Tổng quan luận án
Đề tài luận án tiến sĩ: "Vai trò của giảng viên lý luận chính trị ở các nhà trường Quân đội nhân dân Việt Nam trong phòng, chống "diễn biến hòa bình" hiện nay".
- Chuyên ngành: Chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử (Mã số: 62 22 80 05).
- Nghiên cứu sinh: Lê Thành Long.
- Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Phạm Công Nhất và PGS.TS Nguyễn Bá Dương.
- Cơ sở đào tạo: Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn – Đại học Quốc gia Hà Nội (năm bảo vệ: 2015).
Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu
Sau khi chế độ xã hội chủ nghĩa theo mô hình Xô viết ở Liên Xô và Đông Âu sụp đổ, chiến lược "diễn biến hòa bình" (DBHB) của chủ nghĩa đế quốc do Mỹ đứng đầu đã chuyển trọng tâm sang các nước xã hội chủ nghĩa còn lại, trong đó Việt Nam là một mục tiêu trọng điểm. Tại Hội nghị giữa nhiệm kỳ Đại hội VII (1994) và các kỳ đại hội tiếp theo, Đảng Cộng sản Việt Nam xác định DBHB là một trong những nguy cơ đối với cách mạng Việt Nam. Đại hội XI tiếp tục nhận định các thế lực thù địch thực hiện âm mưu DBHB, gây bạo loạn lật đổ, sử dụng chiêu bài "dân chủ", "nhân quyền" hòng làm thay đổi chế độ chính trị, thúc đẩy "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" và thực hiện âm mưu "phi chính trị hóa" quân đội nhằm tách Quân đội nhân dân (QĐND) khỏi sự lãnh đạo của Đảng.
Đội ngũ giảng viên lý luận chính trị (GVLLCT) tại các nhà trường quân đội là lực lượng trực tiếp truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối quan điểm của Đảng và đào tạo thế hệ sĩ quan kế cận. Tuy nhiên, trên thực tế, một bộ phận GVLLCT chưa nhận thức đầy đủ vị trí, vai trò của mình; hiệu quả và sức đề kháng trong phòng, chống DBHB chưa tương xứng với tiềm năng; công tác tổ chức lực lượng tham gia đấu tranh còn bộc lộ bất cập. Đây là "khoảng trống khoa học" cần được nghiên cứu cơ bản, hệ thống và chuyên sâu từ góc độ triết học mác-xít.
Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
- Mục đích nghiên cứu: Luận giải một số vấn đề lý luận, thực tiễn về vai trò của GVLLCT ở các nhà trường quân đội trong phòng, chống DBHB; đề xuất quan điểm và hệ thống giải pháp phát huy vai trò của đội ngũ này trong giai đoạn hiện nay.
- Nhiệm vụ nghiên cứu:
- Làm rõ quan niệm về phòng, chống DBHB ở Việt Nam; quan niệm về GVLLCT ở các nhà trường quân đội; xác định đặc điểm và nội dung vai trò của GVLLCT trong phòng, chống DBHB.
- Đánh giá thực trạng thực hiện vai trò và làm rõ những vấn đề đặt ra đối với GVLLCT ở các nhà trường quân đội trong phòng, chống DBHB hiện nay.
- Dự báo các yếu tố tác động, xác định quan điểm và đề xuất hệ thống giải pháp phát huy vai trò của GVLLCT ở các nhà trường quân đội trong phòng, chống DBHB.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Vai trò của GVLLCT ở các nhà trường quân đội trong phòng, chống chiến lược "diễn biến hòa bình".
- Phạm vi nghiên cứu:
- Về nội dung: Tập trung vào đội ngũ giảng viên giảng dạy các bộ môn: Triết học Mác - Lênin; Kinh tế chính trị Mác - Lênin; Chủ nghĩa xã hội khoa học; Tư tưởng Hồ Chí Minh; Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam; Công tác đảng, công tác chính trị. Trọng tâm nghiên cứu là vai trò phòng, chống DBHB trên lĩnh vực tư tưởng, lý luận.
