Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN TỚI ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 1. Tình hình nghiên cứu có liên quan tới vấn đề quản lý nhà nước về giáo dục và quản lý nhà nước về giáo dục cấp huyện 1. Các công trình nghiên cứu quản lý nhà nước về giáo dục Sách “Giáo dục và phát triển nguồn nhân lực trong thế kỷ XXI” [32] của tác giả Trần Khánh Đức (2014). Nội dung sách bàn về hệ thống giáo dục và QLNN ở Hoa Kỳ.
“Về mặt giáo dục, Hoa Kỳ là một quốc gia điển hình theo cơ chế phi tập trung hóa, thực hiện phân cấp, phân quyền mạnh cho chính quyền địa phương các Bang và các quận giáo dục (một đơn vị về QLGD) về các mặt trong QLGD, và có tính hướng thị trường rất mạnh trong đào tạo” [33, tr. Bộ Giáo dục Hoa Kỳ không thực hiện chức năng QLNN một cách trực tiếp và toàn diện đối với toàn bộ hệ thống giáo dục liên bang. Chính quyền các bang, các quận giáo dục và nhà trường đặc biệt là các trường đại học có quyền tự chủ rất cao trong quản lý mọi mặt hoạt động của nhà trường trong khuôn khổ pháp luật. Trách nhiệm QLGD phổ thông chủ yếu thuộc về chính quyền các bang và các quận về giáo dục, là các đơn vị lãnh thổ về giáo dục.
Các cơ quan QLGD của bang có trách nhiệm và quyền hạn rất lớn trong phạm vi của bang từ xây dựng kế hoạch chiến lược phát triển giáo dục của bang cho đến phân bổ nguồn tài chính, quản lý giáo viên. Trong QLGD ở Hoa Kỳ vai trò của các cộng đồng, các cơ quan lập pháp địa phương với đại diện của nhiều tầng lớp xã hội, giới doanh nghiệp có vai trò và vị trí rất quan trọng. Các hội đồng bang có quyền lực thực sự trong việc quyết định những vấn đề phân bổ và sử dụng ngân sách giáo dục của địa phương, xem xét và thông qua các luật, các quy định có liên quan đến giáo dục của bang mình, quản lý tổ chức nhân sự của cơ quan giáo dục bang như bổ nhiệm hoặc miễn nhiệm người đứng đầu cơ quan QLGD. Tương tự như luan an 15 vậy, cơ quan QLGD quận và hiệu trưởng các trường có trách nhiệm và quyền hạn rất lớn trong điều hành, quản lý hoạt động của nhà trường trong khuôn khổ pháp luật của bang và các chuẩn mực về giáo dục [32].
Bài viết “Tìm hiểu kinh nghiệm QLNN về giáo dục của Cộng hòa Liên bang Nga và thử tìm bài học cho giáo dục Việt Nam” [57] của tác giả Nguyễn Như Ất. Về hệ thống QLGD, cơ quan QLGD cấp liên bang (Bộ Giáo dục Nga) chịu trách nhiệm đề ra các chính sách liên bang và ban hành các văn bản pháp quy trong giáo dục, cho phép thành lập, tổ chức lại, giải thể các cơ sở giáo dục; cấp văn bằng, chứng chỉ quốc gia; quy định danh mục nghề và giáo dục chuyên nghiệp; đào tạo và bồi dưỡng đội ngũ giáo viên; kiểm tra việc thực hiện Luật Giáo dục và các chuẩn Liên bang. Cơ quan QLGD địa phương có trách nhiệm: phát triển và thực hiện chính sách giáo dục phù hợp với chính sách liên bang, trợ giúp tài chính cho giáo dục bắt buộc; thực hiện chương trình phát triển giáo dục ở địa phương; ban hành các quy định và chuẩn mực ở địa phương. Những đổi mới quản lý về giáo dục của Liên Bang Nga trước hết thể hiện ở các quan điểm chiến lược thay đổi cơ chế quản lý như dân chủ hóa giáo dục, chuẩn hóa.
