Chương 1. Cơ sở lý luận về quản lý bồi dưỡng năng lực Giáo dục hòa nhập trẻ khuyết tật cho giáo viên các trường mầm non. Thực trạng quản lý bồi dưỡng năng lực GDHN trẻ khuyết tật cho giáo viên các trường mầm non huyện Hoằng Hóa, tỉnh Thanh Hóa. Biện pháp quản lý bồi dưỡng năng lực GDHN trẻ khuyết tật cho giáo viên các trường mầm non huyện Hoằng Hóa, tỉnh Thanh Hóa.
5 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ BỒI DƢỠNG NĂNG LỰC GIÁO DỤC HÒA NHẬP TRẺ KHUYẾT TẬT CHO GIÁO VIÊN CÁC TRƢỜNG MẦM NON 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Các nghiên cứu về ồi dưỡng năng lực giáo dục hò nhập trẻ khuyết tật cho giáo viên mầm non Bồi dưỡng năng lực giáo dục hòa nhập trẻ khuyết tật cho giáo viên mầm non đã được các nhà giáo dục ở các quốc gia quan tâm, nghiên cứu. Có thể kể tới một số nghiên cứu tiêu biểu như: Ở Hoa Kỳ, một số bang đã bổ sung các quy định vào luật giáo dục của bang đòi hỏi "cần phải thiết lập kế hoạch giáo dục cá nhân để đào tạo và huấn luyện cho trẻ khuyết tật" [35].
Vào năm 1975, Quốc hội Hoa Kỳ thông qua Luật Giáo dục Trẻ khuyết tật, khẳng định rằng "những người khuyết tật có quyền được nhận một nền giáo dục phù hợp để đáp ứng nhu cầu đặc biệt của họ". Cùng với đó, một số bang trong nước cũng đã thêm vào luật giáo dục của bang các quy định yêu cầu "phải lập kế hoạch giáo dục cá nhân để giáo dục và huấn luyện trẻ khuyết tật". Kể từ đó, nhiều nghiên cứu về kế hoạch giáo dục cá nhân cho trẻ khuyết tật đã được thực hiện và công bố trong cả nước Mỹ và một số quốc gia tiên tiến khác.Ở Trung Quốc, chỉ những trẻ bị khuyết tật thể chất nhẹ mới được cho vào chương trình xây dựng trường học mở rộng. Trong khi đó, Áo đã có những động thái về việc phát triển giáo dục cho trẻ khuyết tật từ thập kỷ trước, tuy nhiên chưa đủ mạnh để tiếp tục phát triển.
Vào đầu thế kỷ 21, Canada đã tiến hành nhiều nghiên cứu về quá trình hòa nhập xã hội, với mục tiêu xây dựng các tiêu chí để đánh giá sự thành công của quá trình hòa nhập đối với những người yếu thế trong xã hội và tăng cường vai trò của các tổ chức và chính sách xã hội trong việc nâng cao hiệu quả của quá trình hòa nhập xã hội. Ở Anh, Italia và Tây Ban Nha, các trung tâm giáo viên cấp vùng đảm nhận trách nhiệm hỗ trợ cho học sinh khuyết tật, giáo viên dạy học hòa nhập và phụ huynh.Các giáo viên chuyên môn được đào tạo và hướng dẫn để đáp ứng nhu cầu hỗ trợ hòa nhập của từng trẻ khuyết tật. Việc này bao gồm xây 6 dựng kế hoạch giáo dục cá nhân cho từng học sinh và áp dụng các bài học hòa nhập như dạy ngôn ngữ ký hiệu, đọc và viết chữ nổi, kỹ năng sống.Bên cạnh đó, phụ huynh cũng được cung cấp hướng dẫn và hỗ trợ để có thể chăm sóc và giúp đỡ con em mình ở nhà. Các thông tin và kỹ năng cần thiết để hỗ trợ hòa nhập của trẻ khuyết tật được chia sẻ và thảo luận để tăng cường sự hiểu biết.
