CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÔNG TÁC TỔ CHỨC CÁN BỘ CỦA SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO ĐỐI VỚI TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề Triển khai các quan điểm, tư tưởng chỉ đạo đối với sự phát triển giáo dục, đã có nhiều tác giả đi sâu nghiên cứu về lý luận quản lý giáo dục và công tác xây dựng đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục. Đối với cấp độ luận văn thạc sĩ, trong những năm gần đây cũng đã có nhiều công trình đi sâu nghiên cứu về công tác xây dựng, quy hoạch và phát triển đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục các cấp của một số địa phương như: Ngô Đoàn Nguyễn: “Những giải pháp phát triển đội ngũ cán bộ quản lý trường trung học phổ thông tỉnh Bạc Liêu”. Luận văn thạc sĩ khoa học giáo dục năm 2005.
Huỳnh Thị Ẩm: “Một số giải pháp phát triển đội ngũ cán bộ quản lý trường trung học phổ thông Thành phố Hồ Chí Minh nhằm đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục phổ thông”. Luận văn thạc sĩ QLGD năm 2005. Phùng Quang Thơm: “Một số biện pháp bồi dưỡng đội ngũ hiệu trưởng trường trung học cơ sở huyện Mê Linh – tỉnh Vĩnh Phúc trong giai đoạn hiện nay”. Luận văn thạc sĩ khoa học giáo dục năm 2005.
Lưu Bích Thuận: “Quy hoạch xây dựng và phát triển đội ngũ cán bộ quản lý các trường trung học cơ sở huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang (Giai đoạn từ 2006 đến 2015)”. Luận văn thạc sĩ khoa học giáo dục năm 2006. Nguyễn Thanh Tú: “Biện pháp phát triển đội ngũ cán bộ quản lý các trường trung học cơ sở của phòng giáo dục huyện U Minh Thượng, tỉnh Kiên Giang. Luận văn thạc sĩ khoa học giáo dục năm 2008.
Đỗ Trọng Thân: “Biện pháp phát triển đội ngũ cán bộ quản lý trường trung học cơ sở huyện Bắc Mê, tỉnh Hà Giang”. Luận văn Thạc sĩ QLGD năm 2009,. Các luận văn này đi sâu vào việc nghiên cứu năng lực quản lý, chất lượng đội ngũ cán bộ quản lý và đưa ra các giải pháp như quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ quản lý,. nhằm nâng cao năng lực quản lý, kỹ năng quản lý và chất lượng đội ngũ 10 cán bộ quản lý giáo dục ở các trường trung học cơ sở, trung học phổ thông trên địa bàn của một huyện, một tỉnh cụ thể.
Các luận văn kể trên chưa có tác giả nào tập trung đi sâu vào nghiên cứu lý luận và thực tiễn về công tác tổ chức cán bộ trong đơn vị trường học, đặc biệt là công tác tổ chức cán bộ của Sở Giáo dục và Đào tạo đối với các cấp học trên địa bàn tỉnh, đây là một trong những điểm then chốt góp phần nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo, nâng cao năng lực quản lý và chất lượng đội ngũ công chức, viên chức ngành giáo dục và đào tạo của tỉnh nhà. Trên thực tế, công tác tổ chức của Sở Giáo dục và Đào tạo cũng còn những vấn đề bất cập mà chưa có một đề tài nào nghiên cứu một cách cụ thể. Nhằm nâng cao năng lực quản lý và chất lượng công chức, viên chức, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo đáp ứng được nhu cầu phát triển của giáo dục hiện nay. Sau thời gian tìm hiểu và nghiên cứu, tôi nhận thấy đề tài: “Thực trạng công tác tổ chức của Sở Giáo dục và Đào tạo đối với trường trung học phổ thông” cần được quan tâm nghiên cứu, từ đó tìm ra biện pháp cụ thể, hiệu quả hơn nhằm nâng cao chất lượng công tác tổ chức cán bộ trong việc quản lý các đơn vị trường học, đặc biệt là các trường trung học phổ thông trên địa bàn tỉnh.
Một số khái niệm cơ bản 1. Quản lý Trong nghiên cứu khoa học có rất nhiều quan niệm về quản lý, theo những cách tiếp cận khác nhau. Theo góc độ tổ chức thì quản lý là sự cai quản, chỉ huy, lãnh đạo, chỉ đạo, kiểm tra. Theo góc độ điều khiển thì quản lý là sự lèo lái, là điều khiển, điều chỉnh.
Theo cách tiếp cận hệ thống thì quản lý là sự tác động của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý nhằm tổ chức, phối hợp hoạt động của con người trong quá trình sản xuất để đạt được mục đích đã định. Quản lý là một hoạt động thiết yếu, đảm bảo phối hợp nỗ lực hoạt động của cá nhân nhằm đạt được mục tiêu của tổ chức. Trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội con người muốn tồn tại và phát triển đều phải dựa vào nỗ lực của mỗi cá nhân, mỗi tổ chức. Các Mác viết: “Tất cả mọi lao động xã hội trực tiếp hay lao động chung nào tiến hành trên quy mô tương đối lớn, thì ít nhiều cũng cần đến một sự chỉ đạo để điều 11 hòa những hoạt động cá nhân và thực hiện những chức năng chung phát sinh từ sự vận động của toàn bộ cơ thể sản xuất khác với sự vận động của những khí quan độc lập của nó.