- Về không gian: Khảo sát tại các cơ sở đào tạo sĩ quan phân đội trình độ đại học và các học viện, gồm: Trường Sĩ quan Lục quân 1, Học viện Lục quân, Trường Sĩ quan Chính trị, Học viện Chính trị, Học viện Hậu cần, Học viện Kỹ thuật quân sự và một số trường sĩ quan phía Nam.
- Về thời gian: Các tài liệu, số liệu khảo sát phục vụ nghiên cứu được thu thập chủ yếu từ năm 2005 đến năm 2015.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Tác giả luận án đã phân loại và điểm luận có hệ thống các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan trực tiếp đến đề tài.
Các hướng nghiên cứu về chiến lược "diễn biến hòa bình"
- Nhóm công trình quốc tế: Cuốn sách Chiến lược diễn biến hòa bình của Mỹ (Lương Văn Dõng, Tân Trọng Can, Vương Triều Văn, Vương Hạnh Phương, 1993) phân tích quá trình hình thành DBHB gắn với Gi. Kennan, A. Dulles; cuốn Cuộc chiến tranh thế giới không có khói súng (Lưu Đình A chủ biên, 1991/1994) và cuốn Cuộc đọ sức giữa hai chế độ xã hội (Cốc Văn Khang, 1991/1994) phân tích nguyên nhân chủ nghĩa đế quốc chuyển trọng tâm sang biện pháp phi vũ trang và đề xuất giải pháp giáo dục thế hệ trẻ; luận án tiến sĩ của Phon chay Kham Bun My (2011) nghiên cứu về vai trò của QĐND Lào trong đấu tranh chống DBHB.
- Nhóm công trình trong nước: Cuốn sách của Nguyễn Anh Lân chủ biên (1993); công trình của Phạm Ngọc Hiền chủ biên (2010) về phòng chống DBHB và "cách mạng màu"; các ấn phẩm của Nguyễn Bá Dương (2010, 2013, 2015) về bảo vệ nền tảng tư tưởng, tư duy bảo vệ Tổ quốc và nhận diện thủ đoạn mới; sách chuyên khảo của Trần Ngọc Tuệ chủ biên (2012) về đấu tranh chống DBHB trên lĩnh vực chính trị - tư tưởng trong quân đội; công trình của Vũ Văn Phúc chủ biên (2013) về phòng chống "tự diễn biến", "tự chuyển hóa"; luận án tiến sĩ của Trần Doãn Tiến (2010) về phê phán quan điểm sai trái trên Internet; bài viết của Nguyễn Đức Bách (2009) và Trung tướng Nguyễn Ngọc Thanh (2014) về luận cứ bảo vệ Đảng và chế độ.
Các hướng nghiên cứu về đội ngũ giảng viên và vai trò đấu tranh tư tưởng
- Ngoài quân đội: Luận án tiến sĩ của Phạm Văn Thanh (2001) về xây dựng đội ngũ trí thức khoa học Mác - Lênin; luận án của Ngô Thị Phượng (2006) về trí thức khoa học xã hội và nhân văn; đề tài khoa học cấp Bộ của Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh (2006); luận án của Vũ Thanh Bình (2012) và Nguyễn Đình Trãi (2001).
- Trong quân đội: Cuốn sách của Mai Văn Hóa và Trần Xuân Phú (2009) về tính giáo dục trong dạy học khoa học xã hội và nhân văn; luận án tiến sĩ của Phạm Văn Thuần (2003) về năng lực đấu tranh tư tưởng - lý luận của giảng viên khoa học xã hội; đề tài khoa học cấp Bộ Quốc phòng mã số 2009.015 do Viện Khoa học Xã hội Nhân văn quân sự chủ trì (2011); đề tài cấp Bộ Quốc phòng của Nguyễn Mạnh Hưởng (2010) về trí thức quân đội; đề tài cấp Tổng cục Chính trị của Lê Văn Thanh (2012); các bài báo của Đỗ Thị Quỳnh Anh (2013) và Hồ Khang (2013).
Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết
Các công trình trước đây đã làm rõ khái niệm DBHB, các thủ đoạn chống phá và vai trò chung của quân đội hoặc trí thức quân sự. Tuy nhiên, chưa có công trình nào nghiên cứu toàn diện, chuyên biệt dưới góc độ Triết học (Chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử) về vai trò của GVLLCT ở các nhà trường quân đội trong phòng, chống DBHB; chưa kết hợp khảo sát thực chứng sâu rộng giữa đội ngũ giảng viên lý luận và học viên đào tạo sĩ quan để xây dựng hệ thống giải pháp phát huy vai trò này trong tình hình mới.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý thuyết và khung phân tích
- Luận án vận dụng thế giới quan duy vật biện chứng và phương pháp luận duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin.
- Khung lý thuyết dựa trên các quan điểm kinh điển của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và các văn kiện chỉ đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam về giai cấp, đấu tranh giai cấp, bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa và xây dựng quân đội về mặt chính trị.
- Hệ thống khái niệm công cụ xuyên suốt gồm: chiến lược "diễn biến hòa bình", phòng chống chiến lược "diễn biến hòa bình", "phi chính trị hóa" quân đội, "cách mạng màu", "tự diễn biến", "tự chuyển hóa", giảng viên lý luận chính trị trong quân đội, vai trò của GVLLCT.
Phương pháp nghiên cứu thực tế
Luận án kết hợp phương pháp định tính và định lượng:
- Phương pháp định tính: Phân tích và tổng hợp lý thuyết, phương pháp lịch sử - lôgíc, phân tích văn bản tài liệu pháp lý và văn kiện chính trị, phương pháp tổng kết thực tiễn và phương pháp chuyên gia.
- Phương pháp định lượng: Thực hiện điều tra xã hội học bằng bảng hỏi đóng - mở trên hai nhóm khách thể (giảng viên lý luận chính trị và học viên sĩ quan), tiến hành xử lý thống kê mô tả:
- Đợt điều tra năm 2010: Thực hiện tháng 9/2010 với 200 giảng viên khoa học Mác - Lênin tại Trường Sĩ quan Lục quân 1, Trường Sĩ quan Chính trị và Học viện Hậu cần (thu về 200 phiếu hợp lệ, đạt 100%).
- Đợt điều tra năm 2014 đối với giảng viên: Thực hiện tháng 5/2014 với 255 phiếu phát ra, thu về 250 phiếu hợp lệ (đạt 98%) tại 4 trường: Trường Sĩ quan Chính trị (100 phiếu), Trường Sĩ quan Lục quân 1 (50 phiếu), Học viện Hậu cần (50 phiếu), Học viện Kỹ thuật quân sự (50 phiếu).
- Đợt điều tra năm 2014 đối với học viên: Thực hiện tháng 5/2014 với 300 phiếu phát ra, thu về 300 phiếu hợp lệ (đạt 100%) tại 4 trường: Trường Sĩ quan Chính trị (100 phiếu), Trường Sĩ quan Lục quân 1 (50 phiếu), Học viện Hậu cần (100 phiếu), Học viện Kỹ thuật quân sự (50 phiếu).
Nguồn tư liệu và dữ liệu
- Hệ thống văn kiện của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nghị quyết Quân ủy Trung ương, chỉ thị và tài liệu của Ban Chỉ đạo 94.
- Báo cáo số liệu thực tế số 1026/TH-GDKHXH&NV ngày 25/2/2013 của Cục Tuyên huấn – Tổng cục Chính trị về số lượng, cơ cấu độ tuổi, thâm niên và học vị của đội ngũ giảng viên khoa học xã hội và nhân văn toàn quân (tính đến ngày 30/3/2013).
- Dữ liệu khảo sát xã hội học do tác giả trực tiếp tiến hành tại các nhà trường quân đội.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Chương 1 hệ thống hóa các nghiên cứu theo 3 cụm nội dung chính:
- Nghiên cứu về chiến lược DBHB: Xác định bản chất DBHB là chiến lược tổng hợp của chủ nghĩa đế quốc sử dụng biện pháp "phi vũ trang" là chủ yếu nhằm lật đổ chế độ chính trị tại các nước XHCN. Các thủ đoạn bao gồm thúc đẩy đa nguyên đa đảng, lợi dụng vấn đề dân chủ, nhân quyền, sắc tộc, tôn giáo và thực hiện âm mưu "phi chính trị hóa" lực lượng vũ trang.