Tại Thái Lan, mọi giáo viên đều bắt buộc phải lập kế hoạch giáo dục cá nhân cho trẻ em khuyết tật, nhằm đảm bảo rằng chương trình giảng dạy được thiết kế sao cho phù hợp với nhu cầu đặc biệt của từng cá nhân. Thái Lan đặt sự quan tâm đặc biệt vào việc bồi dưỡng đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục và giáo viên ở mọi cấp độ về chuyên môn. Hàng tuần, giáo viên tiến hành can thiệp sớm theo cách riêng cho trẻ khuyết tật và đồng thời hướng dẫn phụ huynh thực hiện tại nhà. Để quản lý tốt hơn, Giáo dục Thái Lan tập trung vào việc biên soạn các công cụ đánh giá phát triển của trẻ và các mẫu quản lý.
Ngoài ra, họ còn xây dựng các tài liệu giảng dạy kỹ năng đặc biệt cho trẻ khuyết tật. Tại Singapore, vai trò của các cán bộ quản lý tại các trung tâm và cơ sở giáo dục hỗ trợ nặng nề (GDHN) là rất quan trọng trong việc hướng dẫn học sinh khuyết tật hòa nhập. Bên cạnh đó, giáo viên cấp vùng và giáo viên dạy học hòa nhập cũng đóng vai trò quan trọng trong việc hỗ trợ học sinh khuyết tật. Trẻ có nhu cầu hòa nhập sẽ được các giáo viên có trình độ chuyên môn hỗ trợ.
Để phát triển giáo dục, Việt Nam có thể học tập từ Singapore về việc xây dựng những trường học tư duy và quốc gia học tập, cũng như tận dụng tối đa tiềm năng của con người. Điều này được coi là một bài học kinh nghiệm quý giá … [26]. Kết quả điều tra bằng bảng hỏi của Katsunori, Toru Fukunaga và Hnako Iwwamoto về "Sự phối hợp giữa các cơ quan liên quan nhằm thúc đẩy giáo dục hòa nhập tại Nhật Bản" cho thấy rằng, sự phối hợp giữa giáo viên và các cơ quan liên quan trong quá trình giáo dục trẻ là rất ít. Để cải thiện tình trạng này, cần thiết phải tăng cường sự phối hợp giữa các cơ quan liên quan, đặc biệt là người quản lý chuyên môn như Hiệu trưởng, điều phối viên giáo dục đặc biệt và giáo viên chủ nhiệm.
Các nghiên cứu về GDHN và học sinh khuyết tật đã tập trung vào vai trò quan trọng của giáo viên trong quá trình này, đồng thời cũng chú trọng 7 đến vấn đề bồi dưỡng đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục và giáo viên.Các nghiên cứu này đóng góp cơ sở lý luận và thực tiễn quan trọng cho các tác giả thực hiện đề tài luận văn. Tại Việt Nam, tỷ lệ học sinh khuyết tật là khá cao, đặc biệt là ở các vùng dân tộc thiểu số, vùng núi, vùng sâu và vùng xa. Để hỗ trợ và giúp đỡ những trẻ khuyết tật, Đảng và Nhà nước đã quan tâm và triển khai chính sách phát triển Giáo dục hỗn hợp nơi các trẻ có cơ hội tham gia vào môi trường giáo dục chung và hòa nhập với các bạn cùng lứa tuổi. Các chính sách này giúp tạo điều kiện cho trẻ em khuyết tật tham gia vào các hoạt động giáo dục và phát triển bản thân, cũng như đóng góp vào sự phát triển của đất nước.Các văn bản pháp quy về giáo dục dành cho học sinh khuyết tật tại Việt Nam đang ngày càng được bổ sung và hoàn thiện.
