Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TẠO ĐỘNG LỰC LÀM VIỆC CHO VIÊN CHỨC CÁC TRƯỜNG THCS 1. Tổng quan về tạo động lực làm việc cho viên chức các trường THCS 1. Khái niệm động lực, động lực làm việc và tạo động lực làm việc 1.1 Động lực Động lực là thuật ngữ không mới, được sử dụng khá phổ biến trong khoa học cũng như trong đời sống kinh tế - xã hội hiện nay. Cho đến nay, có rất nhiều quan điểm, khái niệm và định nghĩa khác nhau về động lực.
Tùy theo cách thức tiếp cận, mỗi tác giả đều đã đưa ra những quan niệm riêng của mình về động lực. - Các tác giả nước ngoài: Tác giả Fernald L.D (2008) cho rằng “động lực chính là cái được tạo ra từ cảm xúc, nhưng không phải một cách trừu tượng và chung chung, mà khi có động lực là có tính mục tiêu và tính định hướng, được quyết định bởi sự tăng hay giảm của cảm xúc. Ở góc độ này, ông đã xác định động lực là quá trình tâm lý gây ra các kích thích, chỉ đạo và định hướng hành vi, thái độ. Theo Vroom (1964), động lực không những là một quá trình mà còn nhấn mạnh tính tự nguyện lựa chọn của hành vi khi định nghĩa động lực "Động lực là một quá trình lựa chọn bởi mỗi người hoặc của một tổ chức trong việc tự nguyện thực hiện các hành vi để đạt được mục tiêu” [27, tr.
Dưới góc độ quản trị học, nhiều tác giả nước ngoài đã có nhiều quan niệm động lực. Điển hình là Higgins (1994), ông cho rằng, động lực là lực đẩy bên trong mỗi cá nhân để đáp ứng các nhu cầu chưa được thỏa mãn. - Các tác giả trong nước: Tác giả Nguyễn Vân Điềm và Nguyễn Ngọc Quân (2007) cho rằng “động lực là cái thúc đẩy, là cái gia tăng sự phát triển, có khả năng khơi dậy tính tích cực của chủ thể và xác định tính xu hướng của nó” [7, tr. Tác giả Nguyễn Thị Hồng Hải (2013), đã khái quát: “động lực là những nhân tố bên trong kích thích con người nỗ lực làm việc trong điều kiện cho phép, tạo ra năng suất, hiệu quả cao” [9, tr.
9 Như vậy, mặc dù có nhiều cách tiếp cận khác nhau về động lực làm việc tuy nhiên theo tác giả, có thể hiểu cơ bản nhất về động lực làm việc như sau: Động lực là sự thúc đẩy từ bên trong chủ thể hoặc do sự tác động từ bên ngoài tới chủ thể nhằm kích thích, thôi thúc, động viên khiến họ tự nguyện nỗ lực, phấn đấu vì mục tiêu của mình và của tổ chức.2 Động lực làm việc Có rất nhiều các khái niệm cũng như quan điểm về động lực làm việc được đưa ra, nhưng nhìn chung những khái niệm, những quan điểm ấy đều đề cập đến bản chất của động lực làm việc. Theo giáo trình quản trị nhân lực, động lực lao động “là sự khao khát và tự nguyện của người lao động nhằm hướng tới việc đạt mục tiêu của tổ chức” [10, tr. Còn theo giáo trình tổ chức hành vi, động lực của người lao động “ là những nhân tố bên trong kích thích con người nỗ lực làm việc trong điều kiện cho phép tạo ra năng suất, hiệu quả cao. Biểu hiện của động lực lao động là sự sẵn sàng nỗ lực, say mê làm việc nhằm đạt được mục tiêu của tổ chức cũng như bản thân người lao động” [18, tr.
Như vậy, có thể nói động lực làm việc là sự thôi thúc, kích thích khiến cho con người nỗ lực làm việc để đạt được những hiệu quả cao nhất cho công việc. Động lực chỉ được tạo ra thông qua cơ chế tác động và kích thích có điều kiện nhằm thoả mãn nhu cầu của người lao động làm nảy sinh động lực, vậy muốn có động lực thì phải tạo ra động lực. Vậy tạo động lực làm việc là gì? 1.3 Tạo động lực làm việc Động lực là yếu tố xuất phát từ bên trong nội tại của mỗi cá nhân người lao động. Vì vậy, để xuất hiện động lực làm việc thì phải tìm cách tạo ra được những động lực đó.
Xung quanh vấn đề tạo động lực cũng có nhiều quan niệm khác nhau. Theo tác giả Bùi Anh Tuấn (2003), “tạo động lực lao động được hiểu là hệ thống các chính sách, biện pháp, thủ thuật quản lý tác động đến người lao động nhằm làm cho người lao động có động lực trong làm việc” [18, tr. Tác giả Nguyễn Thị Phương Lan (2015), cho rằng: “tạo động lực là quá trình sử dụng tổng hợp cách thức, biện pháp nhằm khuyến khích, động viên, khơi dậy niềm khát khao, tinh thần 10 tự giác, tự nguyện của người lao động để họ nỗ lực, phấn đấu cho mục tiêu hoàn thành công việc được giao với kết quả tốt nhất, qua đó góp phần nâng cao năng suất, hiệu quả, sự thành công của tổ chức” [13, tr. Như vậy, mỗi tác giả đều có những định nghĩa khác nhau về tạo động lực làm việc, tuy nhiên cả hai tác giả đều thống nhất tạo động lực làm việc là việc sử dụng những biện pháp hợp lý để tạo ra động lực làm việc cho người lao động.
