Quản lý giáo dục ở các quận Hà Nội và yêu cầu đổi mới giáo dục

Luận án tiến sĩ giáo dục phân tích the state management of education in districts of hanoi city meets the requirements of educational, xây dựng cơ sở lý luận, kiểm chứng thực

Trường đại học

Học viện Chính trị

Chuyên ngành

Quản lý giáo dục

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

2019

230
0
0

Phí lưu trữ

55 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI

1.1. Tình hình nghiên cứu có liên quan tới quản lý nhà nước về giáo dục và quản lý nhà nước về giáo dục cấp huyện

1.2. Khái quát kết quả nghiên cứu của các công trình khoa học đã công bố và những vấn đề luận án tập trung giải quyết

2. CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ GIÁO DỤC CẤP HUYỆN ĐÁP ỨNG YÊU CẦU ĐỔI MỚI GIÁO DỤC

2.1. Quản lý nhà nước về giáo dục

2.2. Quản lý nhà nước về giáo dục cấp huyện đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục

2.3. Các yếu tố tác động đến quản lý nhà nước về giáo dục cấp huyện đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục

3. CHƯƠNG 3: CƠ SỞ THỰC TIỄN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ GIÁO DỤC CẤP HUYỆN Ở THÀNH PHỐ HÀ NỘI

3.1. Khái quát chung về tình hình kinh tế - xã hội thành phố Hà Nội

3.2. Tổ chức nghiên cứu thực trạng

3.3. Thực trạng giáo dục và quản lý giáo dục cấp huyện ở thành phố Hà Nội

3.4. Thực trạng quản lý nhà nước về giáo dục cấp huyện ở thành phố Hà Nội

3.5. Thực trạng mức độ ảnh hưởng của các yếu tố tác động tới quản lý nhà nước về giáo dục cấp huyện ở thành phố Hà Nội

3.6. Đánh giá chung và nguyên nhân của thực trạng quản lý nhà nước về giáo dục cấp huyện

4. CHƯƠNG 4: ĐỊNH HƯỚNG, BIỆN PHÁP QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ GIÁO DỤC CẤP HUYỆN Ở THÀNH PHỐ HÀ NỘI ĐÁP ỨNG YÊU CẦU ĐỔI MỚI GIÁO DỤC

4.1. Những định hướng đổi mới quản lý nhà nước về giáo dục cấp huyện ở thành phố Hà Nội đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục hiện nay

4.2. Các biện pháp quản lý nhà nước về giáo dục cấp huyện ở thành phố Hà Nội đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục

5. CHƯƠNG 5: KHẢO NGHIỆM VÀ THỬ NGHIỆM CÁC BIỆN PHÁP QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ GIÁO DỤC CẤP HUYỆN Ở THÀNH PHỐ HÀ NỘI

5.1. Khảo nghiệm tính cần thiết và tính khả thi của các biện pháp

5.2. Tổ chức thử nghiệm biện pháp

MỞ ĐẦU

PHỤ LỤC

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Giới thiệu về quản lý giáo dục tại Hà Nội

Quản lý giáo dục tại các quận Hà Nội đang đối mặt với nhiều thách thức trong bối cảnh đổi mới giáo dục. Quản lý giáo dục không chỉ là việc thực hiện các chính sách mà còn là việc đảm bảo chất lượng giáo dục. Đổi mới giáo dục là yêu cầu cấp thiết, nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả của hệ thống giáo dục. Theo Nghị quyết số 29-NQ/TW, việc đổi mới này cần được thực hiện đồng bộ từ cấp trung ương đến cấp huyện. Chất lượng giáo dục tại Hà Nội cần được cải thiện thông qua việc nâng cao năng lực của đội ngũ giáo viên và cải cách chương trình giáo dục. Việc này không chỉ giúp đáp ứng yêu cầu của xã hội mà còn tạo ra một môi trường học tập tốt hơn cho học sinh.

