Chương 1: Tổng quan nghiên cứu về mối quan hệ giữa cha mẹ - con và sự phát triển ngôn ngữ của trẻ 1. Tổng quan các van đề nghiên cứu 1. Các khái niệm của đề tài 1. Các học thuyết về sự phát triển ngôn ngữ của trẻ 1.
Đặc điểm ngôn ngữ trẻ giai đoạn mẫu giáo 1. Mối quan hệ mối quan hệ giữa cha mẹ - con và sự phát triển ngôn ngữ trẻ Chương 2: Tổ chức và phương pháp nghiên cứu 1. Tổ chức nghiên cứu 1. Các phương pháp nghiên cứu Chương 3: Kết quả nghiên cứu về mối quan hệ giữa cha mẹ - con và sự phát triển ngôn ngữ của trẻ mẫu giáo 3.
Đặc điểm mẫu nghiên cứu 3. Thực trạng mối quan hệ cha mẹ - con 3. Thực trạng sự phát triển ngôn ngữ của trẻ 3. Mối quan hệ mối quan hệ cha mẹ - con và sự phát triển ngôn ngữ của trẻ 3.
Các yêu tố tác động đến sự phát triển ngôn ngữ của trẻ 10 CHUONG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN MOI QUAN HỆ GIỮA CHA MẸ - CON VÀ SỰ PHÁT TRIEN NGÔN NGỮ CUA TRE MẪU GIÁO Nội dung chương này của luận văn tập trung vào việc xây dựng tổng quan van dé nghiên cứu, làm rõ các khái niệm co ban của dé tài và các học tuyết về sự phát triển ngôn ngữ ở trẻ em, các đặc điểm tâm lý và ngôn ngữ của trẻ em trong giai đoạn mẫu giáo. Phần cuối chương tập trung vào việc trình bày các mô hình nghiên cứu về mối quan hệ cha mẹ - con và sự phát triển ngôn ngữ của trẻ, qua đó đề xuất mô hình nghiên cứu của đề tài. Tổng quan vấn đề nghiên cứu 1. Nghiên cứu về mỗi quan giữa hệ cha mẹ - con và sự phát triển ngôn ngữ của trẻ trên thế giới 1.
Nghiên cứu về moi quan hệ cha mẹ - con trên thé giới Nhà tâm lí học người Anh John Bowlby (1907-1990) được xem là người đầu tiên đưa khái niệm “sự gắn bó” vào tâm lí học năm 1958. Sự gắn bó được ông định nghĩa là “những liên kết tâm lí bền vững giữa con người với con người”. Xuất thân là một nhà phân tâm học, nhưng John Bowlby quan tâm và bị ảnh hưởng nhiều bởi thuyết tiến hóa của Charles Darwin và quan điểm tập tính học của Konrad Lorenz. Sự ảnh hưởng này thể hiện rõ ở quan điểm của Bowlby ( 1969, 1988) khi chỉ ra rằng: Sự gắn bó ở trẻ với người nuôi dưỡng có mục đích sinh học là đảm bảo khả năng sinh tồn và mục đích tâm lí là tìm kiếm cảm giác yêu thương và an toàn.
Khi xuất hiện như một sinh linh bé bỏng và yếu ớt giữa thế giới xa lạ, một cách tự nhiên trẻ tìm kiếm sự che chở và chăm sóc từ người lớn như điều kiện để đảm bảo cho khả năng sống sót. Nhu cầu gắn bó không phải là nhu cầu thứ phát như quan điểm của phân tâm học khi cho răng chỉ khi trẻ được mẹ đáp ứng những nhu cầu cơ bản như bú, ăn, ngủ, bế bồng. cảm giác quyến luyến, muốn gắn bó với mẹ mới hình thành. Sự gắn bó ở trẻ là những hành vi mang tính bản năng, chỉ có đối tượng của sự gắn bó mới mang tính điều kiện.