- Nghiên cứu về vai trò lực lượng giảng viên: Phân tích vị trí nòng cốt của trí thức, giảng viên lý luận trong việc hình thành thế giới quan mác-xít và rèn luyện bản lĩnh chính trị cho học viên, bảo vệ trận địa tư tưởng.
- Đánh giá tổng thuật: Khẳng định những kết quả nghiên cứu đã đạt được và chỉ rõ những vấn đề cần tiếp tục giải quyết dưới góc độ triết học về vai trò chuyên biệt của GVLLCT ở các nhà trường quân đội.
Chương 2: Một số vấn đề lý luận về vai trò của giảng viên lý luận chính trị ở các nhà trường Quân đội nhân dân Việt Nam trong phòng, chống chiến lược "diễn biến hòa bình"
Chương 2 tập trung xác định các khái niệm nền tảng và nội dung cấu thành vai trò của GVLLCT:
- Khái niệm DBHB và phòng, chống DBHB: DBHB là phương thức chống phá phi vũ trang kết hợp bạo loạn lật đổ. Luận án phân tích mối quan hệ giữa DBHB và "cách mạng màu" – coi "cách mạng màu" là một biến thể của DBHB trong thời kỳ hậu Chiến tranh Lạnh nhằm thay đổi thể chế chính trị.
- Khái niệm GVLLCT trong quân đội: Là lực lượng hoạt động chuyên trách trên lĩnh vực tư tưởng, lý luận của Đảng trong quân đội, có nhiệm vụ giảng dạy và nghiên cứu các bộ môn khoa học Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối quan điểm của Đảng.
- Nội dung vai trò của GVLLCT trong phòng, chống DBHB:
- Trực tiếp truyền bá, trang bị thế giới quan, phương pháp luận duy vật biện chứng và lý tưởng cộng sản cho học viên, xây dựng bản lĩnh chính trị chống lại luận điệu xuyên tạc.
- Là lực lượng nòng cốt nghiên cứu khoa học lý luận, cung cấp luận cứ khoa học để khẳng định tính đúng đắn của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và đường lối đổi mới.
- Trực tiếp tham gia đấu tranh tư tưởng, lý luận, viết bài phê phán, vạch trần các quan điểm sai trái, thù địch và âm mưu "phi chính trị hóa" quân đội trên các phương tiện thông tin đại chúng và diễn đàn học thuật.
Chương 3: Thực trạng và những vấn đề đặt ra đối với việc thực hiện vai trò phòng, chống chiến lược "diễn biến hòa bình" của giảng viên lý luận chính trị ở các nhà trường Quân đội nhân dân Việt Nam hiện nay
Chương 3 công bố các dữ liệu thực nghiệm phản ánh nhận thức, năng lực và kết quả thực tế của đội ngũ GVLLCT:
| Nội dung khảo sát nhận thức (Năm 2014) |
Tỷ lệ GVLLCT đồng tình (%) |
Tỷ lệ Học viên đồng tình (%) |
| DBHB chủ yếu dùng biện pháp phi vũ trang, phi quân sự |
89,0% |
92,3% |
| Mục tiêu xuyên suốt của DBHB là xóa bỏ CNXH hiện thực |
66,8% |
66,1% |
| Mục tiêu của DBHB đối với quân đội là "phi chính trị hóa" để vô hiệu hóa |
77,2% |
73,6% |
| Thực chất "phi chính trị hóa" là thủ tiêu, xóa bỏ sự lãnh đạo của Đảng đối với quân đội |
76,4% |
92,5% |
| DBHB và bạo loạn lật đổ có quan hệ hỗ trợ lẫn nhau |
96,8% |
95,1% |
| Đánh giá mức độ nguy hiểm của DBHB và "cách mạng màu": Đặc biệt nguy hiểm |
86,8% |
89,4% |
Về thực trạng hoạt động nghiên cứu khoa học và viết bài phòng, chống DBHB của GVLLCT (khảo sát năm 2014):
- 48,8% GVLLCT tự đánh giá việc thực hiện vai trò ở mức tích cực, hiệu quả; 47,6% đánh giá mức bình thường; 3,6% đánh giá chưa tích cực, hiệu quả.
- 77,7% giảng viên chưa từng chủ trì hoặc tham gia đề tài khoa học về phòng, chống DBHB.
