phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, tài liệu tham khảo, phụ lục, phần nội dung chính của luận văn đƣợc chia làm 3 chƣơng: Chư ng 1: Cơ sở lý luận về quản lý hoạt động bồi dƣỡng giáo viên ở 8 các trƣờng tiểu học đáp ứng yêu cầu đổi mới chƣơng trình giáo dục hiện nay. Chư ng 2: Thực trạng quản lý hoạt động bồi dƣỡng giáo viên ở các trƣờng tiểu học đáp ứng yêu cầu đổi mới chƣơng trình giáo dục hiện nay trên địa bàn thành phố Gia Nghĩa, Đắk Nông. Chư ng 3: Các biện pháp quản lý hoạt động bồi dƣỡng giáo viên ở các trƣờng tiểu học thành phố Gia Nghĩa, Đắk Nông đáp ứng yêu cầu đổi mới chƣơng trình giáo dục hiện nay. 9 Chư ng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG BỒI DƯỠNG GIÁO VI N CÁC TRƯỜNG TIỂU HỌC ĐÁ ỨNG Y U ĐỔI MỚI CHƯƠNG TR NH GIÁ DỤC HIỆN NAY 1.
TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ 1. Các nghiên cứu nước ngoài Ủy ban quốc tế về giáo dục thế kỷ XXI của UNESCO (1996) đã khẳng định: “Thầy giáo là yếu tố quyết định hàng đầu đối với chất lƣợng giáo dục. Do đó, muốn phát triển giáo dục thì trƣớc hết và trên hết phải phát triển đội ngũ giáo viên về cả số lƣợng và chất lƣợng" [30]. Ở Nhật Bản, có quy chế bắt buộc bồi dƣỡng hàng năm đối với giáo viên phổ thông mới vào nghề.
Giáo viên đƣơng nhiệm đƣợc bồi dƣỡng bằng nhiều hình thức, ở nhiều cấp với phƣơng thức đổi mới, đa dạng. Chính sách đãi ngộ giáo viên chủ yếu thể hiện qua lƣơng, phụ cấp, trợ cấp. Mức tăng lƣơng dựa vào thành tích và thâm niên công tác, trung bình 1 năm hoặc 2 năm một lần [32]. Tại Pakistan có chƣơng trình bồi dƣỡng về sƣ phạm do nhà nƣớc qui định trong thời gian 3 tháng gồm các nội dung nhƣ: giáo dục nghiệp vụ dạy học, cơ sở tâm lý giáo dục, phƣơng pháp nghiên cứu, đánh giá và nhận xét học sinh,.
đối với đội ngũ giáo viên mới vào nghề chƣa quá 3 năm [28]. Tại Thái Lan, từ năm 1998 việc bồi dƣỡng giáo viên đƣợc tiến hành ở các trung tâm học tập cộng đồng nhằm thực hiện giáo dục cơ bản, huấn luyện kỹ năng nghề nghiệp và thông tin tƣ vấn cho mọi ngƣời dân trong xã hội [28]. Ở Philippin đã xây dựng kế hoạch tổng thể đào tạo bồi dƣỡng giáo viên 10 năm (1998-2008), trong đó có những giải pháp đáng chú ý. Chẳng hạn, thu hút những học sinh trung học có học lực khá giỏi vào ngành sƣ phạm.
Tạo việc làm cho giáo viên mới ra trƣờng, giảm bớt tình trạng thất nghiệp đối với giáo viên mới. Thể chế hóa và củng cố việc bồi dƣỡng tại chức, nâng cao nhận thức 10 của nhân dân về vai trò, tầm quan trọng của nghề dạy học và vị thế của giáo viên trong xã hội [40]. Đối với Cộng hòa Pháp, một quốc gia có nền giáo dục rất phát triển ở Châu Âu, đã xây dựng 49 nguyên tắc mới cho giáo dục. Trong đó có đề công tác đào tạo, bồi dƣỡng thƣờng xuyên giáo viên: mỗi giáo viên đƣợc hƣởng ít nhất 35 giờ đối với công tác đào tạo tiếp tục hàng năm.