Có nghĩa là, trẻ luôn có khuynh hướng tìm kiếm sự an toàn từ người lớn như một biểu hiện của bản năng sinh ton. Tuy nhién, đối tượng mà trẻ hướng đến không chỉ giới hạn trong quan hệ mẹ - con mà là bất cứ ai 11 có sự gần gũi thường xuyên, chăm sóc, nuôi dưỡng, đáp ứng những nhu cầu sinh lí và yêu thương ( Bowlby, 1969 Mối quan hệ gắn bỏ của trẻ với người chăm sóc đầu tiên đưa tới sự phát triển của mô thức nội hoạt ) Dựa trên nền tảng thuyết gắn bó của John Bowlby, Mary Ainsworth (1970) đã tiến hành các thực nghiệm gọi là “tình huống kì lạ” trên các trẻ từ 12-18 thang tuổi và phân loại sự gắn bó thành 3 dạng : bền chặt, chống đối, trốn tránh. Kết qua được rút ra từ sự quan sát biểu hiện cảm xúc của trẻ khi mẹ rời khỏi phòng và khi mẹ quay trở lại của trẻ như bố, ông bà hay vú nuôi. Các dang gan bó cho biết chat lượng của mối quan hệ giữa trẻ với người nuôi dưỡng.
Dạng gắn bó lí tưởng nhất là dạng “bền chặt”, khi trẻ cảm thấy an toàn với sự đáp ứng và hiện diện của mẹ, có thé chủ động khám phá thé giới xung quanh và tương tác được với người lạ khi me bên cạnh. Sự mâu thuẫn, hai chiều trong biểu hiện của trẻ ở dạng “chống đối” có thể là do mức độ đáp ứng về sự gắn bó của người nuôi dưỡng đối với trẻ thất thường, lúc thì quá nồng nhiệt, lúc thì xao nhãng hoặc do trẻ được chăm sóc bởi nhiều người khác nhau. Còn dạng “trốn tránh” thé hiện cảm giác an toàn và sự đáp ứng nhu cầu trong quan hệ với người nuôi dưỡng thấp, biểu hiện độc lập của dạng này có thé là do trẻ đã thích ứng với việc một mình và cũng có thể là do khả năng bộc lộ cảm xúc kém (John Bowlby, 1991; Réné Spitz, 1946; Margaret Mahler, 1960) Nhà toán học Albert Einstein (1936) từng nói: "Mọi trẻ em khi sinh ra đều là thiên tài, thế nhưng trong những giai đoạn bắt đầu tìm hiểu và học hỏi, những phương pháp giáo duc sai lầm có thể bóp chết tô chất thiên tài sẵn có trong các bé. Đối với trẻ em, cha mẹ chính là người thầy đầu tiên, người thầy cuối cùng, cũng là giáo viên mầm non tốt nhất.
Chính vì vậy, quan niệm cũng như phương pháp giáo dục của cha mẹ có ảnh hưởng trực tiếp đến sự trưởng thành của trẻ. Maria Montessori được biết đến là một tiến sĩ y học, đồng thời cũng là một nhà giáo dục nổi tiếng của nước Ý. Hiện nay, có rất nhiều trường mầm non mở những lớp thực nghiệm phương pháp giảng dạy của bà, đồng thời sử dụng chính những giáo cụ do bà sáng tạo ra (1994). Bà tìm hiểu quá trình phát triển của trẻ từ khi sinh ra đến khi trưởng thành thuận theo những bản năng tự nhiên, từ đó đưa ra 12 phương pháp giáo dục trẻ một cách hợp lí, chú trọng đến giai đoạn phát triển nhạy cảm, có những tác động tích cực đối với sự trưởng thành của các bé.
Một số nhà nghiên cứu như Keith B. Fagen and Wiliam C. (1998) không đi sâu vào quan hệ mà cho rằng, MQH cha mẹ - con như thế nào phụ thuộc vào cả hai phía — cha mẹ và con. Cho nên về phía cha mẹ, khi xem xét MQH cha mẹ - con phải chú ý đề cập đến thái độ của cha mẹ, sự quan tâm của cha mẹ và kỷ luật của cha mẹ đối với con.
Theo các tác giả này, thái độ của cha mẹ đối với con tương ứng với sắc thái tình cảm và đặc trưng của MQH cha mẹ - con. Mặt tích cực của thái độ là sự Am áp, hỗ trợ và chấp nhận; mặt tiêu cực là thù địch và thờ ơ. Các kết quả nghiên cứu đã chỉ ra rằng, sự ấm áp, ủng hộ và chấp nhận của cha mẹ đã khuyến khích con thích nghi một cách có hiệu quả với những điều kiện căng thang. Nghiên cứu về sự phát triển ngôn ngữ của trẻ trên thé giới Ngôn ngữ có vai trò quan trọng trong cuộc sống con người.