- 62,3% giảng viên chưa từng hướng dẫn học viên nghiên cứu khoa học về nội dung này.
- 80,4% giảng viên chưa có bài báo khoa học hoặc bài viết in trong sách về DBHB.
- Về nguyên nhân hạn chế: 56,8% do nhận thức; 52,8% do công tác tổ chức; 20,8% do công tác bảo đảm vật chất và thông tin.
Về cơ cấu trình độ học vấn của đội ngũ giảng viên khoa học xã hội và nhân văn các nhà trường quân đội (theo Báo cáo 2013 của Cục Tuyên huấn):
| Phân loại cơ sở đào tạo |
Đại học (%) |
Thạc sĩ (%) |
Tiến sĩ (%) |
Giáo sư (%) |
Phó Giáo sư (%) |
| Khối học viện |
42,7% |
41,2% |
16,1% |
0,0% |
5,4% |
| Khối trường sĩ quan |
61,4% |
32,9% |
5,7% |
0,0% |
0,3% |
| Tính chung toàn khối |
52,0% |
37,1% |
10,9% |
0,0% |
2,7% |
Các vấn đề đặt ra gồm: mâu thuẫn giữa yêu cầu đấu tranh lý luận ngày càng phức tạp với năng lực viết bài chuyên sâu còn hạn chế của một bộ phận giảng viên; sự thiếu hụt tài liệu chuyên sâu và thông tin chính thống; cơ chế động viên, bảo đảm chính sách chưa tương xứng.
Chương 4: Quan điểm và giải pháp phát huy vai trò của giảng viên lý luận chính trị ở các nhà trường Quân đội nhân dân Việt Nam trong phòng, chống chiến lược "diễn biến hòa bình" hiện nay
Chương 4 đưa ra các dự báo, xác định quan điểm chỉ đạo và đề xuất 4 nhóm giải pháp chủ yếu:
- Dự báo bối cảnh tác động: Sự điều chỉnh thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch trên không gian mạng; tác động của kinh tế thị trường, toàn cầu hóa và các biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" từ bên trong.
- Hệ thống quan điểm chỉ đạo: Giữ vững tính Đảng, tính nguyên tắc mác-xít; kết hợp chặt chẽ giữa "xây" và "chống", lấy "xây" là cơ bản; phát huy sức mạnh tổng hợp của tổ chức đảng, chỉ huy và tinh thần tự giác của giảng viên.
- Nhóm giải pháp cụ thể:
- Nâng cao nhận thức, trách nhiệm của cấp ủy, chỉ huy các cấp và bản thân GVLLCT về vai trò phòng, chống DBHB (54,8% giảng viên tán thành trong khảo sát 2014; 77,0% giảng viên nhấn mạnh giải pháp kết hợp giáo dục với tự giáo dục trong khảo sát 2010).
- Nâng cao phẩm chất chính trị, năng lực tư duy lý luận và kỹ năng đấu tranh thực tế cho GVLLCT; chú trọng bồi dưỡng phương pháp sư phạm gắn lý luận với phê phán quan điểm sai trái (50,0% đồng tình).
- Đổi mới công tác lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức các lực lượng đấu tranh phòng, chống DBHB trong nhà trường quân đội; phát huy hiệu quả của Ban Chỉ đạo phòng, chống DBHB (55,2% đồng tình).
- Hoàn thiện chế độ chính sách đãi ngộ, bảo đảm kinh phí, cơ sở vật chất và cung cấp kịp thời thông tin, tài liệu phục vụ công tác giảng dạy, nghiên cứu đấu tranh tư tưởng (76,5% giảng viên kiến nghị chính sách ưu đãi năm 2010; 40,8% đồng tình năm 2014).
Kết quả và những đóng góp mới
Đóng góp về mặt lý luận
- Hệ thống hóa và làm sâu sắc thêm quan niệm về chiến lược DBHB, bản chất của "cách mạng màu", thủ đoạn "phi chính trị hóa" quân đội và nội dung phòng, chống DBHB trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN và hội nhập quốc tế.