1.1. Tình hình giáo dục tại Hà Nội

Tình hình giáo dục tại Hà Nội hiện nay cho thấy sự phát triển mạnh mẽ nhưng cũng tồn tại nhiều vấn đề. Đổi mới giáo dục cần được thực hiện một cách đồng bộ và hiệu quả. Các cơ sở giáo dục cần được đầu tư nâng cấp, từ cơ sở vật chất đến chương trình giảng dạy. Đào tạo giáo viên cũng cần được chú trọng để đáp ứng yêu cầu đổi mới. Theo thống kê, số lượng học sinh tăng lên hàng năm, trong khi đó, chất lượng giáo dục vẫn chưa đạt yêu cầu. Điều này đòi hỏi sự can thiệp kịp thời từ các cơ quan quản lý nhà nước về giáo dục.

II. Các yếu tố tác động đến quản lý giáo dục

Quản lý giáo dục tại các quận Hà Nội chịu ảnh hưởng từ nhiều yếu tố khác nhau. Chính sách giáo dục của nhà nước đóng vai trò quan trọng trong việc định hướng và điều chỉnh hoạt động giáo dục. Chất lượng giáo dục cũng bị ảnh hưởng bởi sự phối hợp giữa các cơ quan quản lý nhà nước và các cơ sở giáo dục. Việc thực hiện các biện pháp quản lý cần phải linh hoạt và phù hợp với thực tiễn địa phương. Đặc biệt, sự tham gia của cộng đồng và các tổ chức xã hội trong công tác giáo dục cũng là một yếu tố không thể thiếu. Điều này giúp tạo ra một môi trường giáo dục tích cực và hiệu quả hơn.

2.1. Vai trò của chính sách giáo dục

Chính sách giáo dục là nền tảng cho mọi hoạt động quản lý giáo dục. Các chính sách cần được xây dựng dựa trên thực tiễn và nhu cầu của xã hội. Việc thực hiện các chương trình giáo dục cần phải linh hoạt để phù hợp với từng đối tượng học sinh. Đổi mới giáo dục không chỉ là thay đổi nội dung mà còn là thay đổi phương pháp giảng dạy. Các giáo viên cần được đào tạo để có thể áp dụng các phương pháp giảng dạy hiện đại, từ đó nâng cao chất lượng giáo dục.

III. Định hướng và biện pháp quản lý giáo dục

Để đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục, các quận Hà Nội cần có những định hướng rõ ràng trong quản lý giáo dục. Việc xây dựng các chương trình giáo dục phù hợp với thực tiễn địa phương là rất quan trọng. Các biện pháp quản lý cần được thực hiện đồng bộ từ cấp huyện đến cấp xã. Đào tạo giáo viên cũng cần được chú trọng để nâng cao năng lực giảng dạy. Bên cạnh đó, việc tăng cường đánh giá giáo dục cũng là một yếu tố quan trọng để đảm bảo chất lượng giáo dục. Các cơ quan quản lý nhà nước cần có những chính sách hỗ trợ kịp thời để thúc đẩy sự phát triển của giáo dục tại địa phương.

3.1. Các biện pháp cụ thể

Các biện pháp cụ thể trong quản lý giáo dục cần được triển khai một cách đồng bộ. Việc xây dựng các chương trình giáo dục cần phải dựa trên nhu cầu thực tế của học sinh và xã hội. Đào tạo giáo viên cần được thực hiện thường xuyên để nâng cao chất lượng giảng dạy. Bên cạnh đó, việc tổ chức các hoạt động ngoại khóa cũng giúp học sinh phát triển toàn diện hơn. Các cơ quan quản lý nhà nước cần có những chính sách hỗ trợ để tạo điều kiện cho các cơ sở giáo dục thực hiện tốt nhiệm vụ của mình.

25/01/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN TỚI ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 1. Tình hình nghiên cứu có liên quan tới vấn đề quản lý nhà nước về giáo dục và quản lý nhà nước về giáo dục cấp huyện 1. Các công trình nghiên cứu quản lý nhà nước về giáo dục Sách “Giáo dục và phát triển nguồn nhân lực trong thế kỷ XXI” [32] của tác giả Trần Khánh Đức (2014). Nội dung sách bàn về hệ thống giáo dục và QLNN ở Hoa Kỳ.

