Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ chuyên ngành Tâm lý học mang tên "Tính tích cực nghiên cứu khoa học của giảng viên khoa học xã hội và nhân văn ở các trường sĩ quan Quân đội nhân dân Việt Nam hiện nay" do nghiên cứu sinh Nguyễn Mạnh Tiến thực hiện. Đề tài được triển khai trong bối cảnh cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư đang diễn ra mạnh mẽ, đặt ra yêu cầu đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục - đào tạo và xây dựng mô hình "Nhà trường thông minh" trong Quân đội nhân dân Việt Nam. Đối với đội ngũ giảng viên khoa học xã hội và nhân văn (KHXH&NV) tại các trường sĩ quan quân đội, giảng dạy và nghiên cứu khoa học (NCKH) là hai nhiệm vụ cơ bản, có mối quan hệ gắn bó hữu cơ và hỗ trợ trực tiếp cho nhau. NCKH vừa là cơ sở nâng cao chất lượng bài giảng, vừa là thước đo năng lực chuyên môn và phẩm chất khoa học của người giảng viên.

Mặc dù các nhà trường quân đội đã có nhiều chủ trương bồi dưỡng đội ngũ, song theo Báo cáo tổng kết 10 năm thực hiện Nghị quyết số 791-NQ/TW của Quân ủy Trung ương do Cục Nhà trường công bố, hoạt động NCKH của một bộ phận cán bộ, giảng viên vẫn còn bộc lộ những bất cập: chưa thực sự tích cực nghiên cứu, tiến độ đề tài bị chậm, chất lượng và khả năng ứng dụng thực tiễn chưa cao; công tác quản lý và chế độ đãi ngộ còn tồn tại điểm nghẽn. Về mặt lý luận, các công trình trước đây chủ yếu tiếp cận tính tích cực hoặc NCKH nói chung; chưa có công trình nào nghiên cứu một cách trực tiếp, toàn diện và có hệ thống về tính tích cực NCKH của giảng viên KHXH&NV ở các trường sĩ quan Quân đội nhân dân Việt Nam dưới giác độ Tâm lý học. Đây chính là khoảng trống nghiên cứu và tính cấp thiết mà luận án tập trung giải quyết.

Mục đích nghiên cứu

Nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn tính tích cực NCKH của giảng viên KHXH&NV, đề xuất hệ thống biện pháp tâm lý - xã hội (TLXH) nhằm nâng cao tính tích cực NCKH của đội ngũ này, góp phần nâng cao chất lượng NCKH và giáo dục - đào tạo (GDĐT) ở các trường sĩ quan Quân đội nhân dân Việt Nam hiện nay.

Nhiệm vụ nghiên cứu

Luận án xác định và thực hiện 4 nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:

  1. Tổng quan các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến đề tài luận án.
  2. Làm rõ những vấn đề lý luận về tính tích cực NCKH của giảng viên KHXH&NV ở các trường sĩ quan Quân đội nhân dân Việt Nam.
  3. Khảo sát, đánh giá thực trạng tính tích cực NCKH và thực trạng các yếu tố ảnh hưởng đến tính tích cực NCKH của giảng viên KHXH&NV ở các trường sĩ quan Quân đội nhân dân Việt Nam hiện nay.
  4. Đề xuất các biện pháp TLXH nâng cao tính tích cực NCKH của giảng viên KHXH&NV ở các trường sĩ quan Quân đội nhân dân Việt Nam hiện nay.

Giả thuyết khoa học

  • Tính tích cực NCKH của giảng viên KHXH&NV ở các trường sĩ quan Quân đội nhân dân Việt Nam hiện nay đạt mức độ cao nhưng không đồng đều giữa các mặt biểu hiện: sự chủ động, sáng tạo, vượt khó và hiệu quả ở mức độ cao, trong khi sự hứng thú ở mức độ trung bình.
  • Có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về tính tích cực NCKH giữa các nhóm giảng viên có thâm niên nghề nghiệp và trình độ đào tạo khác nhau.
  • Tính tích cực NCKH của giảng viên chịu tác động đồng thời của 4 yếu tố chủ quan (xu hướng, năng lực, kinh nghiệm, ý chí NCKH) và 4 yếu tố khách quan (sự phát triển của KHCN; yêu cầu, nhiệm vụ thời kỳ mới; môi trường NCKH; sự quan tâm, đãi ngộ của lãnh đạo, chỉ huy).
  • Việc áp dụng đồng bộ 5 biện pháp TLXH (phát triển xu hướng, tổ chức đa dạng hoạt động, phát huy tính tự giác, hoàn thiện cơ chế quản lý, xây dựng môi trường dân chủ) sẽ nâng cao tính tích cực NCKH của giảng viên.

