Tổng quan luận án

Công trình nghiên cứu có tên đề tài: "Tư duy chính trị của giảng viên trẻ khoa học xã hội và nhân văn ở các trường sĩ quan quân đội hiện nay", do nghiên cứu sinh Nguyễn Văn Thủy thực hiện, hoàn thành năm 2020 tại Hà Nội. Luận án thuộc chuyên ngành Triết học (hướng tiếp cận Triết học - chính trị), được xây dựng trên nền tảng phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, kết hợp phương pháp nghiên cứu định tính và điều tra thực tế xã hội học quân sự.

Về tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu, tác giả chỉ rõ tư duy chính trị là một loại hình tư duy đặc thù trong xã hội có giai cấp, phản ánh lợi ích cơ bản của các chủ thể trong cuộc đấu tranh giành, giữ và sử dụng chính quyền nhà nước. Trích dẫn quan điểm của V.I. Lênin: "Trong bất kỳ một trường học nào, điều quan trọng nhất là phương hướng chính trị và tư tưởng của các bài giảng. Cái gì quyết định phương hướng đó? Hoàn toàn và chỉ là thành phần các giảng viên thôi", luận án khẳng định vị trí trực tiếp của đội ngũ giảng viên khoa học xã hội và nhân văn (KHXH&NV) đối với công tác giáo dục, đào tạo sĩ quan quân đội. Giảng viên trẻ KHXH&NV là lực lượng trực tiếp truyền thụ lý luận, củng cố nền tảng tư tưởng của Đảng, bảo vệ chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và bồi dưỡng niềm tin khoa học cách mạng cho học viên.

Thực tiễn cho thấy phần lớn giảng viên trẻ có tư duy chính trị đúng đắn, song trước tác động từ mặt trái của kinh tế thị trường, sự phát triển của cuộc cách mạng khoa học - công nghệ và âm mưu "diễn biến hòa bình", "phi chính trị hóa" quân đội của các thế lực thù địch, một bộ phận giảng viên trẻ bộc lộ hạn chế về trình độ, phẩm chất và phương pháp tư duy chính trị. Do đó, việc nghiên cứu phát triển tư duy chính trị cho đối tượng này là đòi hỏi cấp bách.

Mục đích và các nhiệm vụ nghiên cứu được văn bản xác định cụ thể:

  • Mục đích nghiên cứu: Luận giải một số vấn đề lý luận và thực trạng về tư duy chính trị của giảng viên trẻ KHXH&NV ở các trường sĩ quan quân đội, trên cơ sở đó đề xuất giải pháp cơ bản nhằm phát triển tư duy chính trị của lực lượng này hiện nay.
  • Nhiệm vụ nghiên cứu (gồm 4 nhiệm vụ được đánh số theo văn bản):
    1. Tổng quan tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài luận án.
    2. Luận giải thực chất và những nhân tố quy định tư duy chính trị của giảng viên trẻ khoa học xã hội và nhân văn ở các trường sĩ quan quân đội.
    3. Đánh giá thực trạng tư duy chính trị của giảng viên trẻ khoa học xã hội và nhân văn ở các trường sĩ quan quân đội hiện nay, chỉ rõ nguyên nhân của thực trạng và những vấn đề đặt ra.
    4. Đề xuất giải pháp cơ bản nhằm phát triển tư duy chính trị của giảng viên trẻ khoa học xã hội và nhân văn ở các trường sĩ quan quân đội hiện nay.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án:

  • Đối tượng nghiên cứu: Bản chất tư duy chính trị của giảng viên trẻ KHXH&NV ở các trường sĩ quan quân đội.
  • Phạm vi nghiên cứu: Luận án tập trung nghiên cứu tư duy chính trị của giảng viên trẻ KHXH&NV ở các trường sĩ quan quân đội trong các hoạt động cơ bản: giảng dạy, nghiên cứu khoa học và đấu tranh tư tưởng, lý luận.
  • Phạm vi khảo sát không gian: Khảo sát tại 7 trường đào tạo sĩ quan cấp phân đội thuộc Quân đội nhân dân Việt Nam, bao gồm: Trường Sĩ quan Chính trị, Trường Sĩ quan Lục quân 1, Trường Sĩ quan Lục quân 2, Trường Sĩ quan Pháo binh, Trường Sĩ quan Tăng - Thiết giáp, Trường Sĩ quan Thông tin, Trường Sĩ quan Không quân.
  • Phạm vi thời gian: Nguồn tư liệu, số liệu và kết quả khảo sát thực tế phục vụ nghiên cứu được thu thập chủ yếu từ năm 2015 đến năm 2020.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Trong Chương 1, tác giả đã tiến hành phân tích, tổng thuật có hệ thống 18 công trình khoa học tiêu biểu trong và ngoài nước, chia thành ba nhóm hướng nghiên cứu chính:

Nhóm nghiên cứu Tác giả, công trình và năm công bố Nội dung chính được trích xuất trong luận án
1. Các công trình nghiên cứu về tư duy chính trị nói chung - Steven M. Delue, Timothuy Dale (sách Tư duy chính trị, học thuyết chính trị và xã hội dân sự)
- Joey Sprague (bài báo "Cấu trúc của tư duy chính trị: một mô hình đa chiều kích")
- Nguyễn Văn Ba (luận án tiến sĩ, 2012)
- Doãn Chính (chủ biên, 2014)
- Nguyễn Thị Thanh Dung (sách Tư duy chính trị Hồ Chí Minh, 2012)
- Vũ Thị Thu Hương (luận án tiến sĩ, 2013)
- Delue và Dale phân biệt "tư duy chính trị" (hệ thống tư duy - thực tiễn liên quan hành động tập thể) với "tư duy về chính trị".
- Joey Sprague đưa ra mô hình đa chiều (mâu thuẫn giai cấp/giới/cộng đồng, phân tách thống trị - bị trị, phân biệt phân tích trừu tượng và sự đồng cảm cụ thể).
- Nguyễn Văn Ba xem tư duy chính trị là biểu hiện tập trung cao nhất của tư duy lý luận trong xã hội có giai cấp.
- Doãn Chính tiếp cận tư duy chính trị ở tầm chiến lược nhằm tạo đường lối, quyết sách phát triển chế độ chính trị - xã hội.
- Nguyễn Thị Thanh Dung tiếp cận từ góc độ phương pháp và hoạt động não bộ xử lý tri thức giành, giữ quyền lực.
- Vũ Thị Thu Hương phân định nghĩa rộng và nghĩa hẹp của tư duy lý luận chính trị.
2. Các công trình nghiên cứu về tư duy lý luận, tư duy chính trị của cán bộ, giảng viên - Trần Ngọc Hiên (bài báo, 2001)
- Ngô Đình Xây (bài báo, 2005)
- Nguyễn Văn Vĩnh (bài báo, 2000)
- Nguyễn Đức Bình (bài báo, 2001)
- Nguyễn Văn Thạo (luận án tiến sĩ, 2012)
- Lê Anh Thơ, Nguyễn Sỹ Họa (đồng chủ biên, 2016)
- Trần Ngọc Hiên chỉ rõ chuỗi 3 khâu: Tư duy lý luận - Tư duy chính trị - Năng lực hoạt động tổ chức thực tiễn.
- Ngô Đình Xây cảnh báo hiện tượng đồng nhất tư duy lý luận với tư duy chính trị dẫn đến tình trạng "chính trị hóa lý luận", làm triệt tiêu chức năng khoa học của lý luận.
- Nguyễn Văn Vĩnh phân tích hai biểu hiện cực đoan trong tư duy cán bộ trước và sau đổi mới, nhấn mạnh vai trò của logic biện chứng.
- Nguyễn Đức Bình nhấn mạnh sự vận dụng nguyên lý Mác - Lênin giải quyết các mối quan hệ chính trị - kinh tế.
- Nguyễn Văn Thạo phân tích sự kết hợp giữa tính định hướng chính trị và tính khoa học trong giảng dạy lý luận chính trị.
- Lê Anh Thơ và Nguyễn Sỹ Họa yêu cầu phát triển tư duy chính trị độc lập, tự chủ, sáng tạo của giảng viên trong đấu tranh tư tưởng trước thủ đoạn lợi dụng công nghệ thông tin của các thế lực thù địch.
3. Các công trình nghiên cứu liên quan đến giảng viên trẻ KHXH&NV trong quân đội - Đặng Sỹ Lộc (chủ biên đề tài, 2014)
- Lương Thanh Hân (luận án tiến sĩ, 2017)
- Nguyễn Bá Dương, Đỗ Ngọc Hanh (bài báo, 2017)
- Vũ Văn Ban (luận án tiến sĩ, 2018)
- Nguyễn Xuân Trường (chủ nhiệm đề tài, 2016)
- Bùi Ngọc Quân (bài báo, 2019)
- Đặng Sỹ Lộc nhấn mạnh yêu cầu xây dựng phẩm chất nhân cách và tư duy chính trị sắc sảo của giảng viên trẻ.
- Lương Thanh Hân cấu trúc bản lĩnh chính trị gồm nhận thức, thái độ và hành vi chính trị.
- Nguyễn Bá Dương và Đỗ Ngọc Hanh đề xuất nắm vững bản chất khoa học cách mạng của chủ nghĩa Mác - Lênin và thống nhất lý luận với thực tiễn.
- Vũ Văn Ban xác định cấu trúc tư duy lý luận và đề xuất 3 nhóm giải pháp phát triển tư duy lý luận cho giảng viên trẻ.
- Nguyễn Xuân Trường phân tích kỹ năng định hướng chính trị và cập nhật tri thức mới trong thực hành bài giảng.
- Bùi Ngọc Quân phân tích kỹ năng tư duy phản biện nhằm sàng lọc, vạch trần thông tin sai trái trên mạng xã hội.