Tăng cƣờng làm việc theo nhóm để chia sẻ và học hỏi kinh nghiệm giảng dạy lẫn nhau. Thời gian làm việc của giáo viên giảm từ 18 giờ xuống 15 giờ/tuần, thạc sĩ giảm từ 15 giờ xuống 14 giờ/tuần. Nhƣng giáo viên phải có 4 giờ/tuần có mặt trong nhà trƣờng để nghiên cứu tài liệu chuẩn bị cho các hoạt động giảng dạy, đối với thạc sĩ là 3 giờ/tuần tức là 132 giờ/năm. Công tác đào tạo bồi dƣỡng cán bộ thạc sĩ là 3 giờ/tuân tức là 132 giờ/năm.
Công tác đào tạo bồi dƣỡng cán bộ QLGD đƣợc chú trọng [40]. Qua đó cho thấy ở các nƣớc trên thế giới từ những nƣớc chậm phát triển, nƣớc đang phát triển và nƣớc phát triển thì công tác bồi dƣỡng, phát triển đội ngũ giáo viên đƣợc đặc biệt quan tâm. Các nghiên cứu trong nước Ở Việt Nam, giáo viên giữ vai trò chủ đạo trong việc nâng cao chất lƣợng và hiệu quả giáo dục. Do đặc điểm của công việc, giáo viên phải thƣờng xuyên đƣợc bồi dƣỡng, tự bồi dƣỡng để cập nhật kiến thức, nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ nhằm đáp ứng yêu cầu của xã hội.
Đảng và Nhà nƣớc ta rất quan tâm đến vấn đề phát triển giáo dục và nâng chất lƣợng đội ngũ cán bộ quản lý và giáo viên. Nghị quyết TW2 khóa VIII đã nêu: “Khâu then chốt để thực hiện chiến lƣợc phát triển giáo dục là phải đặc biệt chăm lo đào tạo, bồi dƣỡng và chuẩn hóa đội ngũ giáo viên cũng nhƣ cán bộ quản lý giáo dục” [22]. Trong chiến lƣợc phát triển giáo dục 2001-2010 của Chính phủ đã nêu rõ: “Phát triển đội ngũ nhà giáo đảm bảo đủ về số lƣợng, hợp lý về cơ cấu và chuẩn về chất lƣợng đáp ứng yêu cầu vừa tăng quy mô, vừa nâng cao chất lƣợng và hiệu quả giáo dục”[10]. 11 Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI đã khẳng định "Đối mới căn bản, toàn diện nền giáo dục Việt Nam theo hƣớng chuẩn hoá, hiện đại hoá, xã hội hóa, dân chủ hóa và hội nhập quốc tế, trong đó, đổi mới cơ chế quản lý giáo dục, phát triển đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý giáo dục là khâu then chốt”[31].
Quyết định số 09/2005/QĐ-TTg của Thủ tƣớng chính phủ về việc phê duyệt đề án “Xây dựng và nâng cao chất lƣợng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục giai đoạn 2001-2010 đã xác định mục tiêu, các nhiệm vụ chủ yếu, các giải pháp cho việc xây dựng và phát triển đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục" [15]. Chiến lƣợc phát triển giáo dục giai đoạn 2011-2020 đã đề ra các giải pháp phát triển giáo dục, trong đó có giải pháp phát triển đội ngũ nhà giáo và quản lý giáo dục giai đoạn 2001-2010 đã xác định mục tiêu, các nhiệm vụ chủ yếu, các giải pháp cho việc xây dựng và phát triển đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục”[15]. Chiến lƣợc phát triển giáo dục giai đoạn 2011-2020 đã đề ra các giải pháp phát triển giáo dục, trong đó có giải pháp phát triển đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục, trong giải pháp này khẳng định “.đổi mới căn bản và toàn diện nội dung và phƣơng pháp đào tạo, bồi dƣỡng nhằm hình thành đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục đủ sức thực hiện đối mới chƣơng trình giáo dục phổ thông sau năm 2015”[16]. Trên cơ sở đó, những nghiên cứu về quản lý hoạt động bồi dƣỡng giáo viên gần đây, một số tác giả đã có bài viết và công trình nghiên cứu: Tác giả Nghiêm Đình Vỳ và Nguyễn Khắc Hƣng trong cuốn Phát triển giáo dục và đào tạo nhân tài đã khẳng định “Thầy giáo là yếu tố quyết định hàng đầu đối với chất lƣợng giáo dục, do đó muốn phát triển giáo dục thì trƣớc hết và trên hết phải phát triển đội ngũ giáo viên cả về số lƣợng và chất lƣợng” [39].