theo đó là các chính sách có tính giải pháp như thể chế hóa (luật hóa), phân cấp quản lý, thay đổi cách thức và tăng cường kiểm tra, đánh giá. Chuẩn hóa, cải cách hành chính về giáo dục gắn liền với pháp chế hóa là giải pháp chiến lược quan trọng thực hiện cải cách QLNN về giáo dục của Liên Bang Nga. Giao quyền tự trị cho các cơ sở trường học, phân cấp quyền tự chủ cho các cấp QLGD, các địa phương thì Nhà nước phải điều hành giáo dục thông qua và bằng pháp luật, thể hiện tính chất nhà nước công dân - pháp quyền. Nhà nước điều hành việc ủy nhiệm, trao quyền cho đơn vị giáo dục; tiến hành kiểm tra, đánh giá, xử lý bằng các biện pháp hành chính và tổ chức, tất cả đều phải có và dựa vào hành lang pháp lý.
Bởi thế phải “tiêu chuẩn hóa” và theo đó phải xây dựng đồng bộ các văn bản pháp lý theo các mức khác nhau về QLNN về giáo dục [57, tr. luan an 16 Bài viết “Phát triển giáo dục Trung Quốc trong cải cách mở cửa đầu thế kỷ XXI” trong sách Quản lý nhà nước về giáo dục - lý luận và thực tiễn [57], đã chỉ ra một số vấn đề về QLGD ở tầm vĩ mô có thể coi đó là QLNN. Hệ thống QLGD của Cộng hòa nhân dân Trung Hoa gồm bốn bậc: chính quyền Trung ương, chính quyền tỉnh (gồm cả chính quyền các khu tự trị), chính quyền thành phố và các cấp quận/huyện. “Các cấp (cơ quan) QLGD dưới sự chỉ đạo của chính phủ hoặc chính phủ phải chịu trách nhiệm về các hoạt động giáo dục trong khu vực quản lý của mình” [57, tr.
Cơ quan QLGD khác trong phạm vi quản lý của chính phủ và địa phương chịu trách nhiệm các hoạt động giáo dục trong phạm vi hành chính của mình. Bộ Giáo dục chịu trách nhiệm về các hoạt động giáo dục trên toàn quốc. Một số cơ quan (bộ/ngành) dưới sự quản lý của Hội đồng Nhà nước cũng thành lập các đơn vị quản lý chịu trách nhiệm quản lý ở những lĩnh vực giáo dục liên quan. Trung Quốc đang đi trên con đường xây dựng một hệ thống QLGD dựa trên luật pháp; nỗ lực xây dựng thể chế giáo dục quốc gia, tạo ra nền tảng pháp lý cho phát triển giáo dục [57].
“Mô hình phát triển giáo dục Nhật bản” (2014), trong đó tác giả Trần Khánh Đức [32] đã đi sâu bàn về giáo dục Nhật Bản, từ chương trình, nội dung giáo dục phổ thông, giáo dục nghề nghiệp, giáo dục đại học, đánh giá kết quả giáo dục, phát triển đội ngũ giáo viên. Từ năm 1999, hệ thống quản lý mới được thiết lập với tên gọi cơ sở quản lý độc lập, theo quyết định của Chính phủ Nhật Bản. “Theo đó một số tổ chức được đưa ra khỏi cơ chế quản lý của nhà nước trung ương với quyền tự chủ cao để nâng cao hiệu lực và hiệu quả quản trị tổ chức. Bàn về QLNN, tác giả viết “Trên cơ sở liên tục hoàn thiện hệ thống pháp luật, Nhật Bản thực hiện nhất quán chính sách phi tập trung hóa và tăng cường phân quyền trong QLGD các cấp.