Đối tượng, khách thể và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Biểu hiện, mức độ và các yếu tố ảnh hưởng đến tính tích cực NCKH của giảng viên KHXH&NV.
  • Khách thể nghiên cứu: Giảng viên KHXH&NV và cán bộ quản lý khoa học (QLKH) tại các trường sĩ quan Quân đội nhân dân Việt Nam.
  • Phạm vi nội dung: Tập trung vào hình thức thực hiện đề tài nghiên cứu khoa học; khảo sát 5 mặt biểu hiện (chủ động, hứng thú, sáng tạo, vượt khó, hiệu quả); khảo sát 4 nhóm yếu tố chủ quan (YTCQ) và 4 nhóm yếu tố khách quan (YTKQ).
  • Phạm vi không gian: Khảo sát tại 4 trường sĩ quan đại diện cho các khối ngành (chính trị, quân sự, kỹ thuật) trên cả 3 miền Bắc, Trung, Nam: Trường Sĩ quan Chính trị (SQCT), Trường Sĩ quan Lục quân 1 (SQLQ1), Trường Sĩ quan Thông tin (SQTT) và Trường Sĩ quan Công binh (SQCB).
  • Phạm vi thời gian: Thu thập, điều tra và phân tích số liệu thực tiễn trong giai đoạn 5 năm (2019 - 2023).

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Luận án đã hệ thống hóa lịch sử nghiên cứu về tính tích cực và tính tích cực NCKH theo 4 hướng tiếp cận cơ bản:

1. Các nghiên cứu về nguồn gốc và bản chất của tính tích cực

  • Tâm lý học phương Tây: Phái phân tâm học (S. Freud, Adler, Horney, Fromm) quy tính tích cực về các bản năng sinh vật và vô thức. Phái hành vi (J. Watson với công thức $S - R$; E. Tolman với công thức $S - O - R$) nhìn nhận tính tích cực là tổng hòa các phản ứng máy móc trước kích thích môi trường. Phái nhân văn (A. Maslow, C. Rogers) gắn động lực với nhu cầu tự khẳng định và hiện thực hóa tiềm năng.
  • Tâm lý học Mác-xít và hoạt động: S. Rubinstein (1969), A. Côvaliop (1971), A. Leonchiev (1972), M. Iukevich, V. Ôkôn (1976), S. Romanov, L. Ivasco khẳng định tính tích cực là phẩm chất nhân cách mang bản chất xã hội - lịch sử, bắt nguồn từ nhu cầu và nảy sinh, bộc lộ thông qua hoạt động có đối tượng.
  • Tâm lý học Việt Nam: Phạm Minh Hạc (2002), Nguyễn Ánh Tuyết, Nguyễn Quang Uẩn (2015), Đặng Thanh Nga (2018) tiếp cận theo hướng hoạt động - nhân cách - giao tiếp, khẳng định nhu cầu là động lực bên trong thúc đẩy tính tích cực cá nhân.

2. Các nghiên cứu về biểu hiện của tính tích cực và tính tích cực NCKH

  • P. Ruđich (1974) xác định biểu hiện qua lòng yêu khoa học, tính kiên trì và năng lực tổ chức.
  • G. Sukina phân chia tính tích cực nhận thức thành các mức tái hiện, tìm tòi và sáng tạo.
  • Nguyễn Đình Gấm (2013) nghiên cứu ở giảng viên trẻ Học viện Chính trị với các biểu hiện: nhận thức, hứng thú, kỹ năng, ý chí vượt khó và tính hiệu quả.
  • Lê Thị Minh Loan và Nguyễn Văn Lượt (2017), Hà Thị Minh Chính (2017) xác định 4 thành phần: chủ động, say mê/hứng thú, sáng tạo và vượt khó.
  • Trần Thị Tuyết Mai (2017), Đặng Thanh Nga (2018), Lê Thị Thủy (2019) tiếp tục kiểm chứng cấu trúc tính tích cực trong các nhóm khách thể sinh viên, giảng viên đại học và công nhân.