Khoảng trống nghiên cứu được tác giả lựa chọn giải quyết:

  • Về mặt lý luận: Chưa có công trình khoa học độc lập nào tiếp cận chuyên biệt dưới góc độ triết học để làm sáng tỏ bản chất, cấu trúc cụ thể (gồm trình độ, phẩm chất, phương pháp) và các nhân tố quy định tư duy chính trị của giảng viên trẻ KHXH&NV ở các trường sĩ quan quân đội.
  • Về mặt thực trạng: Chưa có công trình nào tiến hành khảo sát toàn diện, đánh giá thực trạng ưu điểm, hạn chế và chỉ ra các nguyên nhân, vấn đề đặt ra đối với tư duy chính trị của đối tượng giảng viên trẻ KHXH&NV tại các trường đào tạo sĩ quan cấp phân đội.
  • Về mặt giải pháp: Chưa có hệ thống giải pháp đồng bộ, đặc thù nhằm phát triển tư duy chính trị cho giảng viên trẻ KHXH&NV phù hợp với yêu cầu sư phạm quân sự trong tình hình mới.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Luận án triển khai trên cơ sở nền tảng lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, cùng các quan điểm, đường lối, nghị quyết của Đảng Cộng sản Việt Nam và chính sách, pháp luật của Nhà nước về xây dựng Quân đội vững mạnh về chính trị, đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, xây dựng đội ngũ nhà giáo quân đội.

Hệ thống khái niệm và khung lý thuyết chủ đạo trong luận án:

  • Khái niệm tư duy: Là giai đoạn cao của quá trình nhận thức, phản ánh khái quát hiện thực khách quan dưới dạng các khái niệm, phán đoán, suy luận; là sự thống nhất hữu cơ giữa trình độ, phẩm chất và phương pháp tư duy của chủ thể nhằm tìm ra bản chất, quy luật của sự vật, hiện tượng trên cơ sở lịch sử - xã hội.
  • Khái niệm chính trị: Là hiện tượng lịch sử trong xã hội có giai cấp, nhà nước; tổng hòa của ý thức chính trị, tổ chức chính trị, thể chế chính trị và hoạt động chính trị thực tiễn nhằm thỏa mãn lợi ích của chủ thể thông qua quyền lực nhà nước; là sự phản ánh tập trung của kinh tế.
  • Khái niệm tư duy chính trị: Là một loại hình đặc thù của tư duy trong xã hội có giai cấp, phản ánh những lợi ích cơ bản của các chủ thể trong cuộc đấu tranh giành, giữ và sử dụng chính quyền nhà nước; là sự thống nhất hữu cơ của trình độ, phẩm chất và phương pháp tư duy chính trị trên cơ sở một hệ tư tưởng chính trị để tìm ra bản chất, quy luật của các sự kiện, hiện tượng, quá trình chính trị.
  • Khái niệm giảng viên trẻ KHXH&NV ở các trường sĩ quan quân đội: Là những cán bộ, trí thức được đào tạo cơ bản, mới vào nghề, có tuổi đời dưới 30 tuổi, tuổi nghề dưới 5 năm, quân hàm từ thiếu úy đến thiếu tá, được biên chế ở khoa chuyên ngành và đảm nhiệm nghiên cứu, giảng dạy các môn khoa học xã hội và nhân văn (như Triết học Mác - Lênin, Kinh tế chính trị Mác - Lênin, Chủ nghĩa xã hội khoa học, Tư tưởng Hồ Chí Minh, Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, Công tác đảng, công tác chính trị, Tâm lý học, Giáo dục học, Nhà nước và Pháp luật...), là nguồn kế cận, kế tiếp của đội ngũ giảng viên trong tương lai.

