đặt vấn đề cải tiến trường trong tâm trí. Nang cao quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng xã hội là một phần của sự cải tiến, theo tác giả, cải tiến quản lý nhà trường đòi hỏi người lãnh đạo phải làm dựa trên nền tảng sư phạm,đồng thời gắn công việc với những cốt lõi giáo dục dạy và học. Nó yêu cầu người quản lý phải có sự am hiểu sâu sắc về quá trình học tập và các điều kiện đáp ứng nhu cầu học tập của HS [51] * Nghiên cứu trong nước Tác giả Trần Kiểm biên soạn năm 2016 cuốn sách Quản lý và lãnh đạo nhà trường hiệu quả nêu cao vai trò của người quản lý giáo dục trong việc thực thi những cải cách của nền giáo dục quốc gia. Trong bất kỳ cấp học học nào, để cải thiện, thúc đẩy sự phát triển nhà trường và các đơn vị giáo dục của mình quản lý; người lãnh đạo phải có sự hiểu biết, có kiến thức căn bản về quản lý, để từ đó xây dựng tầm nhìn, đề ra các kế hoạch cũng như chiến lược hợp lý thúc đẩy sự phát triển nhà trường, cung cấp nguồn nhân lực có đủ khả năng và năng lực đáp ứng đòi hỏi của xã hội trong giai đoạn mới [28].
Đề tài “Quản lý phối hợp giữa nhà trường và gia đình trong giáo dục trẻ ở các trường mầm non quận 2, thành phố Hồ Chí Minh” của tác giả Phạm Thị Thanh Tâm 2019 khẳng định vai trò của giáo dục bồi dưỡng rèn luyện phẩm chất và năng 9 lực giúp trẻ phát triển nhân cách một cách toàn diện. Đây là một quá trình lâu dài, liên tục, diễn ra ở nhiều môi trường khác nhau, liên quan đến nhiều mối quan hệ xã hội phức tạp. Vì thế, giáo dục trẻ ở lứa tuổi mầm non cần có sự phối hợp chặt chẽ của gia đình, nhà trường và nhiều lực lượng xã hội khác nhau [ 35]. Nguyễn Thị Kim Hoa(2018) Hợp tác với cha mẹ trẻ trong chăm sóc giáo dục trẻ mầm non khẳng định vai trò của gia đinh đối với sự phát triển kỹ năng của trẻ mầm non, nó tạo ra sự khác biệt lớn so với kết quả mà trẻ đạt được trong trường học.
Nhà trường và gia đình nếu có sự hợp tác chặt chẽ sẽ là môi trường giáo dục thuận lợi cho trẻ phát triển toàn diện, bài viết đưa ra một số biện pháp phối hợp trong đó cần quan tâm đến việc cha mẹ nên duy trì mối liên hệ định kỳ với giáo viên để cùng đánh giá các kỹ năng TC&KNXH trẻ đạt được trong từng giai đoạn [20] Bài Viết: “Phối hợp gia đình, nhà trường, cộng đồng trong chăm sóc và giáo dục trẻ mầm non” của Thái Văn Thành cùng đồng sự đăng trên tạp chí khoa học GD Việt Nam số 16 tháng 4/2019 nêu rõ hoạt động phối hợp gia đình, nhà trường và cộng đồng trong chăm sóc giáo dục trẻ được xem là vấn đề có tính nguyên tắc đảm bảo cho mọi hoạt động chăm sóc, giáo dục trẻ đạt hiệu quả và chất lượng. Trên cơ sở nghiên cứu lí luận và thực tiễn các hoạt động phối hợp gia đình, nhà trường và cộng đồng trong chăm sóc và giáo dục trẻ mầm non, nhóm tác giả đã nghiên cứu đề xuất các tiêu chuẩn xây dựng mô hình và các giải pháp nâng cao hiệu quả phối hợp gia đình, nhà trường và cộng đồng trong chăm sóc, giáo dục trẻ [38]. Tóm lại: Các công trình nghiên cứu về giáo dục TC&KNXH cho trẻ theo hướng phối hợp các lực lượng giáo dục đã nghiên cứu một cách hệ thống, dựa vào những cơ sở GD học để tìm hiểu thực trạng và đưa ra những giải pháp nâng cao chất lượng và đều khẳng định vai trò của Gia đình - Nhà trường - xã hội trong hoạt động GD TC&KNXH cho trẻ mầm non. Việc xác định nội dung, biện pháp, hình thức giáo dục kỹ năng này cho trẻ theo đúng độ tuổi là cần thiết, tuy nhiên các nghiên cứu trên vẫn còn nhiều hạn chế và mới chỉ dừng lại chung chung cho trẻ mầm non mà chưa chia ra cụ thể từng lứa tuổi.