3. Các nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng

  • A. Covaliop (1971), R. Nhizamov (1998), V. Kominxkaia xác định vai trò của động cơ, năng lực, yêu cầu xã hội và dư luận tập thể.
  • Vũ Thế Bình (2019) phân định hệ thống yếu tố khách quan (kinh tế - xã hội, chính sách, môi trường quân sự) và yếu tố chủ quan (động cơ, nhu cầu thành đạt, năng lực sư phạm, vốn sống) tác động đến tính tích cực giảng dạy của giảng viên KHXH&NV quân sự.
  • Các công trình của Nguyễn Đình Gấm (2013), Đặng Thanh Nga (2018), Lê Thị Thủy (2019) khẳng định sự đan xen giữa điều kiện vật chất, cơ chế quản lý với ý chí, kỹ năng cá nhân.

4. Các nghiên cứu về biện pháp nâng cao tính tích cực

  • L. Vygotxki, F. Taylor, Edge (2003) nghiên cứu kích thích vật chất và phân công lao động chuyên môn hóa.
  • Nguyễn Ngọc Phú (2006), Nguyễn Thị Tình (2010), Dương Quốc Bảo (2017), Đỗ Thị Thanh Tuyền (2017), Bùi Tuấn Anh (2018), Đặng Thanh Nga (2018) đề xuất các nhóm giải pháp: giáo dục động cơ, đổi mới quản lý, thi đua khen thưởng, bảo đảm điều kiện làm việc và phát huy tính tự giác.
Hướng nghiên cứu Tác giả tiêu biểu trong văn bản Đóng góp chính đối với luận án
Nguồn gốc, bản chất A. Leonchiev, A. Côvaliop, Phạm Minh Hạc, Nguyễn Quang Uẩn Xác lập cơ sở luận giải tính tích cực là phẩm chất nhân cách, bắt nguồn từ nhu cầu NCKH
Biểu hiện Lê Thị Minh Loan, Nguyễn Văn Lượt, Đặng Thanh Nga, Nguyễn Đình Gấm Định hình 5 thành phần: Chủ động, Hứng thú, Sáng tạo, Vượt khó, Hiệu quả
Yếu tố ảnh hưởng Vũ Thế Bình, R. Nhizamov, A. Covaliop Cơ sở phân loại 4 yếu tố chủ quan và 4 yếu tố khách quan
Biện pháp tác động Bùi Tuấn Anh, Nguyễn Thị Tình, Đặng Thanh Nga, Nguyễn Ngọc Phú Định hướng xây dựng hệ thống giải pháp tâm lý - xã hội đồng bộ

Khoảng trống nghiên cứu: Mặc dù cơ sở lý luận về tính tích cực đã phong phú, nhưng chưa có đề tài nào đi sâu nghiên cứu toàn diện biểu hiện, mức độ, yếu tố ảnh hưởng và đề xuất biện pháp TLXH cho đối tượng đặc thù là giảng viên KHXH&NV tại các trường sĩ quan Quân đội nhân dân Việt Nam.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết và các khái niệm công cụ

  • Giảng viên KHXH&NV ở các trường sĩ quan quân đội: Là những nhà giáo quân đội trực tiếp giảng dạy và NCKH, biên soạn giáo trình, hướng dẫn người học và tư vấn giải pháp khoa học. Theo Thông tư số 188/2021/TT-BQP ngày 31/12/2021, giảng viên phải hoàn thành định mức 1.760 giờ làm việc/năm (44 giờ/tuần), trong đó dành ít nhất $1/3$ tổng quỹ thời gian (tương đương 600 giờ hành chính) cho NCKH và 280 giờ chuẩn (840 giờ hành chính) cho giảng dạy.
  • Nghiên cứu KHXH&NV quân sự: Kế thừa định nghĩa từ Luật KH&CN năm 2013 và các tác giả Phạm Viết Vượng, Vũ Cao Đàm, Trần Đình Tuấn, Thái Duy Tuyên, Trần Xuân Trường, Nguyễn Bá Dương, Phạm Văn Nhuận: Là hoạt động khám phá bản chất, quy luật xã hội và con người trong lĩnh vực quân sự, quốc phòng và giáo dục đào tạo nhằm cung cấp luận cứ khoa học xây dựng quân đội vững mạnh về chính trị.
  • Giai đoạn hoạt động NCKH: Gồm 3 giai đoạn kế tiếp nhau: (1) Chuẩn bị nghiên cứu (chọn đề tài, lập đề cương, dự toán); (2) Thực hiện nghiên cứu (thu thập dữ liệu, xử lý kết quả, viết báo cáo); (3) Hoàn thành nghiên cứu (nghiệm thu, công bố, chuyển giao).
  • Tính tích cực NCKH của giảng viên KHXH&NV ở các trường sĩ quan quân đội (Khái niệm trung tâm): Là một phẩm chất nhân cách, thể hiện ở sự chủ động, hứng thú, sáng tạo, vượt khó và hiệu quả trong hoạt động NCKH của giảng viên, góp phần nâng cao chất lượng NCKH và giáo dục - đào tạo của nhà trường.
Nhu cầu NCKH (Động lực bên trong)
Tính tích cực NCKH (Phẩm chất nhân cách)
Nâng cao chất lượng NCKH & GDĐT tại các trường sĩ quan quân đội

