binh sĩ chấp hành nghiêm mệnh lệnh của người chỉ huy trong mọi tình huống, cơ sở của sự chấp hành kỷ luật trong quân đội là tạo ra thói quen về sự “phục tùng”. Các nhà tâm lý học phương Tây còn cho rằng, kỷ luật là vấn đề quan hệ công việc giữa con người với con người trong tổ chức, giữa lãnh đạo và phục tùng là sự chấp nhận vô điều kiện. Đặc biệt, để thích ứng với sự phát triển, biến đổi của thực tiễn xã hội; hiện nay quân đội Mỹ và một số nước tư bản khác đã triển khai áp dụng phương thức “quản lý mềm” đối với binh sĩ. Đặc trưng của phương thức này là yêu cầu người sĩ quan phải biết “gợi mở”, dẫn dắt nhân vật trung tâm nhằm làm giảm đi sự căng thẳng đang ngự trị trong mối quan hệ giữa họ và binh sĩ khi thực hiện các yêu cầu về chấp hành kỷ luật.
Tuy nhiên, do sự khác biệt về lợi ích nên dù có thay đổi phương thức kỷ luật như thế nào cũng không thể xóa bỏ được sự ngăn cách về tư tưởng giữa họ. Kỷ luật của quân đội các nước tư bản xét về bản chất vẫn mang tính cưỡng bức, áp đặt, phục tùng vô điều kiện, không hề thay đổi. Gần đây trong cuốn sách “Trung Quốc đổi mới lý luận chỉ đạo quân đội trong giai đoạn mới” [33] của tác giả Trương Hiểu Đồng (2011), cũng đề cập tới vai trò của kỷ luật đối với việc xây dựng quâ n đội Trung Quốc. Theo nội dung cuốn sách, để nâng cao sức mạnh của quân đội trong tình hình hiện nay, Trung Quốc cần quán triệt tốt tư tưởng chiến lược trọng đại đó là lấy quan điểm phát triển khoa học làm phương châm chỉ đạo trong xây dựng lực lượng quốc phòng và quân đội, thực hiện đột phá mới trên những nội dung như: Tăng cường lãnh đạo toàn diện, xây dựng quân đội cách mạng hóa, hiện đại hóa, chính quy hóa, thực hiện yêu cầu tổng thể, chính trị đạt chất lượng, quân đội vững vàng, tác phong tốt đẹp, kỷ luật nghiêm minh, bảo đảm mạnh mẽ.
Liên quan đến giáo dục PCKL, một số nước trên thế giới cũng rất quan tâm đến trang bị kiến thức pháp luật cho quân nhân trong quân đội nhất là về luan an 16 lĩnh vực hoạt động quân sự quốc tế. Tác giả Wang Wenjuan (2013) trong bài “The PLA and International Humanitarian Law: Achievements and Challenges” (Quân đội giải phóng nhân dân Trung Quốc và Luật Nhân đạo quốc tế: Những thành tựu và thách thức) [120] cho rằng: Để nâng cao hiệu quả thực hiện sứ mệnh quân sự theo Nghị định thư số 1 của Công ước Giơnevơ, cố vấn pháp lý quân sự ở tất cả các cấp sư đoàn và lữ đoàn có nhiệm vụ phổ biến và phổ cập kiến thức luật nhân đạo quốc tế trong lực lượng vũ trang, tư vấn áp dụng đúng đắn luật nhân đạo quốc tế cho các chỉ huy quân đội, bao gồm việc cung cấp tư vấn pháp lý cho các chỉ huy quân sự trong chiến đấu, theo dõi việc áp dụng và thực thi luật nhân đạo quốc tế trong quân đội. Trong bài “Towards Effective Military Training in International Humanitarian Law” (Hướng tới đào tạo quân sự hiệu quả trong lĩnh vực luật nhân đạo quốc tế) [116], tác giả Elizabeth Stubbins Bates (2014) cho rằng việc quy định lồng ghép luật nhân đạo quốc tế vào các chương trình giảng dạy và huấn luyện quân sự là một phần quan trọng để phổ biến luật nhân đạo quốc tế “càng rộng càng tốt”, kể cả đối với thường dân.