Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ GIÁO DỤC NĂNG LỰC TỰ CHỦ, TỰ HỌC THÔNG QUA HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Nghiên cứu về giáo dục năng lực tự chủ, tự học Bàn về giáo dục năng lực tự chủ tự học có nhiều tác giả đi nghiên cứu, có thể kể đến một số các tác giả sau: Tác giả Nguyễn Thị Hương trong bài viết của mình đã khẳng định: Trong chương trình của Australia, tự quản lí/tự chủ là một năng lực thành phần trong năng lực cá nhân và xã hội. Năng lực này có nội hàm gần giống với các khái niệm năng lực tự chủ đã nêu ở trên, như khả năng làm việc độc lập, xác định các nguồn lực để thực hiện mục tiêu, điều chỉnh, quản lí và giám sát hiệu quả để hoàn thành nhiệm vụ.
Nghiên cứu khẳng định năng lực tự chủ của học sinh bao gồm các năng lực: Bày tỏ cảm xúc một cách thích hợp, Phát triển kỉ luật tự giác và đặt mục tiêu, Làm việc độc lập và thể hiện sự chủ động, Trở nên tự tin, kiên cường và dễ thích nghi1. Bang Victoria cũng đã xác định năng lực tự chủ đóng một vai trò hết sức quan trọng đối với HS bởi vì điều này giúp HS phấn đấu để đạt được thành tích cao trong học tập và rèn luyện. Để đạt được điều này đòi hỏi người học phải thực hành, cần có kế hoạch, nỗ lực và kiên trì theo thời gian. Các chiến lược thực hiện trong năng lực tự chủ có thể hỗ trợ quá trình này, cho phép HS trở thành những người học tự chủ, những người có thể theo đuổi sở thích của riêng mình.
Các kĩ năng thành phần của năng lực tự chủ bao gồm: thiết lập mục tiêu, sự phản xạ, tự quản lí hành vi. Người học có năng lực tự chủ sẽ nhận thức được điểm mạnh và 1 Nguyễn Thị Hương, Cấu trúc năng lực tự chủ và kinh nghiệm đánh giá năng lực tự chủ của Austrialia, Tạp chí Giáo dục (2022), 22(11), tr.60-64; 5 điểm yếu của họ với tư cách là một người học; các chiến lược học tập mà họ có thể quản lí và sử dụng; các chiến lược mà họ có thể sử dụng để thúc đẩy việc học và duy trì công việc. Để phát triển năng lực tự chủ, bang Victoria cho rằng cần cho phép HS kiểm soát nhiều hơn việc học của họ. Giáo viên nên khuyến khích HS hiểu được động cơ học tập của bản thân và điểm mạnh và điểm yếu với tư cách là người học.
Nó cũng liên quan đến việc hỗ trợ HS hiểu lí do của việc sử dụng các chiến lược học tập cụ thể. Người có năng lực tự chủ có thể điều chỉnh các chiến lược của họ để đáp ứng nhu cầu của các nhiệm vụ khác nhau.2 Nhóm tác giả Nguyễn Thị Phương Thảo, Phan Thị Thanh Hương, Đặng Thị Thuận An trong bài viết “Phát triển năng lực tự chủ cho học sinh thông qua dạy học một số chủ đề môn Hóa Học lớp 12 theo chương trình giáo dục phổ thông năm 2018 ở tỉnh Đăk Lăk” đã đề xuất các biện pháp phát triển năng lực tự chủ cho HS lớp 12 thông qua hoạt động dạy học môn Hoá học gồm: (1) Trao cho học sinh một phần quyền lựa chọn nội dung và hình thức học tập; (2) Bồi dưỡng cho học sinh năng lực tự chủ khai thác chiếm lĩnh tri thức, tìm kiếm và xử lý thông tin; (3) Hướng dẫn học sinh tìm hiểu, liên hệ với thực tiễn đời sống; (4) Bồi dưỡng cho học sinh kỹ năng tự đánh giá trên cơ sở đó xây dựng thành 7 tiêu chí để đánh giá năng lực tự chủ3; Tác giả Philip Candy [Philip Candy (1991), Self-dire chương trình ion for lifelong Learning: A comprehensive