Nguyên tắc phương pháp luận và hướng tiếp cận

  1. Nguyên tắc phương pháp luận Mác-xít: Quyết định luận duy vật biện chứng các hiện tượng tâm lý; nguyên tắc hệ thống; nguyên tắc phát triển tâm lý; nguyên tắc tiếp cận nhân cách; nguyên tắc thống nhất giữa tâm lý - ý thức và hoạt động.
  2. Các hướng tiếp cận chuyên ngành:
    • Tiếp cận hệ thống: Xem xét tính tích cực trong chỉnh thể tương tác giữa các YTCQ và YTKQ.
    • Tiếp cận lịch sử: Đặt tính tích cực trong bối cảnh lịch sử cụ thể của quân đội thời kỳ công nghệ 4.0.
    • Tiếp cận hoạt động - giá trị - nhân cách: Coi hoạt động là phương thức nảy sinh tính tích cực, tạo ra giá trị khoa học và hoàn thiện nhân cách người thầy quân đội.
    • Tiếp cận tâm lý học - xã hội quân sự: Làm rõ các hiện tượng, quan hệ tâm lý nảy sinh trong môi trường tập thể quân sự đặc thù.

Phương pháp nghiên cứu

  • Nhóm phương pháp nghiên cứu tài liệu: Phân tích, tổng hợp, khái quát hóa văn kiện Đảng, chỉ thị Quân ủy Trung ương, Bộ Tổng Tham mưu, Tổng cục Chính trị, Cục Khoa học, Cục Nhà trường và y văn tâm lý học liên quan.
  • Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn:
    • Điều tra bằng bảng hỏi: Công cụ chính thu thập dữ liệu về 5 biểu hiện và 8 yếu tố ảnh hưởng.
    • Phỏng vấn sâu: Thu thập dữ liệu định tính chuyên sâu từ giảng viên và cán bộ QLKH.
    • Phương pháp nghiên cứu kết quả hoạt động: Phân tích hồ sơ đề tài, giáo trình, bài báo khoa học.
    • Phương pháp xin ý kiến chuyên gia: Thẩm định hệ thống chỉ báo, tiêu chí đánh giá và biện pháp đề xuất.
    • Phương pháp phân tích chân dung tâm lý: Đi sâu phân tích 2 chân dung điển hình nhằm minh họa thực trạng tâm lý.
  • Phương pháp thống kê toán học: Sử dụng phần mềm SPSS 20.0 để tính toán điểm trung bình (ĐTB), độ lệch chuẩn (ĐLC), kiểm định tương quan và so sánh các nhóm biến số.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án

Chương 1 tập trung phân tích 4 nhóm nội dung trong tài liệu trong nước và quốc tế: nguồn gốc bản chất, biểu hiện, yếu tố ảnh hưởng và biện pháp nâng cao tính tích cực NCKH. Tác giả chỉ ra rằng các công trình đi trước đã cung cấp cơ sở lý luận vững chắc về tâm lý học hoạt động, thang đo và tiêu chí đánh giá, nhưng chưa giải quyết bài toán tính tích cực NCKH trên đối tượng giảng viên KHXH&NV trong môi trường các trường sĩ quan Quân đội nhân dân Việt Nam. Từ đó, chương 1 xác lập tính cấp thiết, tính độc lập khoa học và các nội dung cốt lõi mà luận án cần đi sâu giải quyết.

