Chương 1 CƠ SƠ LÍ LUẬN VỀ QUẢN LÍ CÔNG TÁC XÃ HỘI HÓA GIÁO DỤC Ở CÁC TRƯỜNG TIỂU HỌC 1. Tổng quan về nghiên cứu 1. Những nghiên cứu ở nước ngoài Các nước phát triển trên thế giới đều coi trọng chính sách XHHGD nhất là XHHGD trong xây dựng trường học, tạo mọi điều kiện thuận lợi cho giáo Luan van 8 dục phát triển và quan tâm sâu sắc đến hiệu quả giáo dục mang lại cho nền kinh tế - xã hội. Nhiều quốc gia chú trọng phát huy sức mạnh tổng hợp của xã hội trong cải cách giáo dục để bảo đảm ai cũng học tập, ai cũng được hưởng thụ giáo dục, ai cũng tham gia đóng góp để phát triển giáo dục.
Trên thế giới nhiều nước phát triển như Mỹ, Hàn Quốc, Nhật, Trung Quốc, Singapore, Úc. trong chương trình cải cách giáo dục và trong chiến lược phát triển giáo dục của họ đều chú trọng tạo môi trường giáo dục năng động, phong phú, coi giáo dục gắn bó với phát triển và khẳng định giáo dục là động lực của sự phát triển kinh tế - xã hội. Năm 1947, Nhật Bản đặt giáo dục vào vị trí hàng đầu của các chính sách quốc gia. Nhật Bản đẩy mạnh cải tổ hệ thống giáo dục nhằm tạo ra một hệ thống giáo dục mở với mục đích tạo cho học sinh lòng ham học, tự chủ trong suy nghĩ, phát triển những năng lực khác nhau nhằm tạo cơ hội thích hợp với nhu cầu học tập và nghề nghiệp của học sinh, luôn dành cho địa phương và nhà trường quyền tự chủ.
Năm 1971, Nhật Bản thành lập Bộ giáo dục, đề ra chính sách: Đối với các trường tiểu học bắt buộc thì "sự bình đẳng'' là nguyên tắc tối cao. Còn đối với các trường sơ trung và cao trung thì nguyên tắc "tài năng" là cao nhất. Quan điểm này không những xoá bỏ sự bất bình đẳng trong xã hội về giáo dục, mà còn tạo ra cơ hội cho sự phát triển tiềm năng của con người. Trong nền giáo dục của Nhật Bản, họ luôn đầu tư cơ sở vật chất nhất là xây dựng trường lớp khang trang, đủ phương tiện giảng dạy do đó giáo dục của Nhật Bản luôn luôn phát triển bền vững.
Một số nước châu Âu như Anh và Đức trước đây, cũng như một số nước xã hội chủ nghĩa (Liên Xô cũ, Trung Quốc trước năm 1998, và cả Việt Nam trong thập kỷ 60-90 của thế kỷ XX) cũng bao cấp tất cả cho giáo dục. Tuy nhiên, trong những thập kỷ gần đây, quá trình đại chúng hóa giáo dục cùng với chi phí tăng cao dành cho việc đào tạo và nghiên cứu đã dẫn đến một hệ quả không thể tránh khỏi là chính sách bao cấp ấy phải thay đổi. “Con người là trung tâm của sự phát triển”, đây là quan điểm hiện nay của nhiều nước trên Luan van 9 thế giới. Nên cách đánh giá về vị trí, vai trò và phương pháp làm giáo dục đã có sự khác biệt: Trung Quốc đã xác định “Đặt giáo dục lên vị trí chiến lược ưu tiên phát triển… đây là kế hoạch lớn cơ bản để thực hiện hiện đại hóa”.
