Luận án tiến sĩ tính tích cực nghiên cứu khoa học của giảng viên khoa học xã hội và nhân văn ở các trường sĩ quan quân đội nhân dân việt nam hiện nay

Luận án tiến sĩ phân tích tính tích cực trong nghiên cứu khoa học của giảng viên khoa học xã hội tại các trường sĩ quan quân đội Việt Nam.

Trường đại học

Trường sĩ quan quân đội nhân dân Việt Nam

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án

2023

274
1
0

Phí lưu trữ

55 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN

1.1. Các công trình nghiên cứu liên quan đến tính tích cực và tính tích cực nghiên cứu khoa học

1.2. Giá trị của các công trình khoa học đã tổng quan và những vấn đề luận án tập trung nghiên cứu

2. CHƯƠNG 2: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TÍNH TÍCH CỰC NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CỦA GIẢNG VIÊN KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN Ở CÁC TRƯỜNG SĨ QUAN QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN VIỆT NAM

2.1. Các khái niệm cơ bản

2.2. Đặc điểm hoạt động nghiên cứu khoa học của giảng viên khoa học xã hội và nhân văn ở các trường sĩ quan Quân đội nhân dân Việt Nam

2.3. Biểu hiện tính tích cực nghiên cứu khoa học của giảng viên khoa học xã hội và nhân văn ở các trường sĩ quan Quân đội nhân dân Việt Nam

2.4. Mức độ tính tích cực nghiên cứu khoa học của giảng viên khoa học xã hội và nhân văn ở các trường sĩ quan Quân đội nhân dân Việt Nam

2.5. Các yếu tố ảnh hưởng đến tính tích cực nghiên cứu khoa học của giảng viên khoa học xã hội và nhân văn ở các trường sĩ quan Quân đội nhân dân Việt Nam

3. CHƯƠNG 3: TỔ CHỨC VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1. Tổ chức nghiên cứu

3.2. Phương pháp nghiên cứu

3.3. Tiêu chí và thang đánh giá tính tích cực nghiên cứu khoa học của giảng viên khoa học xã hội và nhân văn ở các trường sĩ quan Quân đội nhân dân Việt Nam

4. CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU THỰC TIỄN TÍNH TÍCH CỰC NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CỦA GIẢNG VIÊN KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN Ở CÁC TRƯỜNG SĨ QUAN QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN VIỆT NAM HIỆN NAY

4.1. Thực trạng tính tích cực nghiên cứu khoa học của giảng viên khoa học xã hội và nhân văn ở các trường sĩ quan Quân đội nhân dân Việt Nam hiện nay

4.2. Thực trạng các yếu tố ảnh hưởng đến tính tích cực nghiên cứu khoa học của giảng viên khoa học xã hội và nhân văn ở các trường sĩ quan Quân đội nhân dân Việt Nam hiện nay

4.3. Phân tích chân dung tâm lý

4.4. Biện pháp tâm lý - xã hội nâng cao tính tích cực nghiên cứu khoa học của giảng viên khoa học xã hội và nhân văn ở các trường sĩ quan Quân đội nhân dân Việt Nam hiện nay

MỞ ĐẦU

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

PHỤ LỤC

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Giới thiệu về tính tích cực của giảng viên khoa học xã hội

Tính tích cực của giảng viên khoa học xã hội tại các trường sĩ quan quân đội Việt Nam là một yếu tố quan trọng trong việc nâng cao chất lượng giáo dục và nghiên cứu khoa học. Giảng viên khoa học xã hội không chỉ có nhiệm vụ giảng dạy mà còn phải tham gia tích cực vào hoạt động nghiên cứu khoa học. Tính tích cực này được thể hiện qua nhiều khía cạnh như sự chủ động, hứng thú, sáng tạo, vượt khó và hiệu quả trong nghiên cứu. Theo nghiên cứu, giảng viên có tính tích cực cao sẽ tạo ra môi trường học tập tích cực cho sinh viên, từ đó nâng cao chất lượng giáo dục. Việc phát triển tính tích cực này không chỉ là trách nhiệm của giảng viên mà còn cần sự hỗ trợ từ phía nhà trường và các cơ quan quản lý giáo dục.

1.1. Định nghĩa và vai trò của tính tích cực

Tính tích cực được hiểu là khả năng và động lực của giảng viên trong việc tham gia vào các hoạt động nghiên cứu và giảng dạy. Vai trò giảng viên trong việc phát triển tính tích cực không chỉ dừng lại ở việc truyền đạt kiến thức mà còn bao gồm việc khuyến khích sinh viên tham gia vào các hoạt động nghiên cứu. Điều này giúp sinh viên phát triển tư duy phản biện và khả năng giải quyết vấn đề. Hơn nữa, tính tích cực còn giúp giảng viên tự khẳng định mình trong môi trường học thuật, tạo ra những sản phẩm nghiên cứu có giá trị cho xã hội.