Chương 2: Những vấn đề lý luận về tính tích cực nghiên cứu khoa học của giảng viên khoa học xã hội và nhân văn ở các trường sĩ quan Quân đội nhân dân Việt Nam

Chương 2 làm sáng tỏ các khái niệm nền tảng: giảng viên KHXH&NV quân sự, nghiên cứu KHXH&NV quân sự và khái niệm tính tích cực NCKH. Luận án phân tích cấu trúc 5 mặt biểu hiện xuyên suốt 3 giai đoạn NCKH (chuẩn bị, thực hiện, hoàn thành), đồng thời thiết lập khung lý thuyết gồm 4 YTCQ và 4 YTKQ tác động đến tính tích cực:

Cấu trúc thành phần Chi tiết nội dung phân tích trong chương 2
5 Biểu hiện tính tích cực 1. Sự chủ động (tự giác lập kế hoạch, chọn đề tài, độc lập giải quyết vấn đề)
2. Sự hứng thú (say mê, tìm tòi, cảm xúc tích cực trong nghiên cứu)
3. Sự sáng tạo (tìm tòi cái mới, cải tiến phương pháp, phát hiện tri thức mới)
4. Sự vượt khó (nỗ lực ý chí, kiên trì trước áp lực thời gian, kinh phí, nhiệm vụ)
5. Sự hiệu quả (tiết kiệm nguồn lực, chất lượng sản phẩm nghiệm thu, ứng dụng thực tế)
4 Yếu tố chủ quan (YTCQ) 1. Xu hướng NCKH của giảng viên
2. Năng lực NCKH của giảng viên
3. Kinh nghiệm NCKH của giảng viên
4. Ý chí NCKH của giảng viên
4 Yếu tố khách quan (YTKQ) 1. Sự phát triển mạnh mẽ của khoa học công nghệ
2. Yêu cầu, nhiệm vụ NCKH trong thời kỳ mới
3. Môi trường NCKH của giảng viên
4. Sự quan tâm, đãi ngộ của lãnh đạo, chỉ huy các cấp

Chương 3: Tổ chức và phương pháp nghiên cứu

Trình bày quy trình nghiên cứu thực tiễn qua 3 giai đoạn (chuẩn bị, thu thập dữ liệu và xử lý kết quả). Mẫu khảo sát được phân bố theo cơ cấu chặt chẽ tại 4 trường sĩ quan (Trường Sĩ quan Chính trị, Trường Sĩ quan Lục quân 1, Trường Sĩ quan Thông tin, Trường Sĩ quan Công binh) đại diện cho 3 khối đào tạo chính trị, quân sự, kỹ thuật tại miền Bắc, miền Trung và miền Nam. Chương 3 cũng xác lập hệ thống tiêu chí, chỉ báo cụ thể và thang điểm đánh giá tương ứng cho từng biểu hiện tâm lý, kết hợp thang đo Likert và các kỹ thuật xử lý dữ liệu qua phần mềm SPSS 20.0.

Chương 4: Kết quả nghiên cứu thực tiễn tính tích cực nghiên cứu khoa học của giảng viên khoa học xã hội và nhân văn ở các trường sĩ quan Quân đội nhân dân Việt Nam hiện nay

Chương 4 công bố toàn bộ dữ liệu khảo sát định lượng và định tính:

  • Thực trạng biểu hiện tính tích cực: Tính tích cực NCKH của giảng viên nhìn chung đạt mức độ cao. Trong đó, 4 mặt biểu hiện đạt mức cao gồm: sự chủ động, sự sáng tạo, sự vượt khó và sự hiệu quả. Riêng sự hứng thú chỉ đạt mức trung bình. Luận án phân tích chi tiết từng biểu hiện qua 3 giai đoạn chuẩn bị, thực hiện và hoàn thành nghiên cứu.
  • Tương quan và khác biệt: Phân tích tương quan khẳng định mối liên hệ thuận và rất mạnh giữa từng biểu hiện thành phần với tính tích cực chung. Kiểm định thống kê chỉ ra sự khác biệt có ý nghĩa về tính tích cực NCKH theo thâm niên công tác và trình độ đào tạo của giảng viên.
  • Thực trạng các yếu tố ảnh hưởng: Xác định rõ thứ bậc và mức độ ảnh hưởng của nhóm 4 yếu tố khách quan và 4 yếu tố chủ quan đến hoạt động nghiên cứu; dự báo xu hướng biến đổi của các yếu tố này trong bối cảnh mới.
  • Phân tích chân dung tâm lý: Phác họa và mổ xẻ 2 trường hợp chân dung tâm lý thực tế, làm rõ sự tương tác giữa động cơ, ý chí và hiệu quả nghiên cứu trong môi trường quân đội.
  • Hệ thống biện pháp TLXH: Đề xuất 5 nhóm biện pháp đồng bộ nhằm nâng cao tính tích cực NCKH của giảng viên.