Ấn Độ cho rằng “Huy động xã hội tham gia công tác giáo dục gắn với phát triển nông thôn, tập trung cho việc phổ cập giáo dục tiểu học thông qua liên kết đào tạo nghề, tìm việc làm với nâng cao trình độ văn hóa phổ thông,… huy động cộng đồng phát triển giáo dục phi chính quy”. Để xây dựng xã hội học tập, Chính phủ Nhật Bản đã lập ra Ủy ban Quốc gia về giáo dục suốt đời trong đó chú trọng xây dựng trường lớp, đủ cơ sở vật chất phục vụ cho việc giảng dạy. Ở Nhật Bản có hai hệ giáo dục: Giáo dục nhà trường và giáo dục xã hội. Giáo dục nhà trường chính là hệ giáo dục ban đầu, gồm trường mẫu giáo, trường phổ thông và các loại hình trường đào tạo nghề từ trung cấp đến đại học.
Nhật Bản rất quan tâm đến hệ giáo dục xã hội (giáo dục tiếp tục) vì đây là hệ giáo dục có tác dụng quan trọng trong việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Đối với Hàn Quốc, vai trò tư nhân trong giáo dục là nhân tố quan trọng thúc đẩy nền giáo dục phát triển mạnh mẽ, tạo ra sự công bằng, dân chủ trong thụ hưởng chính sách giáo dục. Hàn Quốc tập trung mạnh các nguồn lực xã hội cho giáo dục dựa trên đầu tư của nhà nước kết hợp với nguồn lực của tư nhân nên trường lớp của Hàn Quốc luôn đáp ứng cho sự phát triển của giáo dục. Hàn Quốc cũng là một nước có nền giáo dục phát triển bền vững do họ có sự đầu tư trong xây dựng trường học có đủ cơ sở vật chất để phục vụ cho giảng dạy.
Ở Inđônêxia, ngoài hệ thống giáo dục nhà trường, còn coi trọng các loại hình giáo dục ngoài nhà trường: ở gia đình, xã hội, các doanh nghiệp, các trường đại học mở, phục vụ nhu cầu học tập đa dạng của nhân dân. Chính phủ Hoa Kỳ đầu tư mạnh cho hiện đại hoá giáo dục, thực hiện mục tiêu học tập suốt đời và đề cao việc học để đạt trình độ học vấn cao. Để đạt được điều này, một trong những giải pháp quan trọng là Chính phủ chủ Luan van 10 trương đa dạng hoá các loại hình trường học trong đó đầu tư xây dựng trường học là hàng đầu nhằm thực hiện tốt chiến lược phát triển giáo dục đồng thời dựa trên nền tảng công nghệ thông tin, đón đầu sự phát triển của nền kinh tế thế giới trong thế kỷ XXI. Chính phủ Vương quốc Thái Lan đã và đang thực hiện chính sách đa dạng hoá các loại hình đào tạo, đào tạo nghề nghiệp - kỹ thuật, tổ chức nhiều loại hình nghề nghiệp chính quy và phi chính quy để thích ứng với nhu cầu nhân lực của thị trường lao động trong quá trình phát triển đất nước, Chính phủ Vương quốc Thái Lan hiện cũng đang đầu tư cơ sở vật chất cho ngành giáo dục trong đó chú trọng XHHGD trong xây dựng trường học.
Từ đó chúng ta thấy mỗi nước có một đặc điểm riêng về kinh tế xã hội nhưng đều có điểm chung trong phương thức XHHGD; huy động mọi tiềm lực của cộng đồng cho giáo dục và vấn đề XHHGD ở mỗi quốc gia là sự lựa chọn có tính chất quyết định cho các mô hình phát triển độc đáo của mình. Những nghiên cứu trong nước Giáo dục là một phạm trù vĩnh cửu: Giáo dục sinh ra cùng với loài người, tồn tại và phát triển cùng với loài người. Chức năng đầu tiên, chức năng nguyên thủy của giáo dục là xã hội hóa. Trong giáo dục tất cả mọi cái đều mang tính xã hội, bất kỳ xã hội nào cũng đều là xã hội hóa giáo dục.
Thế kỷ XI (1070) thời Nhà Lý - vua Lý Thánh Tông rất quan tâm đến GD & ĐT, ông cho xây dựng Quốc Tử Giám để đào tạo hiền tài. Thế kỷ XVIII - vua Quang Trung - Nguyễn Huệ cũng đã nói: “Dựng nước, trước tiên phải lo việc học” (Luật Giáo dục, 2005). Chủ tịch Hồ Chí Minh dạy rằng: “Giáo dục phải cung cấp cho cán bộ kinh tế, kinh tế tiến bộ thì giáo dục mới tiến bộ được. Nếu kinh tế không phát triển thì giáo dục cũng không phát triển được.