Về phương pháp nghiên cứu, tác giả vận dụng phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử. Các phương pháp nghiên cứu cụ thể bao gồm:

  • Phương pháp hệ thống và cấu trúc;
  • Phương pháp phân tích và tổng hợp, trừu tượng hóa và khái quát hóa;
  • Phương pháp điều tra xã hội học;
  • Phương pháp thu thập và xử lý thông tin, phân tích dữ liệu thực tế;
  • Phương pháp chuyên gia.

Nguồn dữ liệu của luận án được khai thác từ:

  1. Kết quả điều tra, khảo sát thực tế của nghiên cứu sinh tại 7 trường sĩ quan đào tạo cấp phân đội (Trường Sĩ quan Chính trị, Lục quân 1, Lục quân 2, Pháo binh, Tăng - Thiết giáp, Thông tin, Không quân).
  2. Các nghị quyết lãnh đạo, báo cáo tổng kết về công tác giáo dục - đào tạo và hoạt động thực tiễn tại các nhà trường quân đội và đơn vị cơ sở từ năm 2015 đến năm 2020.
  3. Dữ liệu thống kê về đội ngũ giảng viên tại các trường sĩ quan (tỷ lệ giảng viên trẻ KHXH&NV chiếm 23,06% tổng số giảng viên tại Phụ lục 11; cơ cấu trình độ học vấn thạc sĩ, tiến sĩ tại Phụ lục 12).

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài luận án

Chương 1 khái quát và hệ thống hóa toàn bộ các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến đề tài theo hai tiết:

  • Tiết 1.1: Trình bày chi tiết các công trình tiêu biểu về tư duy chính trị, tư duy lý luận của cán bộ lãnh đạo, giảng viên và giảng viên trẻ trong quân đội.
  • Tiết 1.2: Rút ra 5 kết luận khái quát từ các tài liệu đã công bố:
    1. Các công trình đã phân tích bản chất giai cấp, tính quy luật và tính phức tạp của tư duy chính trị.
    2. Khẳng định tư duy chính trị của giảng viên trẻ KHXH&NV là đòi hỏi bắt buộc mang tính đặc thù sư phạm quân sự.
    3. Chỉ ra hệ thống tri thức Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh đóng vai trò hạt nhân quy định tư duy chính trị.
    4. Đánh giá sơ bộ thực trạng chuyển biến về nhận thức nhưng còn hạn chế trong vận dụng thực tiễn của giảng viên trẻ.
    5. Đề xuất các nhóm giải pháp đào tạo, xây dựng môi trường sư phạm và phát huy nhân tố chủ quan.

Đồng thời, chương này xác lập rõ 3 khoảng trống khoa học về lý luận, thực trạng và giải pháp mà luận án trực tiếp giải quyết.

Chương 2: Một số vấn đề lý luận về tư duy chính trị của giảng viên trẻ khoa học xã hội và nhân văn ở các trường sĩ quan quân đội

Nội dung chương 2 gồm hai tiết nghiên cứu lý luận chuyên sâu:

  • Tiết 2.1: Luận giải các khái niệm cơ bản và đưa ra quan niệm tư duy chính trị của giảng viên trẻ KHXH&NV ở các trường sĩ quan quân đội là kiểu tư duy chính trị đặc trưng cho những giảng viên mới vào nghề, đang trong quá trình bồi dưỡng, rèn luyện để hội đủ các yếu tố cần thiết về trình độ, phẩm chất và phương pháp tư duy chính trị đáp ứng yêu cầu giảng dạy, nghiên cứu và đấu tranh tư tưởng, lý luận. Bản chất của kiểu tư duy này là tư duy chính trị vô sản, mang tính đảng, tính giai cấp công nhân và tính khoa học sâu sắc.