Tại Việt Nam các tài liệu nghiên cứu về GD TC&KNXH cho trẻ 5-6 tuổi còn ít và hầu như chưa có đề tài nào về vấn đề giáo dục tình cảm và KNXH cho trẻ 5 - 6 tuổi theo hướng phối hợp các lực lượng giáo dục. Do vậy chưa có những đánh giá cụ thể và mang tính khái quát về thực 10 trạng quản lý hoạt động này để từ đó đề xuất những biện pháp cần thiết. Chính vì vậy, việc tác giả lựa chọn đề tài “Quản lý hoạt động giáo dục TC&KNXH cho trẻ 5 -6 tuổi ở các trường mầm non thành phố Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình theo hướng phối hợp các lực lượng giáo dục” là phù hợp và cần thiết. Các khái niệm cơ bản 1.
Quản lý, quản lý giáo dục - Quản lý Quản lý là sự tác động có mục đích của chủ thể quản lý đối với đối tượng quản lý. Ở đây chủ thể quản lý là con người hay tổ chức của con người. Những cá nhân hay tổ chức của con người phải là đại diện có quyền uy và trách nhiệm liên kết phối hợp với những hoạt động riêng lẻ của từng cá nhân hướng tới mục tiêu chung nhằm đạt được kết quả nhất định trong quản lý. Nhà khoa học F.W Taylor người đầu tiên khai sinh ra khoa học quản lý và là “ông tổ” của trường phái “quản lý theo khoa học” cho rằng: “Quản lý là hoàn thành công việc của mình thông qua người khác và biết được một cách chính xác họ đã hoàn thành công việc một cách tốt nhất và rẻ nhất.6] Theo tác giả Trần Khánh Đức: “Quản lý là hoạt động có ý thức của con người nhằm định hướng, tổ chức, sử dụng các nguồn lực và phối hợp hành động của một nhóm người hay một cộng đồng người để đạt được các mục tiêu đề ra một cách có hiệu quả nhất” [15].
Từ điển Giáo dục học giải thích: “Quản lý là hoạt động hay tác động có định hướng có mục địch của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức vặn hành và đạt được mục đích của tổ chức [34, tr.326] Tác giả Nguyễn Đức Trí lại cho rằng: “Quản lý là một quá trình tác động có định hướng, có chủ đích, có tổ chức, có lựa chọn trong số các tác động có thể có, dựa trên thông tin về tình trạng và môi trường, nhằm giữ cho sự vận hành của đối tượng được ổn định và làm cho nó phát triển tới mục tiêu đã định.” [42] Các quan điểm trên đều cho thấy mục đích của quản lý bao giờ cũng nhằm đạt được kết quả hay mục tiêu nhất định. Và phương thúc quản lý là quá trình điều khiển, phối hợp, tác động giữa chủ thể quản lý và dối tượng quản lý nhằm thực hiện mục tiêu. Từ khái niệm của các nhà nghiên cứu đi trước. Luận văn sử dụng định nghĩa quản lý của tác giả Trần Khánh Đức như sau: “Quản lý là hoạt động có ý 11 thức của con người nhằm định hướng, tổ chức, sử dụng các nguồn lực và phối hợp hành động của một nhóm người hay một cộng đồng người để đạt được các mục tiêu đề ra một cách có hiệu quả nhất”.