II. Các yếu tố ảnh hưởng đến tính tích cực nghiên cứu khoa học

Tính tích cực nghiên cứu khoa học của giảng viên khoa học xã hội ở các trường sĩ quan quân đội Việt Nam chịu ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố. Các yếu tố này có thể chia thành hai nhóm chính: yếu tố chủ quanyếu tố khách quan. Yếu tố chủ quan bao gồm năng lực, ý chí và kinh nghiệm nghiên cứu của giảng viên. Trong khi đó, yếu tố khách quan liên quan đến môi trường làm việc, chính sách đãi ngộ và sự hỗ trợ từ phía nhà trường. Nghiên cứu cho thấy, giảng viên có sự hỗ trợ tốt từ nhà trường sẽ có xu hướng tích cực hơn trong hoạt động nghiên cứu. Điều này cho thấy tầm quan trọng của việc xây dựng môi trường nghiên cứu tích cực tại các trường sĩ quan.

2.1. Yếu tố chủ quan

Yếu tố chủ quan bao gồm năng lực chuyên môn và động lực cá nhân của giảng viên. Giảng viên có năng lực tốt sẽ tự tin hơn trong việc thực hiện các đề tài nghiên cứu. Hơn nữa, động lực cá nhân cũng đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy giảng viên tham gia vào các hoạt động nghiên cứu. Theo khảo sát, những giảng viên có sự hứng thú và đam mê với nghiên cứu thường có kết quả nghiên cứu tốt hơn. Điều này cho thấy rằng việc phát triển năng lực và động lực cá nhân là rất cần thiết để nâng cao tính tích cực nghiên cứu khoa học.

2.2. Yếu tố khách quan

Yếu tố khách quan bao gồm các chính sách của nhà trường và môi trường làm việc. Một môi trường làm việc tích cực, có sự hỗ trợ từ lãnh đạo sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho giảng viên trong việc thực hiện nghiên cứu. Các chính sách đãi ngộ hợp lý cũng là yếu tố quan trọng giúp giảng viên cảm thấy được khích lệ và động viên trong công việc. Nghiên cứu cho thấy, những trường có chính sách khuyến khích nghiên cứu khoa học thường có tỷ lệ giảng viên tham gia nghiên cứu cao hơn. Điều này cho thấy rằng việc cải thiện các yếu tố khách quan là cần thiết để nâng cao tính tích cực nghiên cứu khoa học của giảng viên.

III. Biện pháp nâng cao tính tích cực nghiên cứu khoa học

Để nâng cao tính tích cực nghiên cứu khoa học của giảng viên khoa học xã hội tại các trường sĩ quan quân đội Việt Nam, cần thực hiện đồng bộ nhiều biện pháp. Một trong những biện pháp quan trọng là phát triển các chương trình đào tạo và bồi dưỡng cho giảng viên. Các chương trình này nên tập trung vào việc nâng cao kỹ năng nghiên cứu, phương pháp giảng dạy và khả năng ứng dụng công nghệ trong nghiên cứu. Bên cạnh đó, cần xây dựng môi trường nghiên cứu thân thiện, khuyến khích sự sáng tạo và hợp tác giữa các giảng viên. Việc tổ chức các hội thảo, tọa đàm về nghiên cứu cũng sẽ giúp giảng viên chia sẻ kinh nghiệm và học hỏi lẫn nhau.

3.1. Đào tạo và bồi dưỡng

Đào tạo và bồi dưỡng giảng viên là một trong những biện pháp quan trọng để nâng cao tính tích cực nghiên cứu khoa học. Các chương trình đào tạo nên được thiết kế phù hợp với nhu cầu thực tế của giảng viên, giúp họ nâng cao kỹ năng và kiến thức cần thiết cho hoạt động nghiên cứu. Hơn nữa, việc tổ chức các khóa học ngắn hạn về phương pháp nghiên cứu, kỹ năng viết báo cáo khoa học cũng rất cần thiết. Điều này không chỉ giúp giảng viên tự tin hơn trong nghiên cứu mà còn nâng cao chất lượng sản phẩm nghiên cứu.