Tác giả luận chứng cấu trúc tư duy chính trị của đối tượng nghiên cứu gồm 3 thành tố:

Chương 2 cũng phân tích đặc điểm đối tượng: tuổi đời dưới 30, tuổi nghề dưới 5 năm, chiếm 23,06% biên chế giảng viên; đào tạo chủ yếu từ Học viện Chính trị, Trường Sĩ quan Chính trị và một phần từ các trường ngoài quân đội; có nhiệt huyết, năng động nhưng vốn trải nghiệm thực tiễn và tính ổn định tâm lý còn hạn chế.

  • Tiết 2.2: Luận giải 4 nhóm nhân tố quy định tư duy chính trị của giảng viên trẻ, bao gồm:
    1. Công tác đào tạo, bồi dưỡng tại các học viện, nhà trường;
    2. Môi trường chính trị - xã hội và môi trường sư phạm quân sự;
    3. Hoạt động rèn luyện thực tiễn trong giảng dạy, nghiên cứu và công tác tại đơn vị cơ sở;
    4. Nhân tố chủ quan của chính giảng viên trẻ (nhu cầu, động cơ, ý chí tự hoàn thiện).

Chương 3: Thực trạng và những vấn đề đặt ra đối với phát triển tư duy chính trị của giảng viên trẻ khoa học xã hội và nhân văn ở các trường sĩ quan quân đội hiện nay

Chương 3 triển khai đánh giá thực tế qua hai tiết:

  • Tiết 3.1: Đánh giá thực trạng tư duy chính trị của giảng viên trẻ tại 7 trường sĩ quan đào tạo cấp phân đội trong giai đoạn 2015–2020:
    • Ưu điểm: Phần lớn giảng viên trẻ có nhận thức chính trị đúng đắn, kiên định nền tảng tư tưởng Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; có tinh thần trách nhiệm, tích cực tiếp cận tri thức mới; thể hiện tính chiến đấu trong đấu tranh phê phán các quan điểm sai trái, thù địch.
    • Hạn chế: Một bộ phận còn hạn chế về chiều sâu tri thức lý luận chuyên ngành; khả năng khái quát hóa, trừu tượng hóa các hiện tượng chính trị phức tạp chưa cao; phương pháp tư duy còn biểu hiện máy móc, giáo điều; kỹ năng sư phạm, xử lý tình huống thực tiễn và tính thuyết phục trong định hướng chính trị cho học viên còn non; một số cá nhân có xu hướng nghiêng về tư duy kinh tế, tư duy kỹ thuật, xem nhẹ tư duy chính trị; khả năng nhận diện thủ đoạn tinh vi trên không gian mạng còn hạn chế.
    • Tác giả phân tích rõ nguyên nhân khách quan (tác động kinh tế thị trường, thủ đoạn chống phá của thế lực thù địch, cơ chế bồi dưỡng có thời điểm chưa đồng bộ) và nguyên nhân chủ quan (tâm lý tự thỏa mãn, việc tự học tập, rèn luyện thực tế của một số giảng viên chưa thường xuyên).
  • Tiết 3.2: Chỉ ra 3 vấn đề lớn đặt ra đối với sự phát triển tư duy chính trị của lực lượng này:
    1. Mâu thuẫn giữa yêu cầu đổi mới căn bản giáo dục đào tạo sĩ quan với sự thiếu hụt kinh nghiệm thực tiễn sư phạm của giảng viên trẻ.
    2. Tác động đa chiều của mạng xã hội và cuộc cách mạng công nghệ đòi hỏi giảng viên trẻ phải có năng lực phản biện, sàng lọc thông tin sắc bén.
    3. Đòi hỏi cấp thiết về việc giữ vững trận địa tư tưởng, bảo vệ bản chất giai cấp công nhân của quân đội trước âm mưu "phi chính trị hóa".

Chương 4: Giải pháp cơ bản phát triển tư duy chính trị của giảng viên trẻ khoa học xã hội và nhân văn ở các trường sĩ quan quân đội hiện nay

Chương 4 xây dựng hệ thống 4 nhóm giải pháp cơ bản tương ứng với 4 tiết:

  • Tiết 4.1: Nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng nhằm phát triển tư duy chính trị của giảng viên trẻ KHXH&NV: Đổi mới nội dung, chương trình đào tạo tại các trường nguồn (Học viện Chính trị, Trường Sĩ quan Chính trị); tăng cường cập nhật kiến thức kinh tế - xã hội, quốc phòng - an ninh, đối ngoại; đổi mới phương pháp giảng dạy lý luận chính trị gắn với bồi dưỡng phương pháp tư duy biện chứng duy vật.
  • Tiết 4.2: Xây dựng môi trường chính trị thuận lợi nhằm phát triển tư duy chính trị của giảng viên trẻ KHXH&NV: Xây dựng môi trường văn hóa sư phạm quân sự dân chủ, kỷ luật, lành mạnh; thực hiện tốt các chế độ, chính sách đãi ngộ cán bộ; trang bị đầy đủ cơ sở vật chất, phòng học chuyên dùng, hệ thống thông tin, tư liệu nghiên cứu khoa học.
  • Tiết 4.3: Nâng cao chất lượng, hiệu quả rèn luyện giảng viên trẻ KHXH&NV ở các trường sĩ quan quân đội trong thực tiễn: Tổ chức luân chuyển cán bộ, đưa giảng viên trẻ đi thực tế tại các đơn vị cơ sở cấp phân đội để tích lũy vốn sống quân sự; đẩy mạnh hoạt động nghiên cứu khoa học, biên soạn giáo trình, tài liệu; trực tiếp tham gia viết bài đấu tranh tư tưởng, lý luận chống các quan điểm sai trái trên báo chí và không gian mạng.
  • Tiết 4.4: Tích cực hóa nhân tố chủ quan trong phát triển tư duy chính trị của giảng viên trẻ KHXH&NV hiện nay: Phát huy ý thức tự học tập, tự nghiên cứu, tự rèn luyện phương pháp tư duy độc lập, sáng tạo; xây dựng động cơ phấn đấu đúng đắn, nâng cao trách nhiệm người sĩ quan - giảng viên trẻ; thường xuyên tự soi xét, phòng ngừa các biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hóa".

Kết quả và những đóng góp mới

Theo tuyên bố của tác giả, luận án mang lại các đóng góp mới về lý luận và thực tiễn:

  1. Về mặt lý luận:
    • Xây dựng và hoàn thiện khái niệm trung tâm: "Tư duy chính trị của giảng viên trẻ khoa học xã hội và nhân văn ở các trường sĩ quan quân đội".
    • Chỉ rõ cấu trúc tư duy chính trị của đối tượng này gồm 3 thành tố gắn kết hữu cơ: trình độ tư duy chính trị, phẩm chất tư duy chính trị và phương pháp tư duy chính trị.
    • Hệ thống hóa và luận giải sâu sắc các nhân tố quy định quá trình vận động, phát triển tư duy chính trị của giảng viên trẻ trong môi trường nhà trường quân đội.
  2. Về mặt thực tiễn:
    • Cung cấp bức tranh thực trạng về ưu điểm, hạn chế và nguyên nhân của tư duy chính trị ở đội ngũ giảng viên trẻ KHXH&NV tại 7 trường sĩ quan đào tạo cấp phân đội giai đoạn 2015–2020.
    • Nhận diện các vấn đề mâu thuẫn đặt ra giữa yêu cầu chuẩn hóa cán bộ sĩ quan quân đội trong bối cảnh mới và năng lực thực tế của giảng viên trẻ.
    • Xác lập hệ thống 4 nhóm giải pháp cơ bản, đồng bộ, có tính ứng dụng trực tiếp cho các nhà trường quân đội trong việc quy hoạch, bồi dưỡng và sử dụng đội ngũ giảng viên trẻ KHXH&NV.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế theo phạm vi nghiên cứu của luận án: Khảo sát thực tiễn của đề tài chỉ tập trung tại 7 trường đào tạo sĩ quan cấp phân đội (Sĩ quan Chính trị, Lục quân 1, Lục quân 2, Pháo binh, Tăng - Thiết giáp, Thông tin, Không quân); số liệu khảo sát được giới hạn từ năm 2015 đến năm 2020; đối tượng tập trung duy nhất vào giảng viên trẻ dưới 30 tuổi thuộc khối khoa học xã hội và nhân văn, chưa mở rộng sang các khối giảng viên chuyên ngành quân sự, kỹ thuật hay ngoại ngữ.
  • Hướng nghiên cứu tiếp theo được gợi mở: Mở rộng phạm vi nghiên cứu tư duy chính trị sang các đối tượng giảng viên tại các học viện đào tạo cán bộ cấp chiến dịch, chiến lược; hoặc nghiên cứu so sánh sự phát triển tư duy chính trị giữa các nhóm giảng viên chuyên môn khác nhau trong toàn quân.