- Xác định rõ vị trí, tính chất và cấu trúc nội dung vai trò của GVLLCT ở các nhà trường quân đội trên lĩnh vực tư tưởng, lý luận; luận giải mối quan hệ biện chứng giữa truyền bá tri thức lý luận mác-xít ("xây") với đấu tranh phản bác luận điệu thù địch ("chống").
- Góp phần củng cố quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về tính giai cấp của quân đội kiểu mới và nguyên tắc giữ vững sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng đối với Quân đội nhân dân Việt Nam.
Đóng góp về mặt thực tiễn và kiến nghị giải pháp
- Đánh giá trung thực, khách quan thực trạng nhận thức, kỹ năng và kết quả hoạt động phòng, chống DBHB của GVLLCT thông qua dữ liệu điều tra thực chứng tại 4 trường quân đội trọng điểm và số liệu tổng hợp của Tổng cục Chính trị.
- Chỉ ra những bất cập, mâu thuẫn đang đặt ra trong công tác đào tạo, bồi dưỡng và sử dụng đội ngũ cán bộ giảng dạy lý luận quân sự.
- Đề xuất hệ thống giải pháp đồng bộ có tính khả thi, bao quát từ công tác tư tưởng, đào tạo - tự đào tạo, đổi mới tổ chức đến chế độ chính sách và bảo đảm vật chất, thông tin.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế của công trình: Phạm vi nghiên cứu thực chứng của luận án tập trung chủ yếu vào đội ngũ giảng viên thuộc 6 bộ môn khoa học Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và công tác đảng, công tác chính trị tại một số nhóm trường đào tạo sĩ quan chỉ huy, chính trị, hậu cần, kỹ thuật; chưa bao quát toàn bộ các trường trung cấp, cao đẳng chuyên ngành hoặc các cơ sở đào tạo quân sự địa phương.
- Hướng nghiên cứu tiếp theo: Tiếp tục mở rộng phạm vi khảo sát đối với toàn bộ hệ thống nhà trường trong lực lượng vũ trang; đi sâu nghiên cứu kỹ năng, phương thức đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái trên không gian mạng và các nền tảng mạng xã hội của đội ngũ cán bộ, giảng viên lý luận trong kỷ nguyên số.
Giá trị tham khảo
Luận án là tài liệu tham khảo khoa học có giá trị chuyên môn đối với:
- Nghiên cứu sinh, học viên cao học, giảng viên chuyên ngành Triết học mác-xít, Chủ nghĩa xã hội khoa học, Xây dựng Đảng và Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam tại các học viện, trường đại học trong và ngoài quân đội.
- Cán bộ quản lý giáo dục, cơ quan Tuyên huấn, Cán bộ, các cơ quan chức năng thuộc Tổng cục Chính trị, Quân ủy Trung ương và Ban Chỉ đạo 94 các cấp trong công tác quy hoạch, bồi dưỡng, sử dụng đội ngũ giảng viên khoa học xã hội và nhân văn.
- Đội ngũ chính ủy, chính trị viên và cán bộ chính trị trong toàn quân phục vụ công tác giáo dục chính trị tư tưởng, định hướng dư luận và xây dựng bản lĩnh cho bộ đội.
Các phần nội dung đáng tham khảo nhất gồm: Khung lý luận về nội dung vai trò GVLLCT (Chương 2); Các bảng số liệu điều tra thực trạng xã hội học (Chương 3 và Phụ lục); Hệ thống giải pháp phát huy vai trò GVLLCT (Chương 4).
Câu hỏi thường gặp
1. Khảo sát xã hội học của luận án được tiến hành với quy mô mẫu và địa bàn cụ thể nào?
Luận án thực hiện 3 cuộc điều tra bảng hỏi:
- Tháng 9/2010: Khảo sát 200 giảng viên lý luận tại 3 cơ sở (Trường Sĩ quan Lục quân 1, Trường Sĩ quan Chính trị, Học viện Hậu cần), thu về 200 phiếu (100%).
- Tháng 5/2014: Khảo sát 250 giảng viên lý luận tại 4 cơ sở (Trường Sĩ quan Chính trị: 100, Sĩ quan Lục quân 1: 50, Học viện Hậu cần: 50, Học viện Kỹ thuật quân sự: 50), thu về 250 phiếu (98%).