“Về mặt giáo dục, Hoa Kỳ là một quốc gia điển hình theo cơ chế phi tập trung hóa, thực hiện phân cấp, phân quyền mạnh cho chính quyền địa phương các Bang và các quận giáo dục (một đơn vị về QLGD) về các mặt trong QLGD, và có tính hướng thị trường rất mạnh trong đào tạo” [33, tr. Bộ Giáo dục Hoa Kỳ không thực hiện chức năng QLNN một cách trực tiếp và toàn diện đối với toàn bộ hệ thống giáo dục liên bang. Chính quyền các bang, các quận giáo dục và nhà trường đặc biệt là các trường đại học có quyền tự chủ rất cao trong quản lý mọi mặt hoạt động của nhà trường trong khuôn khổ pháp luật. Trách nhiệm QLGD phổ thông chủ yếu thuộc về chính quyền các bang và các quận về giáo dục, là các đơn vị lãnh thổ về giáo dục.

Các cơ quan QLGD của bang có trách nhiệm và quyền hạn rất lớn trong phạm vi của bang từ xây dựng kế hoạch chiến lược phát triển giáo dục của bang cho đến phân bổ nguồn tài chính, quản lý giáo viên. Trong QLGD ở Hoa Kỳ vai trò của các cộng đồng, các cơ quan lập pháp địa phương với đại diện của nhiều tầng lớp xã hội, giới doanh nghiệp có vai trò và vị trí rất quan trọng. Các hội đồng bang có quyền lực thực sự trong việc quyết định những vấn đề phân bổ và sử dụng ngân sách giáo dục của địa phương, xem xét và thông qua các luật, các quy định có liên quan đến giáo dục của bang mình, quản lý tổ chức nhân sự của cơ quan giáo dục bang như bổ nhiệm hoặc miễn nhiệm người đứng đầu cơ quan QLGD. Tương tự như luan an 15 vậy, cơ quan QLGD quận và hiệu trưởng các trường có trách nhiệm và quyền hạn rất lớn trong điều hành, quản lý hoạt động của nhà trường trong khuôn khổ pháp luật của bang và các chuẩn mực về giáo dục [32].

Bài viết “Tìm hiểu kinh nghiệm QLNN về giáo dục của Cộng hòa Liên bang Nga và thử tìm bài học cho giáo dục Việt Nam” [57] của tác giả Nguyễn Như Ất. Về hệ thống QLGD, cơ quan QLGD cấp liên bang (Bộ Giáo dục Nga) chịu trách nhiệm đề ra các chính sách liên bang và ban hành các văn bản pháp quy trong giáo dục, cho phép thành lập, tổ chức lại, giải thể các cơ sở giáo dục; cấp văn bằng, chứng chỉ quốc gia; quy định danh mục nghề và giáo dục chuyên nghiệp; đào tạo và bồi dưỡng đội ngũ giáo viên; kiểm tra việc thực hiện Luật Giáo dục và các chuẩn Liên bang. Cơ quan QLGD địa phương có trách nhiệm: phát triển và thực hiện chính sách giáo dục phù hợp với chính sách liên bang, trợ giúp tài chính cho giáo dục bắt buộc; thực hiện chương trình phát triển giáo dục ở địa phương; ban hành các quy định và chuẩn mực ở địa phương. Những đổi mới quản lý về giáo dục của Liên Bang Nga trước hết thể hiện ở các quan điểm chiến lược thay đổi cơ chế quản lý như dân chủ hóa giáo dục, chuẩn hóa.

theo đó là các chính sách có tính giải pháp như thể chế hóa (luật hóa), phân cấp quản lý, thay đổi cách thức và tăng cường kiểm tra, đánh giá. Chuẩn hóa, cải cách hành chính về giáo dục gắn liền với pháp chế hóa là giải pháp chiến lược quan trọng thực hiện cải cách QLNN về giáo dục của Liên Bang Nga. Giao quyền tự trị cho các cơ sở trường học, phân cấp quyền tự chủ cho các cấp QLGD, các địa phương thì Nhà nước phải điều hành giáo dục thông qua và bằng pháp luật, thể hiện tính chất nhà nước công dân - pháp quyền. Nhà nước điều hành việc ủy nhiệm, trao quyền cho đơn vị giáo dục; tiến hành kiểm tra, đánh giá, xử lý bằng các biện pháp hành chính và tổ chức, tất cả đều phải có và dựa vào hành lang pháp lý.