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu tham khảo phục vụ cho:

  • Cơ quan quản lý và lãnh đạo các nhà trường quân đội: Vận dụng khung giải pháp để xây dựng quy hoạch, kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng và sử dụng hiệu quả đội ngũ giảng viên trẻ.
  • Giảng viên, nghiên cứu sinh, học viên chuyên ngành: Phục vụ nghiên cứu, giảng dạy các chuyên ngành Triết học, Triết học chính trị, Xây dựng Đảng và chính quyền nhà nước, Giáo dục học quân sự.
  • Phần có giá trị tham khảo chuyên sâu: Khung cấu trúc 3 thành tố của tư duy chính trị (Chương 2), số liệu khảo sát thực trạng tại 7 trường sĩ quan (Chương 3) và 4 nhóm giải pháp phát triển tư duy chính trị (Chương 4).

Câu hỏi thường gặp

1. Tác giả luận án định nghĩa "tư duy chính trị của giảng viên trẻ khoa học xã hội và nhân văn ở các trường sĩ quan quân đội" như thế nào?

Luận án quan niệm: Đó là một kiểu tư duy chính trị đặc trưng cho những giảng viên mới vào nghề, đang trong quá trình bồi dưỡng, rèn luyện để hội đủ các yếu tố cần thiết về trình độ tư duy chính trị, phẩm chất tư duy chính trị và phương pháp tư duy chính trị đáp ứng với yêu cầu nhiệm vụ giảng dạy, nghiên cứu và đấu tranh tư tưởng, lý luận.

2. Cấu trúc tư duy chính trị của giảng viên trẻ KHXH&NV gồm những thành tố nào?

Luận án chỉ ra cấu trúc gồm 3 thành tố: (1) Trình độ tư duy chính trị (khả năng dùng khái niệm, phạm trù lý luận phản ánh hiện thực và giải quyết nhiệm vụ); (2) Phẩm chất tư duy chính trị (tính định hướng chính trị, tính độc lập, linh hoạt, kiên định lập trường); (3) Phương pháp tư duy chính trị (thao tác phân tích, tổng hợp, trừu tượng hóa, khái quát hóa hiện thực).

3. Đối tượng nghiên cứu của luận án có những đặc điểm cụ thể nào về tuổi đời, tuổi nghề và tỷ lệ?

Giảng viên trẻ KHXH&NV trong văn bản được xác định có tuổi đời dưới 30 tuổi (khoảng từ 23 đến 30 tuổi), tuổi nghề dưới 5 năm, quân hàm từ thiếu úy đến thiếu tá, chiếm tỷ lệ 23,06% trên tổng số giảng viên tại các trường sĩ quan được khảo sát.

4. Luận án tiến hành khảo sát thực tiễn tại các nhà trường quân đội nào?

Luận án khảo sát tại 7 trường đào tạo sĩ quan cấp phân đội: Trường Sĩ quan Chính trị, Trường Sĩ quan Lục quân 1, Trường Sĩ quan Lục quân 2, Trường Sĩ quan Pháo binh, Trường Sĩ quan Tăng - Thiết giáp, Trường Sĩ quan Thông tin và Trường Sĩ quan Không quân.

5. Luận án đề xuất những nhóm giải pháp cơ bản nào để phát triển tư duy chính trị cho giảng viên trẻ?

Gồm 4 nhóm giải pháp: (1) Nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng; (2) Xây dựng môi trường chính trị thuận lợi; (3) Nâng cao chất lượng, hiệu quả rèn luyện trong thực tiễn; (4) Tích cực hóa nhân tố chủ quan của bản thân giảng viên trẻ.

Kết luận

Luận án tiến sĩ của tác giả Nguyễn Văn Thủy (năm 2020) đã nghiên cứu toàn diện vấn đề tư duy chính trị của giảng viên trẻ khoa học xã hội và nhân văn ở các trường sĩ quan quân đội dưới góc độ tiếp cận triết học - chính trị. Công trình đã làm sáng tỏ cơ sở lý luận về cấu trúc 3 thành tố của tư duy chính trị và các nhân tố quy định, đồng thời đánh giá thực trạng trên mẫu khảo sát tại 7 trường đào tạo sĩ quan cấp phân đội giai đoạn 2015–2020. Hệ thống 4 nhóm giải pháp cơ bản được đề xuất trong luận án có giá trị khoa học và thực tiễn trực tiếp đối với công tác giáo dục, đào tạo và xây dựng đội ngũ giảng viên trẻ trong hệ thống nhà trường quân đội hiện nay.