Do đó, nó là tài sản quý báu của nhân loại. Đó là cả kho tàng trí tuệ, luôn tồn tại và phát triển cùng với sự thay đôi và phát triển của con người. Ngôn ngữ cũng chính là van đề mà có rất nhiều nhà khoa học từ các lĩnh vực khác nhau như: tâm lí học, triết học, xã hội học, ngôn ngữ học, giáo dục học,. di sâu, tìm tòi, nghiên cứu.
Đã có nhiều công trình nghiên cứu về sự phát triển của trẻ, tiêu biểu là công trình nghiên cứu của các tác giả: A. Ruxkai ,Winhem Preyer. Nhiều kết quả nghiên cứu khác chi ra rằng, su ấm áp, ủng hộ va chấp nhận của cha mẹ đã khuyến khích con thích nghỉ một cách có hiệu quả với những điều kiện căng thang của cuộc sống (Maste & Coatsworh 1998; Werner & Smith, 1992; Wyman & cộng sự, 1991, 1992, in press). Sự quan tâm cua cha mẹ thé hiện qua thời gian mà họ dành cho những hoạt động chung (nói chuyện, chơi đùa.) với con và những quan tâm của họ đến các lĩnh vực hoạt động chính trong cuộc sống của trẻ (Grible et al.
Nghiên cứu sự quan tâm của cha mẹ đối với con, Bowlby (1988), Carlson & Sroufe (1995) cho thay sự quan tâm tích cực của cha mẹ củng cố sự liên kêt giữa cha mẹ với con và làm cho trẻ cảm nhận được sự an toàn và giá trị 13 của bản thân ở mức độ cao hơn Grolnick va Ryan (1989) đã chỉ ra rằng, sự quan tâm của cha mẹ đối với con có liên quan đến năng lực đánh giá và kết quả học tập của trẻ. Cha mẹ quan tâm đến con sẽ giúp trẻ đồng nhất và tiếp thu các giá trị xã hội một cách thuận lợi. Theo Patterson (1982), sự quan tâm của cha mẹ đến con ảnh hưởng tích cực đến sự kiểm soát và điều chỉnh hành vi của trẻ. Ngoài việc có liên quan đến sự kiểm soát, sự quan tâm của cha mẹ đối với con còn tác động tích cực đến năng lực xã hội của trẻ (Pulkkinen, 1982).
Tuy nhiên, nếu cha mẹ quan tâm không đúng mức sẽ ảnh hưởng tiêu cực đến sự phát triển của con. Mặc dù có bằng chứng đáng ké chỉ ra tam quan trọng của môi trường nói chung và MQH của cha mẹ nói riêng nhưng đối với trẻ có ngôn ngữ sớm và kỹ năng đọc viết, đọc kỹ nghiên cứu cho thấy những hiệu ứng này khác nhau đôi chút giữa các nền văn hóa khác nhau và các nhóm kinh tế. Theo một số nghiên cứu, trẻ em thuộc tầng lớp trung lưu tìm thấy những thay đổi mạnh mẽ và nhất quán, khả năng ngôn ngữ lưu loát hơn trẻ em ở nhóm tầng lớp thu nhập thấp hơn (Baker & Iruka, 2013). Trong độ tuổi mẫu giáo, một trong những loại hoạt động hang dau là trò chơi đóng vai- hoạt động với đồ vật trong đó giúp trẻ xác lập mối quan hệ giữa chúng dé giải quyết các nhiệm vụ mới da dang hon.
Cảm xúc của trẻ được thé hiện trong logic của cốt truyện - chơi (ví dụ, giả vờ bị đau) có thê khác biệt đáng kể so với cảm xúc thực tế đã trải qua (ví dụ, trải nghiệm niềm vui khi chơi bệnh viện vui vẻ) (Elkonin, 1989) đòi hỏi sự khác biệt động cơ và mục tiêu trong cấu trúc hoạt động.