Bởi thế phải “tiêu chuẩn hóa” và theo đó phải xây dựng đồng bộ các văn bản pháp lý theo các mức khác nhau về QLNN về giáo dục [57, tr. luan an 16 Bài viết “Phát triển giáo dục Trung Quốc trong cải cách mở cửa đầu thế kỷ XXI” trong sách Quản lý nhà nước về giáo dục - lý luận và thực tiễn [57], đã chỉ ra một số vấn đề về QLGD ở tầm vĩ mô có thể coi đó là QLNN. Hệ thống QLGD của Cộng hòa nhân dân Trung Hoa gồm bốn bậc: chính quyền Trung ương, chính quyền tỉnh (gồm cả chính quyền các khu tự trị), chính quyền thành phố và các cấp quận/huyện. “Các cấp (cơ quan) QLGD dưới sự chỉ đạo của chính phủ hoặc chính phủ phải chịu trách nhiệm về các hoạt động giáo dục trong khu vực quản lý của mình” [57, tr.

Cơ quan QLGD khác trong phạm vi quản lý của chính phủ và địa phương chịu trách nhiệm các hoạt động giáo dục trong phạm vi hành chính của mình. Bộ Giáo dục chịu trách nhiệm về các hoạt động giáo dục trên toàn quốc. Một số cơ quan (bộ/ngành) dưới sự quản lý của Hội đồng Nhà nước cũng thành lập các đơn vị quản lý chịu trách nhiệm quản lý ở những lĩnh vực giáo dục liên quan. Trung Quốc đang đi trên con đường xây dựng một hệ thống QLGD dựa trên luật pháp; nỗ lực xây dựng thể chế giáo dục quốc gia, tạo ra nền tảng pháp lý cho phát triển giáo dục [57].

“Mô hình phát triển giáo dục Nhật bản” (2014), trong đó tác giả Trần Khánh Đức [32] đã đi sâu bàn về giáo dục Nhật Bản, từ chương trình, nội dung giáo dục phổ thông, giáo dục nghề nghiệp, giáo dục đại học, đánh giá kết quả giáo dục, phát triển đội ngũ giáo viên. Từ năm 1999, hệ thống quản lý mới được thiết lập với tên gọi cơ sở quản lý độc lập, theo quyết định của Chính phủ Nhật Bản. “Theo đó một số tổ chức được đưa ra khỏi cơ chế quản lý của nhà nước trung ương với quyền tự chủ cao để nâng cao hiệu lực và hiệu quả quản trị tổ chức. Bàn về QLNN, tác giả viết “Trên cơ sở liên tục hoàn thiện hệ thống pháp luật, Nhật Bản thực hiện nhất quán chính sách phi tập trung hóa và tăng cường phân quyền trong QLGD các cấp.

Bộ Giáo dục Nhật Bản tập trung thực hiện chức năng QLNN về giáo dục trong luan an 17 hoạch định chính sách, xây dựng thể chế, ban hành chuẩn mực giáo dục và thanh kiểm tra. Chính quyền và các cơ quan QLGD địa phương, các cơ sở giáo dục có trách nhiệm và quyền hạn lớn trong quá trình quản lý và thực thi các hoạt động giáo dục trong phạm vi quản lý” [32, tr. Tác giả Trần Khánh Đức (2015) với bài viết “Đặc trưng và mô hình quản lý giáo dục ở một số nước trên thế giới” [33, tr.315-316], đã nêu khái quát đặc trưng mô hình và cơ chế QLGD ở một số nước đã chỉ ra hệ thống giáo dục và mô hình QLGD của các nước rất khác nhau và đa dạng. Mô hình QLGD của các nước chịu sự chi phối của các yếu tố như đặc điểm về thể chế chính trị - xã hội, thể chế nhà nước, chính sách quốc gia về giáo dục, cơ chế và trình độ phát triển kinh tế, truyền thống văn hoá…Đã chỉ rõ có hai loại mô hình chủ yếu về cơ chế QLGD: cơ chế quản lý tập trung, kế hoạch hoá cao và cơ chế quản lý phi tập trung hoá và định hướng thị trường ở nhiều mức độ khác nhau.