Theo tác giả, tạo động lực là quá trình vận dụng các biện pháp để khơi dậy tinh thần tự giác, tự nguyện của người lao động để họ hăng say, gắn bó và nỗ lực cho mục tiêu của tổ chức nhằm góp phần nâng cao hiệu quả làm việc của tổ chức.2 Tạo động lực làm việc cho viên chức các trường THCS 1.1 Tạo động lực làm việc cho VC trong đơn vị sự nghiệp GD công lập - VC trong đơn vị sự nghiệp giáo dục công lập Theo Điều 2 Luật Viên chức năm 2010 quy định: “Viên chức là công dân Việt Nam được tuyển dụng theo vị trí việc làm, làm việc tại đơn vị sự nghiệp công lập theo chế độ hợp đồng làm việc, hưởng lương từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật” [14, tr. VC làm việc theo chế độ hợp đồng làm việc và hưởng lương từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp giáo dục công lập theo quy định của pháp luật. Theo quy định, VC phải là những người làm việc tại đơn vị sự nghiệp công lập. Tại Khoản 1, Điều 9 của Luật Viên chức năm 2010 quy định rõ: “Đơn vị sự nghiệp công lập là tổ chức do cơ quan có thẩm quyền của Nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội thành lập theo quy định của pháp luật, có tư cách pháp nhân, cung cấp dịch vụ công, phục vụ quản lý nhà nước” [14, tr.
Như vậy, có thể hiểu, viên chức đơn vị sự nghiệp giáo dục công lập là viên chức làm việc ở các trường học, các tổ chức do cơ quan có thẩm quyền của Nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội thành lập theo quy định của pháp luật, có tư cách pháp nhân, cung cấp dịch vụ giáo dục, phục vụ quản lý nhà nước về giáo dục. - Tạo động lực cho VC trong đơn vị sự nghiệp giáo dục công lập: VC làm việc trong các đơn vị sự nghiệp giáo dục công lập mang trong mình sứ mệnh quan trọng khi rèn đức, luyện tài góp phần xây dựng nguồn nhân lực có phẩm chất, trình độ cho 11 đất nước. Đây là mục tiêu, ý nghĩa gắn liền với phục vụ cộng đồng, phục vụ xã hội. Chính điều này đã tạo nên sự khác biệt căn bản trong động lực làm việc của VC giáo dục so với các ngành nghề khác của khu vực tư nhân.
Theo tác giả, tạo động lực làm việc của viên chức đơn vị sự nghiệp giáo dục công lập là sự vận dụng hệ thống các chính sách, biện pháp, thức quản lý tác động tới VC nhằm kích thích khả năng lao động và sáng tạo trong công việc cuả họ.2 Tạo động lực làm việc cho VCGV các trường THCS VC trong đơn vị sự nghiệp giáo dục công lập có thể được phân thành các loại khác nhau phù hợp với mục đích sử dụng khác nhau. Mỗi loại VC có những tiêu chuẩn, yêu cầu khác nhau phù hợp với vị trí việc làm mà họ đảm nhận. Chính vì vậy, bản thân mỗi VC đều có những động lực xuất phát từ nhu cầu và môi trường làm việc khác nhau. Viên chức làm việc tại các trường THCS trên địa bàn quận 1 TP.
HCM được chia thành 2 khối cơ bản: VC khối hành chính và VC là GV. Thực tế, viên chức làm việc trong các trường THCS chủ yếu là giáo viên và hoạt động giảng dạy của loại hình VC này có ảnh hưởng lớn đến kết quả hoạt động của các trường THCS. Vì vậy, trong khuôn khổ luận văn này, tác giả xin tập trung luận bàn về tạo động lực cho VCGV các trường THCS để có thể tìm hiểu cụ thể hơn về thực trạng động lực làm việc của họ và từ đó dựa trên nền tảng cơ sở này để đề xuất các giải pháp hiệu quả và phù hợp nhất đối với công tác tạo động lực làm việc cho VCGV các trường THCS trên địa bàn quận 1, TP. Từ đây, các vấn đề liên quan đến viên chức được trình bày trong luận văn, tác giả đều ngụ ý đến VC là giáo viên.
Để tìm hiểu về hoạt động tạo động lực cho VCGV các trường THCS trên địa bàn quận 1, trước hết cần làm rõ đặc điểm công vụ của loại hình viên chức này. - Đặc điểm công vụ của VCGV trong các trường THCS VCGV THCS có những đặc điểm cơ bản của các các viên chức làm trong các đơn vị sự nghiệp công lập khác. Tuy nhiên do đặc thù nghề nghiệp, VCGV trong các trường THCS cũng có những đặc điểm công vụ rất riêng biệt được thể hiện cụ thể thông qua các tiêu chí như sau: 12 + Chế độ làm việc: Thời gian lên lớp của VCGV THCS vừa linh hoạt nhưng cũng khá cố định. Sở dĩ có đặc điểm như vậy vì VCGV THCS giảng dạy theo tiết, theo thời khóa biểu.
Tuy nhiên trong quỹ thời gian đứng lớp, VCGV lại hoàn toàn có thể chủ động. Điều này, dẫn đến thực trạng đôi khi một số bộ phận VCGV có thể sử dụng chưa đúng và chưa phù hợp với yêu cầu về sử dụng thời gian trong thời gian thực hiện công vụ của mình. + Lương và các khoản phụ cấp, phúc lợi: VCGV THCS là một loại hình viên chức làm việc trong đơn vị sự nghiệp công lập được ưu đãi lớn về lương.