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp mới về mặt lý luận

  • Bổ sung và chuẩn hóa hệ thống khái niệm của Tâm lý học quân sự: Giảng viên KHXH&NV ở các trường sĩ quan quân đội, Nghiên cứu KHXH&NV quân sự, Tính tích cực NCKH của giảng viên KHXH&NV ở các trường sĩ quan quân đội.
  • Xây dựng hoàn chỉnh mô hình cấu trúc tính tích cực NCKH gồm 5 mặt biểu hiện (chủ động, hứng thú, sáng tạo, vượt khó, hiệu quả) theo 3 giai đoạn nghiên cứu (chuẩn bị, thực hiện, hoàn thành), chỉ ra nguồn gốc bản chất xuất phát từ nhu cầu NCKH của nhân cách người giảng viên.
  • Xác định hệ thống các yếu tố ảnh hưởng gồm 4 YTCQ và 4 YTKQ đặc thù trong môi trường giáo dục quân sự.

Đóng góp mới về mặt thực tiễn

  • Khảo sát thực trạng chỉ ra tính tích cực NCKH của giảng viên KHXH&NV đạt mức cao ở 4 biểu hiện (chủ động, sáng tạo, vượt khó, hiệu quả) nhưng chỉ đạt mức trung bình ở biểu hiện hứng thú.
  • Chứng minh mối tương quan thuận rất mạnh giữa các biểu hiện thành phần với tính tích cực chung, khẳng định sự thay đổi của từng biểu hiện thành phần sẽ tác động trực tiếp đến toàn bộ tính tích cực NCKH.
  • Xây dựng 2 chân dung tâm lý điển hình phản ánh chân thực đặc điểm tâm lý của đội ngũ nghiên cứu trong quân đội.
  • Đề xuất 5 nhóm biện pháp TLXH mang tính ứng dụng trực tiếp:
STT Nhóm biện pháp tâm lý - xã hội đề xuất
1 Phát triển xu hướng NCKH của giảng viên KHXH&NV
2 Tổ chức đa dạng các hoạt động khoa học để giảng viên tích cực NCKH
3 Phát huy tính tự giác NCKH của giảng viên
4 Hoàn thiện cơ chế, chính sách và quản lý chặt chẽ hoạt động NCKH của giảng viên
5 Xây dựng môi trường NCKH dân chủ, lành mạnh ở các trường sĩ quan quân đội

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Giới hạn nội dung: Hoạt động NCKH của giảng viên bao gồm nhiều hình thức (viết báo, biên soạn giáo trình, tài liệu, tham luận, hướng dẫn học viên), song đề tài chỉ tập trung khảo sát chủ yếu ở hình thức thực hiện đề tài khoa học.
  • Giới hạn khách thể và địa bàn: Nghiên cứu giới hạn trong đội ngũ giảng viên KHXH&NV và cán bộ QLKH tại 4 trường sĩ quan quân đội (Trường Sĩ quan Chính trị, Trường Sĩ quan Lục quân 1, Trường Sĩ quan Thông tin, Trường Sĩ quan Công binh) trong khung thời gian 5 năm (2019 - 2023).
  • Hướng nghiên cứu tiếp theo: Có thể mở rộng khảo sát trên các hình thức nghiên cứu khác (biên soạn giáo trình, bài báo quốc tế, sáng kiến kinh nghiệm) và mở rộng phạm vi sang các học viện, viện nghiên cứu hoặc toàn bộ các nhà trường thuộc hệ thống Quân đội nhân dân Việt Nam.