3.2. Xây dựng môi trường nghiên cứu

Môi trường nghiên cứu tích cực là yếu tố quan trọng giúp giảng viên phát huy tính tích cực trong nghiên cứu. Cần tạo ra không gian làm việc thoải mái, khuyến khích sự sáng tạo và hợp tác giữa các giảng viên. Việc tổ chức các hoạt động nghiên cứu nhóm, hội thảo khoa học sẽ giúp giảng viên có cơ hội trao đổi ý tưởng và học hỏi lẫn nhau. Hơn nữa, sự hỗ trợ từ lãnh đạo nhà trường trong việc tạo điều kiện cho giảng viên tham gia các hoạt động nghiên cứu cũng rất quan trọng. Điều này sẽ tạo động lực cho giảng viên trong việc nâng cao tính tích cực nghiên cứu khoa học.

07/02/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 1. Các công trình nghiên cứu liên quan đến tính tích cực và tính tích cực nghiên cứu khoa học 1. Các công trình nghiên cứu về nguồn gốc, bản chất của tính tích cực và tính tích cực nghiên cứu khoa học Khi phân tích về nhân cách và tính tích cực của nhân cách, S. Do đó, bản chất, nguồn gốc, động lực thúc đẩy con người tích cực sáng tạo xuất phát từ việc được thỏa mãn hay không được thoả mãn những đòi hỏi từ bản năng sinh vật.

Bản năng, mà đặc biệt là bản năng tính dục (trong mô hình của S.Freud), những “sự lo lắng cơ bản” (Homey), “hướng tới yêu thương” (Fromm), “hướng tới thành công, sự độc đáo, quyền lực, hoàn thiện” (Adler) là nguồn gốc của tính tích cực hoạt động ở con người; Những cái liên quan đến động lực thúc đẩy con người hoạt động là những cái nằm trong bản thân mỗi người được di truyền.Freud và các học trò của ông đã lý giải tính tích cực tâm lý bằng cách sinh vật hóa con người, coi bản năng tính dục là cội nguồn mà chưa thấy được nguồn gốc, bản chất xã hội - lịch sử của tính tích cực trong toàn bộ đời sống tâm lý con người. Nghiên cứu về tính tích cực của hành vi, J. Watson [dẫn theo 39] đã chỉ rõ: Toàn bộ cuộc sống của con người được xem như là lịch sử của tính tích cực, nó được hiểu là tổng hoà các phản ứng. Từ đó dẫn đến quan niệm về “dòng tính tích cực” đem đối nghịch với “dòng ý thức” của Tâm lý học chủ quan của James.

Bản thân khái niệm “dòng tính tích cực” như là một khái niệm ngầm hiểu là “dòng hành vi”; “dòng hành vi” được hiểu là toàn bộ tổ 14 hợp hành vi hợp lại bởi các trả lời đơn thuần đối với kích thích. Từ đó có thể hiểu được “dòng tính tích cực” trong trường hợp có nghiên cứu mối liên hệ giữa thế giới bên ngoài và cuộc sống của cơ thể; điều này chứng tỏ quan điểm quyết định luận duy vật của J.Watson về hành vi người mà ông tiếp thu được từ Tâm lý học động vật khách quan và Tâm lý học thực nghiệm từ thế kỷ trước. Từ những nghiên cứu của mình, J.Watson đã đưa ra công thức cổ điển, nổi tiếng: S - R, trong đó S (Stimulant - kích thích), R (Reaction - phản ứng), theo đó nguồn gốc, bản chất tính tích cực hành vi của con người là do kích thích từ môi trường đem lại.Tolman …đã khái quát và bổ sung, phát triển công thức cổ điển, nổi tiếng của J. Watson bằng cách đưa thêm vào công thức đó yếu tố “tạo tác” (Operant) (S - O - R) để giải thích và miêu tả rõ hơn tính tích cực chủ thể của hành vi con người, từ đây hành vi được gọi là hành vi tạo tác.

Theo đó, hành vi được đề xuất ra với tư cách là một trong ba dạng: hành vi vô điều kiện; hành vi có điều kiện và hành vi tạo tác. Hành vi tạo tác là một kiểu hành vi có liên quan đến một kiểu học tập gồm 3 loại: củng cố, phần thưởng và sự trừng phạt. Tính tích cực của con người sẽ tăng lên khi tăng cường những hành vi củng cố tích cực như cho thêm giá trị, khen ngợi sau mỗi lần thực hiện hành vi. Như vậy, các nhà Tâm lý học hành vi đã quan niệm một cách cơ học, máy móc về tính tích cực, coi nguồn gốc, bản chất tính tích cực hành vi của con người là do kích thích từ môi trường; họ đã đánh đồng tính tích cực hoạt động của con người với hành vi của con vật.