- Tháng 5/2014: Khảo sát 300 học viên đào tạo sĩ quan phân đội tại 4 cơ sở trên (Sĩ quan Chính trị: 100, Sĩ quan Lục quân 1: 50, Học viện Hậu cần: 100, Kỹ thuật quân sự: 50), thu về 300 phiếu (100%).
2. Giảng viên và học viên tham gia khảo sát nhận thức như thế nào về mục tiêu "phi chính trị hóa" quân đội của chiến lược DBHB?
Kết quả khảo sát năm 2014 cho thấy:
- 77,2% giảng viên và 73,6% học viên khẳng định mục tiêu của DBHB đối với quân đội là "phi chính trị hóa" nhằm vô hiệu hóa quân đội.
- 76,4% giảng viên và 92,5% học viên nhận thức đúng thực chất của âm mưu này là nhằm thủ tiêu, xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với Quân đội nhân dân.
3. Dữ liệu thực trạng phản ánh những hạn chế nổi bật nào trong hoạt động nghiên cứu và đấu tranh của GVLLCT?
Theo khảo sát năm 2014, mặc dù nhận thức về nguy cơ DBHB rất cao, nhưng hoạt động thực tế còn nhiều hạn chế:
- 77,7% giảng viên chưa tham gia đề tài khoa học về phòng, chống DBHB.
- 62,3% giảng viên chưa hướng dẫn học viên nghiên cứu khoa học về chủ đề này.
- 80,4% giảng viên chưa có bài báo khoa học hoặc bài viết in trong sách về DBHB.
- Khảo sát năm 2010 cũng ghi nhận 57,0% ý kiến giảng viên đánh giá hạn chế rõ nhất nằm ở năng lực đấu tranh chống các tư tưởng, quan điểm lý luận sai trái.
4. Cơ cấu trình độ học vấn của giảng viên lý luận chính trị các nhà trường quân đội năm 2013 được phân bổ ra sao?
Theo số liệu của Cục Tuyên huấn (tính đến 30/3/2013), toàn khối giảng viên khoa học xã hội và nhân văn quân đội có:
- Trình độ Đại học: 52,0% (Khối học viện: 42,7%; Khối trường sĩ quan: 61,4%).
- Trình độ Thạc sĩ: 37,1% (Khối học viện: 41,2%; Khối trường sĩ quan: 32,9%).
- Trình độ Tiến sĩ: 10,9% (Khối học viện: 16,1%; Khối trường sĩ quan: 5,7%).
- Chức danh Phó Giáo sư: 2,7% (Khối học viện: 5,4%; Khối trường sĩ quan: 0,3%; toàn khối chưa có chức danh Giáo sư).
5. Những giải pháp trọng tâm nào được đề xuất để nâng cao hiệu quả hoạt động của đội ngũ giảng viên?
Luận án đề xuất 4 nhóm giải pháp cơ bản: Nâng cao nhận thức, trách nhiệm của cấp ủy và giảng viên (kết hợp giáo dục với tự giáo dục); Bồi dưỡng nâng cao phẩm chất chính trị, năng lực tư duy và kỹ năng viết bài đấu tranh; Đổi mới công tác tổ chức và chỉ đạo các lực lượng đấu tranh trong nhà trường quân đội; Thực hiện tốt chế độ chính sách đãi ngộ, bảo đảm kinh phí, cơ sở vật chất và cung cấp thông tin, tài liệu kịp thời.
Kết luận
Luận án tiến sĩ Triết học của tác giả Lê Thành Long đã luận giải một cách có hệ thống cơ sở lý luận và thực tiễn về vai trò của đội ngũ giảng viên lý luận chính trị ở các nhà trường Quân đội nhân dân Việt Nam trong phòng, chống chiến lược "diễn biến hòa bình". Thông qua các dữ liệu điều tra xã hội học thực chứng và số liệu ngành, công trình đã làm rõ thực trạng năng lực, nhận thức và những bất cập đang đặt ra đối với công tác đấu tranh tư tưởng, lý luận trong quân đội. Trên cơ sở đó, luận án xác định các quan điểm chỉ đạo và đề xuất hệ thống giải pháp đồng bộ, góp phần xây dựng quân đội vững mạnh về mặt chính trị và bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng trong tình hình mới.