guide to theory and pra chương trình ice] đã thống kê đưa ra 12 biểu hiện của người có năng lực tự học và được chia thành 2 nhóm nhằm xác định được nhóm nào chịu tác động chi phối từ môi trường học tập.60-64; 3 Nguyễn Thị Phương Thảo, Phan Thị Thanh Hương, Đặng Thị Thuận An, Phát triển năng lực tự chủ cho học sinh thông qua dạy học một số chủ đề môn Hóa Học lớp 12 theo chương trình giáo dục phổ thông năm 2018 ở tỉnh Đăk Lăk, Tạp chí Khoa học, Trường ĐHSP, Đại học Huế, Số 04(56)A/2020: tr.21-31; 6 Nhóm đặc điểm bên trong được hình thành, phát triển thông qua các HĐTN sống của bản thân và chịu sự tác động, chi phối bởi yếu tố về tâm lý. Bởi vậy GV phải tao môi trường cho HS được thực hành, trải nghiệm và soi lại bản thân mình, đôi khi chỉ cần có được phản ứng đúng hoặc sai trong nhận thức, HS nếu nhận được những lời khích lệ, động viên sẽ tạo ra động lực để các em phấn đấu, cố gắng tự học. Nhóm đặc điểm bên ngoài: Đó là cách thức học, nhóm có chứa những kỹ năng, năng lực học tập cần phải có của người học, nó chủ yếu nói được hình thành và phát triển suốt quá trình học tập, bởi vậy Phương pháp dạy của GV sẽ có tác động lớn đến Phương pháp học của học trò, giúp hình thành, phát triển và duy trì năng lực tự học.
Tác giả Taylor [Tay lor, B (1995), Self- dire chương trình ed Learning: Revisiting a idea most appropriare for middle school student], khi tác giả thực hiện nghiên cứu vấn đề năng lực của HS trong trường phổ thông đã khẳng định người có năng lực tự học có những biểu hiện như: Có động cơ bền bỉ học tập; có tính kỉ luật, tự tin, độc lập; và có khả năng xác định được mục tiêu, đích đến; đồng thời có kỹ năng hành động thích hợp.[15] Taylor đã chỉ ra 3 yếu tố cơ bản của người tự học: kỹ năng, thái độ, và tính cách. Dễ dàng nhận ra sự phân biệt đó giúp xác định cụ thể và tường minh các biểu hiện khả năng HĐ, tư duy thực tế chứ không chỉ là đề cập đến lĩnh vực tâm lý người học. Nghiên cứu về quản lý giáo dục năng lực tự chủ, tự học Khi nghiên cứu quản lý giáo dục năng lực tự chủ tự học cho HS được tiếp cận dưới nhiều cách, có rất ít công trình nghiên cứu về giáo dục năng lực tự chủ tự học một cách độc lập mà nghiên cứu vấn đề này trong quản lý hoạt động dạy học; quản lý hoạt động giáo dục theo hướng phát triển ở HS năng lực tự chủ tự học. Có thể liệt kê một số nghiên cứu sau: Những nghiên cứu về quản lý hoạt động dạy học theo hướng phát triển năng lực cho HS trong đó có năng lực tự chủ tự học và các năng lực đặc thù gắn 7 với môn học.
Có thể liệt kê các công trình như: Mối quan hệ giữa năng lực tự học và chất lượng giáo dục của trường THPT công lập của nhóm tác giả Chu Cẩm Thơ, Vũ Thị Mai Hường-Viện Khoa học giáo dục Việt Nam. Phát triển năng lực tự học môn Ngữ văn cho HS cấp THCS của tác giả Bùi Thanh Thủy- Viện Khoa học giáo dục Việt Nam. Về việc bồi dưỡng năng lực tự học cho HS của Nguyễn Gia Cầu-Viện nghiên cứu Hợp tác Phát triển giáo dục. [10] Nghiên cứu về quản lý giáo dục năng lực tự chủ tự học cho HS có những nghiên cứu về quản lý tổ chức hoạt động giáo dục, hoạt động trải nghiệm, hướng nghiệp, hoạt động ngoại khóa nhằm giúp HS mở rộng, thẩm thấu, đào sâu tri thức được tiếp nhận trong chương trình.