Giáo dục không phát triển thì không có đủ cán bộ kinh tế phát triển. Hai việc đó liên quan mật thiết với nhau” (Điều lệ trường Tiểu học, 2010). Dưới thời phong kiến và Pháp thuộc, giai cấp thống trị và thực dân mở rất ít trường học, chủ yếu trường học được mở ra cho con em quý tộc phong Luan van 11 kiến và con nhà giàu. Con em người lao động không được chính quyền quan tâm, người dân muốn được học phải tự lo dưới hình thức học ở trường tư do các thầy đồ tự mở lớp.
Đến khi đất nước độc lập, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ra Lời kêu gọi chống nạn thất học. Trong lời kêu gọi, Người đã nêu rõ phương châm, nhiệm vụ chống nạn thất học, chống nạn mù chữ “Những người đã biết chữ hãy dạy cho những người chưa biết chữ,. những người chưa biết chữ hãy gắng sức mà học cho biết, vợ chưa biết chữ thì chồng bảo, em chưa biết chữ thì anh bảo, cha mẹ chưa biết thì con cái bảo, người ăn người làm chưa biết chữ thì chủ nhà bảo; các người giàu có thì mở lớp học tư gia dạy cho những người chưa biết chữ”. Từ khi nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (02/09/1945) ra đời, Đảng và Nhà nước ta quyết tâm xây dựng nền giáo dục Việt Nam mới: Nền giáo dục của toàn dân.
Nhưng trong 30 năm chống Pháp và đế quốc Mỹ (1945 - 1975) với cơ chế tập trung, quan liêu, bao cấp, đất nước và nền giáo dục rơi vào khủng hoảng, giáo dục không thật sự là sự nghiệp của toàn dân, bản chất xã hội của giáo dục không được quan tâm và phát huy, cơ sở vật chất trường lớp chủ yếu là nhà tranh vách đất chưa được đầu tư thỏa đáng để đáp ứng nhu cầu học tập của xã hội. Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng khẳng định: “Đẩy mạnh xã hội hóa giáo dục và đào tạo. Rà soát, sắp xếp lại mạng lưới các trường đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp và dạy nghề. Đổi mới cơ chế quản lí, nâng cao chất lượng các trường công lập; bổ sung chính sách ưu đãi để phát triển các trường ngoài công lập và các trung tâm giáo dục cộng đồng” (Chính phủ, 2005).
Trên cơ sở quan điểm của Đảng, Chính phủ ban hành Nghị quyết số 90 ngày 21 tháng 8 năm 1997 về phương hướng và chủ trương xã hội hóa các hoạt động giáo dục nhằm cụ thể hóa chủ trương, nội dung, biện pháp xã hội hóa hoạt động GD&ĐT, trong đó chú trọng xây dựng mở rộng trường lớp, lầu hóa trường học nhằm để đáp ứng cho việc học tập của con em chúng ta. Luan van 12 Ngày 18 tháng 04 năm 2005 Chính phủ ban hành Nghị quyết số 05/2005/NQ-CP về đẩy mạnh xã hội hóa các hoạt động giáo dục. Ngày 24/6/2005, Bộ GD& ĐT đã ban hành quyết định số 20/2005/QĐ-BGD&ĐT phê duyệt đề án “Quy hoạch phát triển XHHGD giai đoạn 2005 - 2010” trong đó chú trọng xây dựng trường lớp để đảm bảo đủ cơ sở vật chất nhằm nâng cao chất lượng đào tạo (Báo cáo chính trị, 2015). Bên cạnh chủ trương của Đảng, chính sách của Nhà nước nêu trên, các nhà khoa học, các nhà quản lí giáo dục ở nước ta đã nêu lên một số luận điểm quan trọng.
Phạm Minh Hạc, khẳng định: “Xã hội hóa công tác giáo dục, một con đường phát triển giáo dục nước ta.