Từ đó, đƣa ra những nghiên cứu về những thời kỳ biến chuyển của giáo viên và đề nghị về những cải cách chƣơng trình đào tạo giáo viên. 12 Tác giả Đặng Quốc Bảo cho rằng: “Bất cứ hoàn cảnh nào dù khó khăn đến đâu, ngành giáo dục cũng tìm mọi biện pháp mở trƣờng, lớp (dài hạn, ngắn hạn, cấp tốc, tập trung, phân tán, nhóm nhỏ.) để đào tạo, bồi dƣỡng đội ngũ. Đồng thời tác giả cũng đƣa ra một số bài học về bồi dƣỡng đội ngũ Hồ Phƣơng Lan trong cuốn Giải pháp tổng thể quản lý nhà trƣờng hiệu quả trong thời kỳ hội nhập quốc tế đã nêu lên những yêu cầu xây dựng và phát triển đội ngũ, việc tăng cƣờng quản lý, xây dựng và phát triển đội ngũ [33]. Tác giả Bùi Thị Loan trong bài viết về công tác bồi dƣỡng giáo viên hiện nay đăng trên tạp chí giáo dục số 176, trong đó đã đề cập đến thực trạng của công tác bồi dƣỡng giáo viên hiện nay, đồng thời đề xuất các giải pháp để nâng cao chất lƣợng đào tạo bồi dƣỡng [34].
CÁC KHÁI NIỆM CHÍNH CỦA ĐỀ TÀI 1. Quản lý Theo Từ điển Tiếng Việt: “Quản lý là trông coi, giữ gìn theo những yêu cầu nhất định” hoặc “Quản lý là tổ chức và điều khiển các hoạt động theo những yêu cầu nhất định”, Tailor: “Làm quản lý là bạn phải biết rõ: muốn ngƣời khác làm việc gì thì hãy chú ý đến cách tốt nhất, kinh tế nhất mà họ làm”. Fayel: “Quản lý là một hoạt động mà mọi tổ chức (gia đình, doanh nghiệp, chính phủ) đều có, nó gồm 5 yếu tố tạo thành là: kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo, điều chỉnh và kiểm soát”. Hard Koont: “Quản lý là xây dựng và duy trì một môi trƣờng tốt giúp con ngƣời hoàn thành một cách hiệu quả mục tiêu đã định”.
Peter F Druker: “Suy cho cùng, quản lý là thực tiễn. Bản chất của nó không nằm ở nhận thức mà ở hành động; kiểm chứng nó không nằm ở sự logic mà ở thành quả; quyền uy duy nhất của nó là thành tích”. Paul Hersey và Ken Blane Hard: “Quản lý là quá trình cùng làm việc và thông qua các cá nhân, các nhóm cũng nhƣ các nguồn lực khác để hình thành các mục đích tổ chức”[37]. 13 Theo sự phân tích của K.Mác thì “Bất cứ nơi nào lao động, nơi đó có quản lý” [14].
Trong tác phẩm: “Những vấn đề cốt yếu của quản lý” tác giả HaroldKontz viết “Quản lý là một hoạt động thiết yếu, nó đảm bảo phối hợp những nỗ lực cá nhân nhằm đạt đƣợc các mục đích của nhóm về thời gian, tiền bạc và sự bất mãn cá nhân ít nhất” [22]. Khái quát hơn các tác giả ở khoa Sƣ phạm – ĐHQGHN là Nguyễn Quốc Chí, Nguyễn Thị Mỹ Lộc đƣa ra quan niệm: “Quản lý là sự tác động có chủ đích của chủ thể quản lý đến đối tƣợng quản lý nhằm đạt đƣợc mục tiêu của tổ chức” [16, Tr. Theo tác giả Trần Kiểm: “Quản lý là những tác động của chủ thể quản lý trong việc huy động phát huy, kết hợp, sử dụng, điều chỉnh, điều phối các nguồn lực (nhân lực, vật lực, tài lực) trong và ngoài nƣớc (chủ yếu là nội lực) một cách tối ƣu nhằm đạt mục đích của tổ chức với hiệu quả nhất” [32].