Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 1. Những nghiên cứu về phát triển đội ngũ giáo viên mầm non theo hướng chuẩn hóa 1. Các công trình nghiên cứu của các tác giả ở nước ngoài Những nghiên cứu về phát triển đội ngũ giáo viên mầm non Ngay từ thời cổ đại, những tư tưởng liên quan đến phát triển ĐNGV đã bắt đầu xuất hiện thông qua các tư tưởng của các nhà giáo dục nổi tiếng trên thế giới như: Khổng Tử (551 - 479 TCN), Socrate (469 - 399 TCN), Platon (427 - 347 TCN)… Mặc dù, không trực tiếp đề cập đến phát triển ĐNGV, song thông qua tư tưởng về vị trí, vai trò của người thầy giáo đối với sự phát triển xã hội; những phẩm chất nhân cách, tri thức và phương pháp giảng dạy… mà mỗi người thầy cần phải đạt được, các ông bước đầu đã đặt ra vấn đề đòi hỏi giai cấp cầm quyền cần có những biện pháp nhằm đào tạo được nhiều người hiền tài để giúp đỡ, chỉ bảo, dẫn dắt những người khác. Đồng thời, các ông cũng đưa ra những yêu cầu, đòi hỏi bản thân những người thầy phải biết tự rèn luyện để trở thành hình ảnh mẫu mực về phẩm chất, đạo đức; nâng cao tri thức, phương pháp giáo dục hiệu quả…Những tư tưởng này được coi là bước đầu có đề cập đến phát triển ĐNGV theo hướng có chung mục đích là phát triển đội ngũ này về số lượng và chất lượng để đáp ứng thiết thực với yêu cầu của thực tiễn.
Ngày nay, không chỉ các nhà nghiên cứu mà các nhà quản lý trên thế giới đều thừa nhận nguồn nhân lực được xem là yếu tố quan trọng và có tính quyết định đối với sự phát triển của mỗi quốc gia. Trong nền kinh tế tri thức, giáo dục đóng vai trò vô cùng quan trọng; giáo dục không thể đạt chất lượng cao nếu không có ĐNGV chất lượng; nó là nhân tố quan trọng góp phần tạo nên diện mạo và chất lượng giáo dục của mỗi quốc gia. Khi đề cập đến phát triển ĐNGV, một số nghiên cứu gần đây đề cao việc thúc đẩy phát triển bền luan an 13 vững và sự thích ứng nhanh của giáo viên; và vấn đề đặt ra là họ phải thích ứng cao trước yêu cầu đổi mới.Beerens chủ trương tạo ra một nền văn hóa của sự thúc đẩy, có động lực và luôn học tập (Creating a Culture of Motivation and Learning) trong đội ngũ, coi đó là giá trị mới, yếu tố chính tạo nên nhà giáo. Theo ông, nhà giáo trước hết phải là nhà chuyên môn, đồng thời nhà giáo phải là nhà lãnh đạo (lãnh đạo hoạt động học tập của học sinh), giáo viên phải biết tự làm mới mình để có thể đảm đương được nhiệm vụ.
Đi sâu vào nghiên cứu chỉ ra các chức năng cơ bản của ĐNGV trong thế kỷ XXI, trong 2 công trình “Staff Development for Higher Education Instituitions” của tác giả Victor Minichiello viết năm 2008 [113] (Phát triển đội ngũ nhân viên cho các tổ chức giáo dục đại học); “How to Become a Lecturer” của tác giả Catherine Armstrong viết năm 2010 [108] (Làm thế nào để trở thành người giảng viên) đều xem ĐNGV là lực lượng quyết định đến chất lượng đào tạo của nhà trường. Một nhà trường danh tiếng là trường có một ĐNGV xuất sắc; và họ cho rằng, giảng viên trong thế kỉ XXI có chức năng cơ bản là nhà giáo, nhà khoa học và nhà cung ứng dịch vụ cho xã hội. Dựa trên cơ sở chỉ ra chức năng này, các tác giả đã đưa ra những yêu cầu cơ bản để phát triển ĐNGV, nhất là hình thành cho họ phẩm chất, năng lực nhằm thực hiện tốt các chức năng đó. Raja Roy Sinh (người Ấn độ) là chuyên gia giáo dục nổi tiếng của UNESCO đề cập đến giáo viên trong bối cảnh mới: “Giáo viên thực hiện sự dạy học đưa người học đến sự học tập sáng tạo”; “Quan hệ người giáo viên - người học là quan hệ của tình bạn đạo đức”.
Trên thế giới, các nhà giáo dục quan niệm: nếu chúng ta không chăm sóc lứa tuổi mầm non thì nhân cách của các em sau này sẽ có sự lệch lạc; do đó đến nay có 160 nước và các tổ chức quốc tế đã cam kết coi GDMN là một mục tiêu quan trọng của giáo dục cho mọi người. Thụy Điển coi giai đoạn mầm non là “thời kỳ vàng của cuộc đời'' và thực hiện chính sách: trường mầm non là trường tự nguyện do chính quyền địa phương quản lý, trẻ 5 tuổi có thể theo học không mất tiền, 3 tiếng/ngày. Ở New Zealand, Chính luan an 14 phủ hỗ trợ cho các loại trường GDMN dựa trên kết quả hoạt động mà các cơ sở đó đạt được. Điều kiện được nhận hỗ trợ là cơ sở GDMN phải đáp ứng được các Chuẩn do Bộ Giáo dục đưa ra.
