Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 1. Các công trình nghiên cứu liên quan đến tính tích cực và tính tích cực nghiên cứu khoa học 1. Các công trình nghiên cứu về nguồn gốc, bản chất của tính tích cực và tính tích cực nghiên cứu khoa học Khi phân tích về nhân cách và tính tích cực của nhân cách, S. Do đó, bản chất, nguồn gốc, động lực thúc đẩy con người tích cực sáng tạo xuất phát từ việc được thỏa mãn hay không được thoả mãn những đòi hỏi từ bản năng sinh vật.
Bản năng, mà đặc biệt là bản năng tính dục (trong mô hình của S.Freud), những “sự lo lắng cơ bản” (Homey), “hướng tới yêu thương” (Fromm), “hướng tới thành công, sự độc đáo, quyền lực, hoàn thiện” (Adler) là nguồn gốc của tính tích cực hoạt động ở con người; Những cái liên quan đến động lực thúc đẩy con người hoạt động là những cái nằm trong bản thân mỗi người được di truyền.Freud và các học trò của ông đã lý giải tính tích cực tâm lý bằng cách sinh vật hóa con người, coi bản năng tính dục là cội nguồn mà chưa thấy được nguồn gốc, bản chất xã hội - lịch sử của tính tích cực trong toàn bộ đời sống tâm lý con người. Nghiên cứu về tính tích cực của hành vi, J. Watson [dẫn theo 39] đã chỉ rõ: Toàn bộ cuộc sống của con người được xem như là lịch sử của tính tích cực, nó được hiểu là tổng hoà các phản ứng. Từ đó dẫn đến quan niệm về “dòng tính tích cực” đem đối nghịch với “dòng ý thức” của Tâm lý học chủ quan của James.
Bản thân khái niệm “dòng tính tích cực” như là một khái niệm ngầm hiểu là “dòng hành vi”; “dòng hành vi” được hiểu là toàn bộ tổ 14 hợp hành vi hợp lại bởi các trả lời đơn thuần đối với kích thích. Từ đó có thể hiểu được “dòng tính tích cực” trong trường hợp có nghiên cứu mối liên hệ giữa thế giới bên ngoài và cuộc sống của cơ thể; điều này chứng tỏ quan điểm quyết định luận duy vật của J.Watson về hành vi người mà ông tiếp thu được từ Tâm lý học động vật khách quan và Tâm lý học thực nghiệm từ thế kỷ trước. Từ những nghiên cứu của mình, J.Watson đã đưa ra công thức cổ điển, nổi tiếng: S - R, trong đó S (Stimulant - kích thích), R (Reaction - phản ứng), theo đó nguồn gốc, bản chất tính tích cực hành vi của con người là do kích thích từ môi trường đem lại.Tolman …đã khái quát và bổ sung, phát triển công thức cổ điển, nổi tiếng của J. Watson bằng cách đưa thêm vào công thức đó yếu tố “tạo tác” (Operant) (S - O - R) để giải thích và miêu tả rõ hơn tính tích cực chủ thể của hành vi con người, từ đây hành vi được gọi là hành vi tạo tác.
Theo đó, hành vi được đề xuất ra với tư cách là một trong ba dạng: hành vi vô điều kiện; hành vi có điều kiện và hành vi tạo tác. Hành vi tạo tác là một kiểu hành vi có liên quan đến một kiểu học tập gồm 3 loại: củng cố, phần thưởng và sự trừng phạt. Tính tích cực của con người sẽ tăng lên khi tăng cường những hành vi củng cố tích cực như cho thêm giá trị, khen ngợi sau mỗi lần thực hiện hành vi. Như vậy, các nhà Tâm lý học hành vi đã quan niệm một cách cơ học, máy móc về tính tích cực, coi nguồn gốc, bản chất tính tích cực hành vi của con người là do kích thích từ môi trường; họ đã đánh đồng tính tích cực hoạt động của con người với hành vi của con vật.
Tù kết quả nghiên cứu về tính tích cực, tính tích cực nhận thức, tác giả X.Rubinstein (1969), Con người và thế giới, [79] đã chỉ ra, tính tích cực cũng như các phẩm chất tâm lý khác nảy sinh, hình thành, phát triển và bộc lộ thông qua hoạt động. Tính tích cực luôn gắn liền với hoạt động và phản ánh thái độ của chủ thể trong hoạt động. Đặc biệt, tác giả đã xem xét ảnh hưởng của kinh nghiệm lịch sử nhân loại, nằm trong các dấu hiệu tác động đến sự hình thành 15 tính tích cực của con người; đồng thời đã xem xét hoạt động như một hình thức đặc trưng trong tính tích cực của con người. Đó là cơ sở lý luận vững chắc để luận án luận giải phương thức tồn tại của tính tích cực NCKH của giảng viên.
Trong nghiên cứu về nguồn gốc và sự phát triển của tính tích cực cá nhân, tác giả A.Côvaliop (1971), Tâm lý học cá nhân [18] đã khẳng định: Nhu cầu là nguồn gốc của tính tích cực cá nhân và còn chỉ ra, tính tích cực của con người trải qua một quá trình tiến hóa cá thể phức tạp trong lịch sử. Đây là nghiên cứu ban đầu, quan trọng về nguồn gốc, sự hình thành phát triển của tính tích cực hoạt động của con người nói chung và tính tích cực NCKH của giảng viên nói riêng. Nghiên cứu về tích cực của chủ thể, tác giả A.Leonchiev (1972), Những vấn đề phát triển tâm lý [57] chỉ rõ: Nói về cuộc sống ở dạng chung nhất của nó chúng ta phải giữ quan điểm công nhận tính chất tích cực của chủ thể. Đối với mọi tồn tại sống, đối tượng không chỉ là cái mà khi quan hệ với nó thì một thuộc tính nào đó có thể lộ ra, mà còn là đối tượng khẳng định sự sống của tồn tại, là đối tượng mà trong quan hệ với nó tồn tại sống không chỉ là cái thụ động mà còn là cái tích cực hoạt động vươn tới một cái gì đó có đam mê.Leonchiev đã nhấn mạnh mối liên hệ khăng khít giữa tính tích cực của chủ thể và tính đối tượng của mọi hoạt động sống.