Ngoài ra, nhiều công trình nghiên cứu về hoạt động giáo dục dành cho học sinh khuyết tật, phát triển và bồi dưỡng năng lực cho giáo viên và cán bộ quản lý cũng đang được thực hiện.Mặc dù hoạt động Giáo dục Đặc biệt và Hỗ trợ Người khuyết tật (GDHN) đã đạt được những kết quả đáng khích lệ tại Việt Nam, tuy nhiên, nhiều nghiên cứu cũng đã chỉ ra những hạn chế và thách thức mà GDHN đang phải đối mặt, nhất là trong việc đào tạo giáo viên. Các hạn chế này bao gồm: thiếu năng lực chuyên môn và kiến thức về GDHN, thiếu nguồn lực tài chính, thái độ tiêu cực và sợ bị giảm đi các thành tích.Để tăng cường chất lượng hoạt động GDHN, cần thiết phải cung cấp các khóa đào tạo chuyên môn để nâng cao trình độ của giáo viên. Tuy nhiên, cho đến năm 1991, GDHN vẫn là phương pháp giáo dục hiệu quả nhất cho học sinh khuyết tật tại Việt Nam. Tác giả Lê Thị Thúy Hằng đã đưa ra quan điểm riêng của mình về việc phát triển năng lực giáo dục hỗ trợ cho trẻ khuyết tật trong đội ngũ giáo viên mầm non.
Bài viết của bà tập trung vào các chủ đề liên quan đến đào tạo và bồi dưỡng đội ngũ giáo viên về GDHN trẻ khuyết tật trong trường mầm non. Để phát triển năng lực cho giáo viên, trường học đã thực hiện một số hoạt động bao gồm tạo ra nguồn tài nguyên để bổ sung đội ngũ giáo viên hòa nhập với trẻ khuyết tật, đồng thời đa dạng hóa năng lực thông qua hoạt động hợp tác và chia sẻ. Nghiên cứu của Ngô Thúy Dương tập trung vào việc tổ chức bồi dưỡng cho giáo viên các kỹ năng chăm sóc tâm lý học sinh tại huyện Nguyên Bình, 8 tỉnh Cao Bằng [14]. Tác giả đã xây dựng lý thuyết để tổ chức các hoạt động trong việc bồi dưỡng cho GV kỹ năng chăm sóc tâm lý cho HS tiểu học, khảo sát tình hình tổ chức bồi dưỡng tại huyện Nguyên Bình và đề xuất một số giải pháp, bao gồm đánh giá khả năng và nhu cầu đào tạo của giáo viên, huy động nguồn lực để xây dựng đội ngũ người huấn luyện, chỉ đạo sáng tạo phương pháp và hình thức đào tạo để tăng cường vai trò của giáo viên trong quá trình đào tạo, giúp GV nâng cao kỹ năng chăm sóc tâm lý cho HS tiểu học.
Trong những năm gần đây, để đội ngũ giáo viên có năng lực chuyên môn và kiến thức hiểu biết về Giáo dục hướng nghiệp (GDHN), đáp ứng được yêu cầu trong GDHN, trường Đại học Sư phạm Hà Nội đã thường xuyên tổ chức các khóa bồi dưỡng "Nghiệp vụ sư phạm về GDHN trẻ khuyết tật" cho các cán bộ quản lý, chuyên viên của Sở, Phòng Giáo dục và Đào tạo phụ trách GDHN trẻ khuyết tật; giáo viên và cán bộ quản lý của trường mầm non, tiểu học, trung học cơ sở; giáo viên và cán bộ quản lý của trung tâm hỗ trợ phát triển GDHN; giáo viên và cán bộ quản lý của trường/trung tâm dạy trẻ khuyết tật. Tất cả những đối tượng này đều được sự đồng ý của Bộ Giáo dục và Đào tạo. Trong báo cáo tổng kết đề tài "Nghiên cứu thực trạng và giải pháp GDHN cho trẻ khuyết tật tuổi mẫu giáo", đã đề cập đến nghiên cứu của Phan Thị Ngọc Anh (2004). Nội dung của nghiên cứu xoay quanh vấn đề GDHN cho trẻ khuyết tật trong độ tuổi mẫu giáo, nghiên cứu thực trạng về GDHN cho trẻ khuyết tật tại một số trường mẫu giáo ở Hà Nội và đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả GDHN cho trẻ khuyết tật tuổi mẫu giáo.
Báo cáo tổng kết này được thực hiện trong khuôn khổ của dự án "Hỗ trợ phát triển GDHN cho trẻ em khuyết tật" do Tổ chức Plan Việt Nam triển khai. Nghiên cứu của Nguyễn Kim Hương năm 2015 tập trung vào biện pháp giáo dục hòa nhập cho trẻ tự kỉ trong độ tuổi mầm non tại thành phố Thái Nguyên.