[15] - Quản lý giáo dục Tác giả Đặng Quốc Bảo khái quát “Quản lý giáo dục theo nghĩa tổng quát là hoạt động điều hành phối hợp của các lực lượng xã hội nhằm thúc đẩy mạnh công tác đào tạo thế hệ trẻ theo yêu cầu xã hội” [3, tr. Tác giả Phạm Minh Hạc định nghĩa: Quản lý giáo dục là tổ chức các hoạt động dạy học, thực hiện được các tính chất của nhà trường phổ thông Việt Nam xã hội chủ nghĩa mới. Quản lý giáo dục, tức là cụ thể hóa đường lối của Đảng và biến đường lối đó thành hiện thực, đáp ứng nhu cầu của nhân dân, của đất nước [16]. Giáo dục với mục đích là truyền đạt kinh nghiệm của thế hệ trước cho thế hệ sau và quản lý giáo dục được coi là nhân xây dựng kế hoạch, tố tổ chức thực hiện, chỉ đạo và thống nhất thực hiện các hoạt động truyền đạt đó.
Từ các khái niệm trên, tác giả chọn khái niệm sử dụng cho luận văn là: Quản lý giáo dục là hệ thống các hoạt động có ý thức, có mục đích, có kế hoạch, có quy luật của chủ thể quản lý đến các đối tượng giáo dục như GV, học sinh nhằm thực hiện có chất lượng và hiệu mục tiêu GD&ĐT trong nhà trường. Hoạt động giáo dục tình cảm và kỹ năng xã hội cho trẻ mầm non theo hướng phối hợp các lực lượng giáo dục 1. Hoạt động giáo dục tình cảm và kỹ năng xã hội cho trẻ mầm non - Tình cảm Tình cảm luôn hiện hữu trong cuộc sống hàng ngày, trong những nghiên cứu cho thấy tình cảm là sự tác động mạnh mẽ của thái độ tâm lý đối với các hoạt động của con người. Tình cảm là biểu hiện cảm xúc xuất hiện thường xuyên, lâu dài, ổn định.
Có nhiều quan niệm khác nhau về tình cảm. Tác giả Phạm Minh Hạc cho rằng: “Tình cảm là những thái độ cảm xúc ổn định của con người đối với những sự vật, hiện tượng của hiện thực, phản ánh ý nghĩa của chúng trong mối liên quan với nhu cầu và động cơ của họ, tình cảm là sản phẩm cao cấp của sự phát triển các quá trình cảm xúc trong những điều kiện xã hội” [17, tr. 12 Tác giả Đinh Phương Duy phát biểu một cách ngắn gọn về tình cảm: “Tình cảm là thái độ cảm xúc ổn định của con người đối với những sự vật, hiện tượng của hiện thực khách quan có liên quan đến nhu cầu và động cơ của họ” [12, tr.99] Từ điển Tiếng Việt giải thích: Tình cảm là những thái độ thể hiện sự rung cảm ổn định của con người đối với sự vật hiện tượng có liên quan đến nhu cầu và động cơ của họ. [33] Trong luận văn này chúng tôi khái niệm của Nguyễn Xuân Thức như sau: “Tình cảm là những thái độ thể hiện sự rung cảm của con người đối với sự vật, hiện tượng của hiện thực, phản ánh ý nghĩa của chúng trong mối liên quan với nhu cầu và động cơ của con người” [41, tr.175] - Kỹ năng xã hội Tác giả Tạ Thị Ngọc Thanh cho rằng: “KNXH là những kỹ năng tâm lý xã hội giúp cho cá nhân tồn tại và thích ứng trong cuộc sống xã hội.