Một người độc tấu vĩ cầm tự mình điều khiển lấy mình, còn một dàn nhạc thì cần phải có một nhạc trưởng”. Theo quan điểm này thì trong quá trình lao động con người phải có sự phân công, hợp tác với nhau, sự tổ chức phân công lao động đó chính là một chức năng quản lý, như vậy quản lý là một chức năng xã hội, xuất hiện và phát triển cùng với xã hội. Theo Bách khoa toàn thư (Liên Xô cũ): “Quản lý là chức năng của những hệ thống có tổ chức với những bản chất khác nhau, nó bảo toàn cấu trúc xác định của chúng, duy trì chế độ hoạt động. Quản lý bao gồm những công việc chỉ huy và tạo điều kiện cho những người khác thực hiện công việc và đạt được mục đích”.
Theo Từ điển Tiếng Việt 1998: “Quản lý là trông coi và giữ gìn theo những yêu cầu nhất định”. Theo tác giả Trần Kiểm, “Quản lý là nhằm phối hợp nổ lực của nhiều người sao cho mục tiêu của từng cá nhân biến thành những thành tựu của xã hội” [18,15]. Theo tác giả Vũ Hào Quang, “Quản lý chính là sự tác động liên tục có tổ chức, có ý thức hướng mục đích của chủ thể vào đối tượng nhằm đạt được hiệu quả tối ưu so với yêu cầu đặt ra” [23,105] Theo Henri Fayol (người Pháp), người đặt nền móng cho lý luận tổ chức cổ điển: “Quản lý tức là lập kế hoạch, tổ chức, chỉ huy, phối hợp và kiểm tra”.W (người Mỹ), “Quản lý là biết được chính xác điều bạn muốn người khác làm và sau đó thấy được rằng họ đã hoàn thành công việc một cách tốt và rẻ nhất”. Có nhiều cách khác nhau định nghĩa về quản lý, theo nghĩa rộng thì quản lý là hoạt động có mục đích của con người, nếu xét quản lý với tư cách là một hành động thì quản lý là sự tác động có tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản lý tới đối tượng quản lý nhằm đạt được mục tiêu đề ra”.
Quản lý là sự cộng tác có tổ chức, có định hướng của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý trong mỗi tổ chức nhằm làm cho tổ chức hoạt động và đạt được mục tiêu đặt ra. Quản lý là sự tác động, điều khiển, chỉ huy, hướng dẫn các quá trình 12 xã hội và hành vi hoạt động của con người nhằm đạt được mục đích đề ra. Quản lý còn là một quá trình tác động có mục đích vào hệ thống nhằm làm thay đổi hệ thống, thông qua các chức năng kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra để thực hiện hoạt động quản lý. Trong các định nghĩa trên, tuy cách diễn đạt khác nhau nhưng đều chứa đựng những dấu hiệu chung: Quản lý là thuộc tính bất biến nội tại của mọi quá trình, mọi hoạt động xã hội loài người.
Lao động quản lý là điều kiện quan trọng để làm cho xã hội loài người tồn tại và phát triển. Hoạt động quản lý được tiến hành trong một tổ chức hay một nhóm xã hội. Hoạt động quản lý thể hiện mối quan hệ giữa hai bộ phận gắn bó chặt chẽ với nhau: Chủ thể quản lý và đối tượng quản lý. Yếu tố con người (người quản lý và người bị quản lý) giữ vai trò trung tâm trong hoạt động quản lý.
Bản chất của quản lý: Bản chất của hoạt động quản lý là sự tác động có mục đích của người quản lý (chủ thể quản lý) đến người bị quản lý (đối tượng quản lý) nhằm đạt được mục tiêu chung. Trong đó: Chủ thể quản lý có thể là một cá nhân, một nhóm hay một tổ chức. Đối tượng quản lý là những con người cụ thể, nhóm người… Nội dung quản lý các yếu tố cần quản lý của đối tượng quản lý. Công cụ quản lý là phương tiện tác động của chủ thể quản lý tới đối tượng quản lý như: mệnh lệnh, quyết định, luật lệ, chính sách….
Phương pháp quản lý là cách thức tác động của chủ thể tới đối tượng quản lý. Mục tiêu của tổ chức được xác định theo nhiều cách khác nhau, nó có thể do chủ thể quản lý áp đặt hoặc do sự cam kết giữa chủ thể và đối tượng quản lý. Quản lý có một số đặc điểm: Quản lý là một nghệ thuật tác động vào hệ thống. Quản lý là sự thể hiện tổ hợp các biện pháp nhằm vận hành hệ thống đạt được mục tiêu đặt ra.
13 Trong quản lý, chủ thể quản lý phải sắp xếp hợp lý các hoạt động và phải có các tác động phù hợp, kết hợp giữa tri thức và kinh nghiệm quản lý để đạt được mục tiêu, đồng thời để phát huy tiềm năng của đối tượng quản lý thì phải có cơ chế quản lý đúng đắn. Để thực hiện tốt các quá trình quản lý, ngoài các điều kiện phương tiện quản lý như máy móc, thiết bị. thì nhân cách, phong cách của nhà quản lý là không thể thiếu được. Xét dưới góc độ hành động thì quản lý là sự tác động có tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản lý tới đối tượng quản lý nhằm đạt mục tiêu đề ra.
Xét dưới góc độ hoạt động thì quản lý có 4 chức năng cơ bản: Chức năng lập kế hoạch: Dự kiến các hoạt động của một quá trình, một giai đoạn hoạt động hợp lý và các điều kiện, những tình huống dự báo sẽ xảy ra và biện pháp giải quyết các tình huống đó. Chức năng tổ chức: Sự phân công, phối hợp giữa các bộ phận trong tổ chức để thực hiện các mục tiêu đặt ra. Do có chức năng này mà chủ thể quản lý có thể phối hợp, phân phối tốt nhất các nguồn lực hiện có.