Giá trị tham khảo

  • Đối với giảng viên và nghiên cứu sinh ngành Tâm lý học / Tâm lý học quân sự: Luận án cung cấp khung lý thuyết, hệ thống khái niệm chuẩn mực và bộ công cụ đo lường tính tích cực nghề nghiệp để tham khảo trong các nghiên cứu chuyên sâu.
  • Đối với cán bộ quản lý khoa học và ban giám đốc các trường sĩ quan: Tài liệu cung cấp cơ sở thực tiễn để đánh giá đúng thực trạng tâm lý đội ngũ giảng viên, từ đó điều chỉnh chế độ định mức giờ nghiên cứu (theo Thông tư 188/2021/TT-BQP), đổi mới chính sách đãi ngộ, khen thưởng và xây dựng môi trường học thuật dân chủ.
  • Đối với các nhà trường quân đội: Là tài liệu tham khảo trong công tác quy hoạch, bồi dưỡng năng lực, khơi dậy niềm hứng thú và tinh thần tự giác NCKH cho đội ngũ giảng viên trẻ.

Câu hỏi thường gặp

1. Luận án định nghĩa tính tích cực NCKH của giảng viên KHXH&NV quân sự như thế nào?

Luận án xác định: Tính tích cực NCKH của giảng viên KHXH&NV ở các trường sĩ quan quân đội là một phẩm chất nhân cách, thể hiện ở sự chủ động, hứng thú, sáng tạo, vượt khó và hiệu quả trong hoạt động NCKH của giảng viên, góp phần nâng cao chất lượng NCKH và giáo dục - đào tạo của nhà trường.

2. Định mức thời gian làm việc và NCKH của giảng viên quân đội được quy định ra sao?

Theo Thông tư số 188/2021/TT-BQP ngày 31/12/2021 được trích dẫn trong luận án, tổng định mức làm việc của giảng viên trong năm học là 1.760 giờ (tuần làm việc 44 giờ). Trong đó, giảng viên phải dành ít nhất $1/3$ tổng quỹ thời gian hoặc 600 giờ hành chính cho nhiệm vụ NCKH, 280 giờ chuẩn (tương đương 840 giờ hành chính) cho giảng dạy, phần còn lại dành cho học tập bồi dưỡng và nhiệm vụ khác.

3. Kết quả khảo sát thực trạng chỉ ra điểm gì đáng chú ý về 5 mặt biểu hiện của tính tích cực?

Khảo sát thực tiễn cho thấy tính tích cực NCKH của giảng viên ở mức cao nhưng không đồng đều: 4 mặt biểu hiện gồm sự chủ động, sự sáng tạo, sự vượt khó và sự hiệu quả đạt mức cao, trong khi sự hứng thú NCKH của giảng viên chỉ đạt mức trung bình.

4. Địa bàn khảo sát thực tiễn của luận án gồm những đơn vị nào?

Luận án khảo sát tại 4 trường sĩ quan đại diện cho 3 khối đào tạo (chính trị, quân sự, kỹ thuật) trên cả ba miền: Trường Sĩ quan Chính trị (SQCT), Trường Sĩ quan Lục quân 1 (SQLQ1), Trường Sĩ quan Thông tin (SQTT) và Trường Sĩ quan Công binh (SQCB).

5. Luận án đề xuất những nhóm giải pháp tâm lý - xã hội cơ bản nào?

Luận án đề xuất 5 nhóm biện pháp TLXH: (1) Phát triển xu hướng NCKH; (2) Tổ chức đa dạng các hoạt động khoa học; (3) Phát huy tính tự giác NCKH; (4) Hoàn thiện cơ chế, chính sách và quản lý chặt chẽ hoạt động NCKH; (5) Xây dựng môi trường NCKH dân chủ, lành mạnh ở các trường sĩ quan.


Kết luận

Luận án tiến sĩ của tác giả Nguyễn Mạnh Tiến là công trình nghiên cứu hệ thống, chuyên sâu về tính tích cực NCKH của giảng viên KHXH&NV tại các trường sĩ quan Quân đội nhân dân Việt Nam dưới góc độ Tâm lý học. Bằng việc kết hợp chặt chẽ giữa các nguyên tắc phương pháp luận Mác-xít với phương pháp điều tra thực tiễn qua phần mềm SPSS 20.0 trên 4 trường sĩ quan đại diện, luận án đã làm sáng tỏ cấu trúc 5 biểu hiện tâm lý và phân tích tác động của 8 yếu tố chủ quan, khách quan. Kết quả nghiên cứu khẳng định tính tích cực của đội ngũ giảng viên đạt mức cao nhưng mức độ hứng thú còn hạn chế, từ đó đề xuất 5 nhóm biện pháp tâm lý - xã hội có tính ứng dụng thiết thực nhằm nâng cao chất lượng NCKH và giáo dục đào tạo trong quân đội hiện nay.