Điển hình cho cơ chế tập trung và kế hoạch hoá cao trong QLGD là mô hình QLGD của các nước xã hội chủ nghĩa; mô hình QLGD phi tập trung và định hướng thị trường là mô hình QLGD của Mỹ và một số nước khác như Cộng hoà liên bang Đức, Canađa…[33, tr. “Kinh nghiệm cho Việt Nam từ thực tiễn cải cách giáo dục đại học Hàn Quốc” (2015) của tác giả Nguyễn Thị Thu Mai, Nguyễn Thị Thanh Thủy, Lê Thị Thu Giang. Bài viết này đã trình bày sự phát triển của GDĐH của Hàn Quốc theo hai giai đoạn: Những năm 1980 đến giữa những năm 2000, từ năm 2007 đến nay và nêu ra nội dung GDĐH Hàn Quốc để cạnh tranh với thế giới – dự án Trí tuệ Hàn Quốc thế kỷ XXI. Các tác giả đã nêu một số vấn đề QLNN như Hàn Quốc đã thay đổi cách quản lý cũ sang cách quản lý mới từ tuyển sinh, trao thêm quyền tự chủ cho Nhà trường, chỉ tiêu tuyển sinh, qui trình xét tuyển, tài chính, hệ thống kiểm sát, kiểm định chất lượng đào tạo, đều nằm dưới sự kiểm soát của Nhà nước “Đặc biệt, Hàn Quốc luan an 18 sớm triển khai việc lới lỏng QLNN trong chỉ tiêu tuyển sinh đối với các trường” [63, tr.

Các tác giả đã nêu ra những tồn tại của QLNN về GDĐH Hàn Quốc như: “QLNN về GDĐH còn nhiều yếu kém và bất cập, nặng tính bao cấp. Hệ thống pháp luật và chính sách về giáo dục thiếu đồng bộ, chậm được sửa đổi, bổ sung. Quyền tự chủ của trường đại học đã được thừa nhận từ gần 10 năm nay nhưng chưa tạo ra sự chuyển biến đáng kể chủ yếu do những vướng mắc về cơ chế QLNN. Sách “Chiến lược phát triển giáo dục trong thế kỷ XXI kinh nghiệm của các quốc gia” (2002), với chủ đề Đổi mới tư duy QLNN về giáo dục trong triển khai thực hiện chiến lược giáo dục 2001-2010, cố tác giả Vũ Văn Tảo [6] sau khi nêu lên những nội dung chủ yếu QLNN về giáo dục, tác giả cho rằng: Phương hướng, bản chất cũng như hoạt động của QLNN được xác định tùy từng giai đoạn cụ thể và kết luận “Phương hướng, bản chất, nội dung đổi mới trong những điều, mục chính là kết quả của tư duy đổi mới QLNN về giáo dục, tương ứng với đổi mới QLNN về kinh tế - xã hội trong từng giai đoạn phát triển” [6, tr.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài viết "Quản lý giáo dục ở các quận Hà Nội và yêu cầu đổi mới giáo dục" của tác giả Nguyễn Thị Huệ, dưới sự hướng dẫn của TS Phạm Văn Sơn, tập trung vào việc phân tích thực trạng quản lý giáo dục tại các quận của Hà Nội và những yêu cầu cần thiết để đổi mới giáo dục trong bối cảnh hiện nay. Bài viết nhấn mạnh tầm quan trọng của việc cải cách quản lý giáo dục nhằm nâng cao chất lượng giáo dục, đáp ứng nhu cầu phát triển của xã hội. Độc giả sẽ tìm thấy những thông tin hữu ích về các phương pháp quản lý hiệu quả và các giải pháp đổi mới cần thiết để cải thiện hệ thống giáo dục.

Để mở rộng thêm kiến thức về quản lý nhà nước trong lĩnh vực giáo dục, bạn có thể tham khảo bài viết "Luận văn về quản lý nhà nước trong giáo dục và đào tạo tại Việt Nam giai đoạn hiện nay", nơi cung cấp cái nhìn tổng quan về tình hình quản lý giáo dục hiện tại. Ngoài ra, bài viết "Thạc sĩ Luật học: Quản lý nhà nước đối với cơ sở giáo dục đại học công lập - Thực trạng và giải pháp" sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về quản lý giáo dục đại học và những thách thức mà nó đang đối mặt. Cuối cùng, bài viết "Luận án tiến sĩ về quản lý bồi dưỡng cán bộ chủ chốt cấp huyện trong bối cảnh đổi mới" cũng là một nguồn tài liệu quý giá, cung cấp thông tin về việc nâng cao năng lực quản lý của cán bộ trong hệ thống giáo dục. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn sâu sắc hơn về các vấn đề quản lý giáo dục hiện nay.