Đồng thời, qua việc tách tính tích cực của chủ thể ra thành một thành tố bắt buộc phải có trong hoạt động và phải đặt trong hoạt động, ông đã vận dụng nguyên tắc tính tích cực, tính đam mê sang tất cả các hình thái của hành vi. Đây là một sự khác biệt cơ bản giữa quan niệm tính tích cực hoạt động trong luận điểm của ông với quan niệm tính tích cực hành vi trong chủ nghĩa hành vi. Tác giả còn chỉ ra: Đối tượng hoạt động là động cơ thực sự của hoạt động và tính tích cực được tạo ra bằng hoạt động, đồng thời cũng là nhân tố tham gia thực hiện hoạt động, hơn thế nữa nhờ gắn liền với sự thoả mãn mục đích, động cơ mà tính tích cực đạt mức cao nhất của nó là sự say mê. Như vậy, tính tích cực thể hiện trong trạng thái hoạt động và được thúc đẩy bởi động cơ, do nhu cầu tạo ra và biểu hiện trong những hành động, hành vi cụ thể của con người.
Những nghiên cứu của 16 A.Leonchiev về tính tích cực của con người có giá trị to lớn, là cơ sở lý luận cơ bản, quan trọng để nghiên cứu về tính tích cực NCKH của giảng viên. Khi xem xét dấu hiệu bản chất của tính tích cực, các tác giả M.Iukevich [dẫn theo 92] đã chỉ ra: Tính tích cực luôn gắn liền với hoạt động, phải được thể hiện trong trạng thái hoạt động và được biểu hiện trong những hành động, hành vi cụ thể; Tính tích cực chỉ tính sẵn sàng hoạt động, là nhu cầu đối với hoạt động của chủ thể. Yếu tố nhu cầu có mối quan hệ chặt chẽ với tính tích cực, nó là một thành tố tâm lý tạo nên nguồn gốc, động lực của tính tích cực, nếu không có nhu cầu thì không có tính tích cực; Tính tích cực chỉ sự chủ động, hành động một cách có ý thức, theo chủ ý của mình đối lập với sự bị động, thụ động. Như vậy, tác giả đã chỉ rõ mối quan hệ giữa tính tích cực của chủ thể với nhu cầu, hoạt động của con người, đó là cơ sở quan trọng để xem xét vấn đề nguồn gốc, bản chất của tính tích cực NCKH của giảng viên ở các trường SQQĐ.
Ôkôn (1976), Những cơ sở của việc dạy học nêu vấn đề cho rằng: "Khi ta nói đến tính tích cực chúng ta quan niệm là lòng mong muốn hoạt động được nảy sinh một cách không chủ định và gây nên những biểu hiện bên ngoài hoặc bên trong của sự hoạt động" [73, tr. Như vậy, tính tích cực mang tính chủ thể, thể hiện trong hoạt động và được thúc đẩy bởi các nhu cầu hoạt động của con người. Đây là cơ sở khoa học khẳng định nguồn gốc của tính tích cực NCKH của giảng viên. Khi xem xét từ góc độ chức năng, vai trò của chủ thể với thế giới bên ngoài, các tác giả S.Romanov [dẫn theo 94] đã chỉ ra: Tính tích cực thể hiện tính chủ định của ý thức, sự chủ động của chủ thể với thế giới bên ngoài; Tính tích cực là thông số đo sự chuyển động, sự biến đổi hoạt động tâm lý của chủ thể gắn liền với tiêu hao năng lượng tâm lý và sinh lý; Tính tích cực không chỉ thực hiện chức năng thích nghi mà cao hơn là sự thích ứng, sự cải tạo, sáng tạo của chủ thể với thế giới bên ngoài.
Trong tác phẩm này, các nhà Tâm lý học nhân văn với hai đại diện là A. Rogers cho rằng nguồn gốc, động lực của tính tích cực được thể hiện ở “Nhu cầu - Tính tích cực ". 17 Điều thúc đẩy con người ta hoạt động xuất phát từ những nguồn lực bên trong như nhu cầu tự hiện thực hóa, khuynh hướng hiện thực hoá bẩm sinh hoặc nhu cầu tự khẳng định. Đây là kết quả quan trọng để xác định nguồn gốc, bản chất tính tích cực NCKH của giảng viên ở các trường SQQĐ.
Khi nghiên cứu về tính tích cực, các tác giả: L.Ivasco [dẫn theo 72] đã đưa ra các nguyên tắc như: Không nên giải thích phiến diện hay chỉ xem xét tính tích cực duy nhất là trạng thái hoạt động, không được tách rời mặt bên trong của tính tích cực với biểu hiện ra bên ngoài. Sự phát triển của tính tích cực có thể được biểu hiện bằng các đặc trưng số lượng, chất lượng của hoạt động. Tính tích cực vừa là mục đích, vừa là điều kiện, phương tiện, vừa là kết quả của hoạt động. Những nguyên tắc trên là chuẩn mực cơ bản để nghiên cứu về tính tích cực NCKH của giảng viên.