Tù kết quả nghiên cứu về tính tích cực, tính tích cực nhận thức, tác giả X.Rubinstein (1969), Con người và thế giới, [79] đã chỉ ra, tính tích cực cũng như các phẩm chất tâm lý khác nảy sinh, hình thành, phát triển và bộc lộ thông qua hoạt động. Tính tích cực luôn gắn liền với hoạt động và phản ánh thái độ của chủ thể trong hoạt động. Đặc biệt, tác giả đã xem xét ảnh hưởng của kinh nghiệm lịch sử nhân loại, nằm trong các dấu hiệu tác động đến sự hình thành 15 tính tích cực của con người; đồng thời đã xem xét hoạt động như một hình thức đặc trưng trong tính tích cực của con người. Đó là cơ sở lý luận vững chắc để luận án luận giải phương thức tồn tại của tính tích cực NCKH của giảng viên.

Trong nghiên cứu về nguồn gốc và sự phát triển của tính tích cực cá nhân, tác giả A.Côvaliop (1971), Tâm lý học cá nhân [18] đã khẳng định: Nhu cầu là nguồn gốc của tính tích cực cá nhân và còn chỉ ra, tính tích cực của con người trải qua một quá trình tiến hóa cá thể phức tạp trong lịch sử. Đây là nghiên cứu ban đầu, quan trọng về nguồn gốc, sự hình thành phát triển của tính tích cực hoạt động của con người nói chung và tính tích cực NCKH của giảng viên nói riêng. Nghiên cứu về tích cực của chủ thể, tác giả A.Leonchiev (1972), Những vấn đề phát triển tâm lý [57] chỉ rõ: Nói về cuộc sống ở dạng chung nhất của nó chúng ta phải giữ quan điểm công nhận tính chất tích cực của chủ thể. Đối với mọi tồn tại sống, đối tượng không chỉ là cái mà khi quan hệ với nó thì một thuộc tính nào đó có thể lộ ra, mà còn là đối tượng khẳng định sự sống của tồn tại, là đối tượng mà trong quan hệ với nó tồn tại sống không chỉ là cái thụ động mà còn là cái tích cực hoạt động vươn tới một cái gì đó có đam mê.Leonchiev đã nhấn mạnh mối liên hệ khăng khít giữa tính tích cực của chủ thể và tính đối tượng của mọi hoạt động sống.

Đồng thời, qua việc tách tính tích cực của chủ thể ra thành một thành tố bắt buộc phải có trong hoạt động và phải đặt trong hoạt động, ông đã vận dụng nguyên tắc tính tích cực, tính đam mê sang tất cả các hình thái của hành vi. Đây là một sự khác biệt cơ bản giữa quan niệm tính tích cực hoạt động trong luận điểm của ông với quan niệm tính tích cực hành vi trong chủ nghĩa hành vi. Tác giả còn chỉ ra: Đối tượng hoạt động là động cơ thực sự của hoạt động và tính tích cực được tạo ra bằng hoạt động, đồng thời cũng là nhân tố tham gia thực hiện hoạt động, hơn thế nữa nhờ gắn liền với sự thoả mãn mục đích, động cơ mà tính tích cực đạt mức cao nhất của nó là sự say mê. Như vậy, tính tích cực thể hiện trong trạng thái hoạt động và được thúc đẩy bởi động cơ, do nhu cầu tạo ra và biểu hiện trong những hành động, hành vi cụ thể của con người.

Những nghiên cứu của 16 A.Leonchiev về tính tích cực của con người có giá trị to lớn, là cơ sở lý luận cơ bản, quan trọng để nghiên cứu về tính tích cực NCKH của giảng viên. Khi xem xét dấu hiệu bản chất của tính tích cực, các tác giả M.Iukevich [dẫn theo 92] đã chỉ ra: Tính tích cực luôn gắn liền với hoạt động, phải được thể hiện trong trạng thái hoạt động và được biểu hiện trong những hành động, hành vi cụ thể; Tính tích cực chỉ tính sẵn sàng hoạt động, là nhu cầu đối với hoạt động của chủ thể. Yếu tố nhu cầu có mối quan hệ chặt chẽ với tính tích cực, nó là một thành tố tâm lý tạo nên nguồn gốc, động lực của tính tích cực, nếu không có nhu cầu thì không có tính tích cực; Tính tích cực chỉ sự chủ động, hành động một cách có ý thức, theo chủ ý của mình đối lập với sự bị động, thụ động. Như vậy, tác giả đã chỉ rõ mối quan hệ giữa tính tích cực của chủ thể với nhu cầu, hoạt động của con người, đó là cơ sở quan trọng để xem xét vấn đề nguồn gốc, bản chất của tính tích cực NCKH của giảng viên ở các trường SQQĐ.