Thông qua hoạt động ngoại khóa, HS được tăng hiểu biết, nhận thức, tri thức được mở rộng, được tập trung phát triển những năng lực cốt lõi, phẩm chất và năng lực trong chương trình giáo dục phổ thông tổng thể. Nghiên cứu về quản lý giáo dục năng lực tự chủ tự học dưới góc độ kỹ năng sống có các nghiên cứu về kỹ năng sống cho HS như: Biện pháp quản lý hoạt động giáo dục kĩ năng sống cho HS các trường THCS quận Thốt Nốt, thành phố Cần Thơ của tác giả Cao Hồng Nam-Trường THCS và THPT Thới Thuận, quận Thốt Nốt, TP. Cần Thơ với mục tiêu của hoạt động giáo dục kĩ năng sống là rèn luyện cách tư duy tích cực, hình thành thói quen tốt thông qua hoạt động và bài tập thực hành, trải nghiệm, biết cách phân biệt đúng, sai; biết cách ra quyết định và chịu trách nhiệm, biết đối đầu với áp lực và biết vượt qua các thử thách. Đó chính là sự khác biệt cơ bản giữa hoạt động giáo dục kĩ năng sống với giảng dạy bộ môn Giáo dục công dân [17] 1.
Các khái niệm cơ bản 1. Năng lực Theo tác giả Nguyễn Văn Cường, Bernd Meier (2011). Một số vấn đề chung về đổi mới phương pháp dạy học ở trường Trung học, NXB Giáo dục. Khái niệm năng lực theo: “Năng lực là khả năng thực hiện có hiệu quả và có 8 trách nhiệm các hành động, giải quyết các nhiệm vụ, vấn đề thuộc các lĩnh vực nghề nghiệp, xã hội hay cá nhân trong những tình huống khác nhau trên cơ sở vận dụng hiểu biết, kỹ năng, kỹ xảo và kinh nghiệm cũng như sự sẵn sàng hành động” [5].
Theo tác giả Nguyễn Quang Uẩn - Trần Trọng Thủy, (2002), Tâm lí học đại cương, NXB Đại học Sư phạm Hà Nội thì năng lực được hiểu“là tổng hợp những thuộc tính độc đáo của cá nhân phù hợp với những yêu cầu đặc rưng của một hoạt động nhất định, nhằm đảm bảo việc hoàn thành có kết quả tốt trong lĩnh vực hoạt động ấy”[18] Tiếp cận khái niệm về năng lực của các tác giả đi trước, trong phạm vi nghiên cưú của luận văn này tác giả luận văn hiểu: năng lực là thuộc tính riêng tư của mỗi người đáp ứng khả năng hoàn thành công việc được giao phó hay những công việc nội tại mà nhiệm vụ cá nhân phải hoàn thành với mức độ hiệu quả cao nhất trong khả năng của mỗi người. Năng lực tự chủ, tự học * Khái niệm tự chủ: Tự chủ đề cập đến mức độ cá nhân tham gia tích cực về mặt nhận thức, động lực và hành vi trong quá trình học tập của chính mình (Zimmerman, 1986). Ông cho rằng: nói chung, người học có thể được mô tả là có khả năng tự điều chỉnh ở mức độ họ là những người tham gia tích cực về mặt nhận thức, động lực và hành vi trong quá trình học tập của chính mình. Các tác giả về sau bổ sung thêm và diễn giải khái niệm này theo nhiều cách khác nhau.
Little (1991) xem nó là kĩ năng tự lập: tự chủ là “năng lực tự lập, năng lực tư duy phê phán, ra quyết định và hành động độc lập”.