Bộ Giáo dục Nhật Bản tập trung thực hiện chức năng QLNN về giáo dục trong luan an 17 hoạch định chính sách, xây dựng thể chế, ban hành chuẩn mực giáo dục và thanh kiểm tra. Chính quyền và các cơ quan QLGD địa phương, các cơ sở giáo dục có trách nhiệm và quyền hạn lớn trong quá trình quản lý và thực thi các hoạt động giáo dục trong phạm vi quản lý” [32, tr. Tác giả Trần Khánh Đức (2015) với bài viết “Đặc trưng và mô hình quản lý giáo dục ở một số nước trên thế giới” [33, tr.315-316], đã nêu khái quát đặc trưng mô hình và cơ chế QLGD ở một số nước đã chỉ ra hệ thống giáo dục và mô hình QLGD của các nước rất khác nhau và đa dạng. Mô hình QLGD của các nước chịu sự chi phối của các yếu tố như đặc điểm về thể chế chính trị - xã hội, thể chế nhà nước, chính sách quốc gia về giáo dục, cơ chế và trình độ phát triển kinh tế, truyền thống văn hoá…Đã chỉ rõ có hai loại mô hình chủ yếu về cơ chế QLGD: cơ chế quản lý tập trung, kế hoạch hoá cao và cơ chế quản lý phi tập trung hoá và định hướng thị trường ở nhiều mức độ khác nhau.
Điển hình cho cơ chế tập trung và kế hoạch hoá cao trong QLGD là mô hình QLGD của các nước xã hội chủ nghĩa; mô hình QLGD phi tập trung và định hướng thị trường là mô hình QLGD của Mỹ và một số nước khác như Cộng hoà liên bang Đức, Canađa…[33, tr. “Kinh nghiệm cho Việt Nam từ thực tiễn cải cách giáo dục đại học Hàn Quốc” (2015) của tác giả Nguyễn Thị Thu Mai, Nguyễn Thị Thanh Thủy, Lê Thị Thu Giang. Bài viết này đã trình bày sự phát triển của GDĐH của Hàn Quốc theo hai giai đoạn: Những năm 1980 đến giữa những năm 2000, từ năm 2007 đến nay và nêu ra nội dung GDĐH Hàn Quốc để cạnh tranh với thế giới – dự án Trí tuệ Hàn Quốc thế kỷ XXI. Các tác giả đã nêu một số vấn đề QLNN như Hàn Quốc đã thay đổi cách quản lý cũ sang cách quản lý mới từ tuyển sinh, trao thêm quyền tự chủ cho Nhà trường, chỉ tiêu tuyển sinh, qui trình xét tuyển, tài chính, hệ thống kiểm sát, kiểm định chất lượng đào tạo, đều nằm dưới sự kiểm soát của Nhà nước “Đặc biệt, Hàn Quốc luan an 18 sớm triển khai việc lới lỏng QLNN trong chỉ tiêu tuyển sinh đối với các trường” [63, tr.
Các tác giả đã nêu ra những tồn tại của QLNN về GDĐH Hàn Quốc như: “QLNN về GDĐH còn nhiều yếu kém và bất cập, nặng tính bao cấp. Hệ thống pháp luật và chính sách về giáo dục thiếu đồng bộ, chậm được sửa đổi, bổ sung. Quyền tự chủ của trường đại học đã được thừa nhận từ gần 10 năm nay nhưng chưa tạo ra sự chuyển biến đáng kể chủ yếu do những vướng mắc về cơ chế QLNN. Sách “Chiến lược phát triển giáo dục trong thế kỷ XXI kinh nghiệm của các quốc gia” (2002), với chủ đề Đổi mới tư duy QLNN về giáo dục trong triển khai thực hiện chiến lược giáo dục 2001-2010, cố tác giả Vũ Văn Tảo [6] sau khi nêu lên những nội dung chủ yếu QLNN về giáo dục, tác giả cho rằng: Phương hướng, bản chất cũng như hoạt động của QLNN được xác định tùy từng giai đoạn cụ thể và kết luận “Phương hướng, bản chất, nội dung đổi mới trong những điều, mục chính là kết quả của tư duy đổi mới QLNN về giáo dục, tương ứng với đổi mới QLNN về kinh tế - xã hội trong từng giai đoạn phát triển” [6, tr.