Ôkôn (1976), Những cơ sở của việc dạy học nêu vấn đề cho rằng: "Khi ta nói đến tính tích cực chúng ta quan niệm là lòng mong muốn hoạt động được nảy sinh một cách không chủ định và gây nên những biểu hiện bên ngoài hoặc bên trong của sự hoạt động" [73, tr. Như vậy, tính tích cực mang tính chủ thể, thể hiện trong hoạt động và được thúc đẩy bởi các nhu cầu hoạt động của con người. Đây là cơ sở khoa học khẳng định nguồn gốc của tính tích cực NCKH của giảng viên. Khi xem xét từ góc độ chức năng, vai trò của chủ thể với thế giới bên ngoài, các tác giả S.Romanov [dẫn theo 94] đã chỉ ra: Tính tích cực thể hiện tính chủ định của ý thức, sự chủ động của chủ thể với thế giới bên ngoài; Tính tích cực là thông số đo sự chuyển động, sự biến đổi hoạt động tâm lý của chủ thể gắn liền với tiêu hao năng lượng tâm lý và sinh lý; Tính tích cực không chỉ thực hiện chức năng thích nghi mà cao hơn là sự thích ứng, sự cải tạo, sáng tạo của chủ thể với thế giới bên ngoài.

Trong tác phẩm này, các nhà Tâm lý học nhân văn với hai đại diện là A. Rogers cho rằng nguồn gốc, động lực của tính tích cực được thể hiện ở “Nhu cầu - Tính tích cực ". 17 Điều thúc đẩy con người ta hoạt động xuất phát từ những nguồn lực bên trong như nhu cầu tự hiện thực hóa, khuynh hướng hiện thực hoá bẩm sinh hoặc nhu cầu tự khẳng định. Đây là kết quả quan trọng để xác định nguồn gốc, bản chất tính tích cực NCKH của giảng viên ở các trường SQQĐ.

Khi nghiên cứu về tính tích cực, các tác giả: L.Ivasco [dẫn theo 72] đã đưa ra các nguyên tắc như: Không nên giải thích phiến diện hay chỉ xem xét tính tích cực duy nhất là trạng thái hoạt động, không được tách rời mặt bên trong của tính tích cực với biểu hiện ra bên ngoài. Sự phát triển của tính tích cực có thể được biểu hiện bằng các đặc trưng số lượng, chất lượng của hoạt động. Tính tích cực vừa là mục đích, vừa là điều kiện, phương tiện, vừa là kết quả của hoạt động. Những nguyên tắc trên là chuẩn mực cơ bản để nghiên cứu về tính tích cực NCKH của giảng viên.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài viết "Nghiên cứu tính tích cực của giảng viên khoa học xã hội tại các trường sĩ quan quân đội Việt Nam" khám phá vai trò và ảnh hưởng của giảng viên trong việc thúc đẩy sự tích cực trong giảng dạy và học tập tại các trường sĩ quan quân đội. Tác giả nhấn mạnh tầm quan trọng của việc phát triển tư duy phản biện và khả năng tự học của học viên, đồng thời đề xuất các phương pháp giảng dạy hiệu quả nhằm nâng cao chất lượng giáo dục. Bài viết không chỉ cung cấp cái nhìn sâu sắc về thực trạng giáo dục hiện nay mà còn gợi ý những giải pháp thiết thực cho các giảng viên và nhà quản lý giáo dục.

Để mở rộng thêm kiến thức về lĩnh vực này, bạn có thể tham khảo các tài liệu liên quan như Luận án tiến sĩ tư duy chính trị của giảng viên trẻ khoa học xã hội và nhân văn ở các trường sĩ quan quân đội hiện nay, nơi bạn sẽ tìm thấy những phân tích về tư duy chính trị của giảng viên, hay Luận án tiến sĩ nâng cao chất lượng giáo dục rèn luyện đảng viên là học viên ở các đảng bộ trường sĩ quan quân đội giai đoạn hiện nay, cung cấp cái nhìn về việc cải thiện chất lượng giáo dục cho học viên. Cuối cùng, Luận án tiến sĩ triết học vai trò của giảng viên lý luận chính trị ở các nhà trường quân đội nhân dân việt nam trong phòng chống diến biến hòa bình hiện nay sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về vai trò của giảng viên trong bối cảnh an ninh quốc gia. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về giáo dục trong quân đội và vai trò của giảng viên trong việc định hình tư duy và phẩm chất của học viên.