Chính phủ hỗ trợ 50% chi phí hoạt động của các cơ sở GDMN không phân biệt cơ sở công lập hay ngoài công lập; phần còn lại do cha mẹ đóng góp. Các gia đình khó khăn về thu nhập hoặc có con ở tuổi mầm non bị khuyết tật có thể làm đơn xin miễn đóng góp. Luật hệ thống giáo dục quốc gia Indonesia xác định GDMN là giai đoạn tiền đề cho hệ thống giáo dục cơ bản. Luật Giáo dục của Thái Lan nhấn mạnh gia đình và Chính phủ phải cùng chia sẻ trách nhiệm đối với GDMN nhằm thực hiện Công ước quốc tế về quyền trẻ em.
Ở nhiều nước trên thế giới, các cơ sở GDMN đều tuyển dụng những giáo viên tốt nghiệp đại học chính quy, thạc sĩ; việc xác định sinh viên tốt nghiệp ngành mầm non hết sức ngặt nghèo, trải qua nhiều công đoạn; nếu sinh viên nào không có đủ trình độ, đạo đức nghề nghiệp, kỹ năng chăm sóc trẻ thì nhà trường không cấp bằng tốt nghiệp cho người đó. Những nghiên cứu về chuẩn hóa đội ngũ giáo viên mầm non Trong tiếng Anh có hai thuật ngữ nói về chuẩn (Từ điển Oxfrord). “Norm” được hiểu là “tiêu chuẩn quy tắc, quy phạm điển hình” trong đánh giá giáo dục. Chuẩn theo nghĩa này được xem là giá trị trung bình của nhóm đại diện trong đánh giá trên diện rộng.
Thuật ngữ “Standard” được hiểu là mức độ phẩm chất đòi hỏi, mong đợi đạt được. Hoa Kỳ là quốc gia đi tiên phong trong xây dựng chuẩn. Ủy ban quốc gia chuẩn nghề dạy học được thành lập năm 1987, đã đề xuất 5 điểm cốt lõi để các bang vận dụng: (1) Giáo viên phải tận tâm với học sinh và việc học; (2) Giáo viên phải làm chủ môn học, biết cách dạy môn học của mình và liên hệ với các môn học khác; (3) Giáo viên phải trách nhiệm trong giảng dạy, quản lý kiểm tra, đánh giá việc học của học sinh; (4) Giáo viên phải thường xuyên suy nghĩ sáng tạo, phát triển kinh nghiệm nghề nghiệp; (5) Giáo viên phải là thành viên đáng tin cậy của cộng đồng học tập, biết cộng tác đồng luan an 15 nghiệp, hợp tác với cha mẹ học sinh. Dựa vào 5 đề xuất cốt lõi đó, mỗi bang ở Mỹ xây dựng chuẩn nghề nghiệp dạy học, có 4 lĩnh vực: (1) Kiến thức nghề nghiệp; (2) Thực hành nghề nghiệp; (3) Giá trị nghề nghiệp; (4) Quan hệ nghề nghiệp.
Trên cơ sở khung quốc gia, các bang xây dựng chuẩn nghề nghiệp. Tuy nhiên, các bang không nhất thiết xây dựng cả 4 lĩnh vực, chỉ 2 lĩnh vực đầu là giống nhau, các lĩnh vực sau không giống nhau. Ví dụ bang Wetern Australia có 3 lĩnh vực, lĩnh vực 3 lấy tên là “ Sự cam kết”; còn ở New South Wales cũng chỉ có 3 lĩnh vực, trong đó lĩnh vực 3 có tên “ Sự tận tụy”. Cộng hòa Liên bang Đức, theo nghị quyết của Hội nghị Bộ trưởng Văn hóa giáo dục các bang trong Liên bang (2004) thì Chuẩn đào tạo giáo viên là những yêu cầu mà mọi giáo viên phải đáp ứng.
Những nét chính về hình ảnh nghề nghiệp của giáo viên là: (1) Giáo viên là những chuyên gia về dạy và học. Nhiệm vụ chủ yếu của họ là xây dựng kế hoạch, tổ chức thực hiện và đánh giá quá trình dạy học; (2) Giáo viên phải có ý thức gắn bó chặt chẽ nhiệm vụ dạy học với cuộc sống nhà trường; (3) Giáo viên thực thi nhiệm vụ đánh giá và tư vấn một cách công bằng, trách nhiệm. Vì vậy cần phải có trình độ cao về sư phạm tâm lý và chẩn đoán; (4) Giáo viên liên tục phát triển các năng lực nghề nghiệp của mình, tận dụng mọi cơ hội để theo kịp các phát triển mới trong hoạt động nghề nghiệp; (6) Giáo viên tham gia xây dựng một nền văn hóa học đường khuyến khích học tập. Các nước đề cập đến chuẩn nghề nghiệp giáo viên tựu trung lại đề cập đến các yêu cầu: Lĩnh vực chuyên môn, nghiệp vụ, đạo đức.
Với những giáo viên có nhiều năm kinh nghiệm, giáo viên mới.mức độ đánh giá có khác nhau. Chuẩn nghề nghiệp đều đòi hỏi năng lực, phương pháp giáo dục, đạo đức nghề nghiệp của người giáo viên. Về mặt chất lượng của nhà giáo, một số nghiên cứu của các thành viên OECD (Tổ chức Hợp tác Phát triển Châu Âu) cũng đã chỉ ra các mặt: Kiến thức phong phú về nội dung chương trình và nội dung bộ môn mình dạy; kỹ năng sư phạm, kể cả việc có được “kho kiến thức” về phương pháp dạy học luan an 16 và về năng lực sử dụng những phương pháp đó; có tư duy phê phán trước mỗi vấn đề và năng lực tự phê, nét đặc trưng của nghề dạy học; biết tôn trọng và cam kết tôn trọng phẩm giá của người khác; có năng lực quản lý, kể cả trách nhiệm quản lý trong và ngoài lớp học.Như vậy các nghiên cứu trên về chuẩn giáo viên, trong đó bao hàm cả giáo viên mầm non.