MỞ ĐẦU Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng nhấn mạnh: “Nhiệm vụ giáo dục là rất quan trọng và vẻ vang, nếu không có thầy giáo thì không có giáo dục, không có giáo dục, không có cán bộ thì không nói gì đến kinh tế - văn hóa”, vì vậy nhà giáo “Phải luôn ra sức thi đua công tác và học tập để không ngừng nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ” [49]. Trong giáo dục hiện đại, sự xuất hiện ngày càng nhiều hình thức và phƣơng tiện giảng dạy tiên tiến đã làm thay đổi đáng kể cách thức truyền đạt tri thức của ngƣời giáo viên (GV). Vai trò của ngƣời GV, từ vị trí trung tâm của quá trình dạy học đƣợc chuyển dần theo hƣớng tổ chức và hƣớng dẫn ngƣời học. Học sinh (HS), sinh viên (SV) trở thành trung tâm của quá trình dạy học, dƣới sự hƣớng dẫn của GV, chủ động tìm tòi, khám phá để chiếm lĩnh tri thức và kỹ năng nghề nghiệp.
Điều đó đòi hỏi ngƣời GV phải giỏi cả về chuyên môn và nghiệp vụ sƣ phạm (NVSP), có khả năng thích ứng với những thay đổi của nghề nghiệp và xã hội để có thể phát huy đƣợc cao nhất vai trò và ảnh hƣởng của mình trong hoạt động dạy học. Năng lực sƣ phạm (NLSP) là loại hình năng lực đặc trƣng cho lĩnh vực hoạt động nghề nghiệp của nhà giáo, đƣợc hình thành và phát triển thông qua quá trình đào tạo ban đầu (đào tạo của nhà trƣờng sƣ phạm) và quá trình tự học, tự rèn luyện trong thực tiễn giáo dục. NLSP đƣợc cấu thành từ tổ hợp các phẩm chất và năng lực sau: Phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống; năng lực tìm hiểu đối tƣợng và môi trƣờng giáo dục; năng lực dạy học; năng lực giáo dục; năng lực hoạt động chính trị xã hội; năng lực phát triển nghề nghiệp [17], [25]. Nội hàm NLSP đƣợc cụ thể hóa thành các tiêu chuẩn, tiêu chí của chuẩn nghề nghiệp GV, phản ánh yêu cầu của xã hội mà ngƣời GV phải đáp ứng để thực hành có hiệu quả chức năng giáo dục và đào tạo thế hệ trẻ.
Để đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục, công tác đào tạo GV của các nhà trƣờng sƣ phạm trong những năm vừa qua đã đạt đƣợc những thành tựu rất đáng trân trọng. 2 Số lƣợng nhà trƣờng cao đẳng sƣ phạm (CĐSP) và đại học sƣ phạm (ĐHSP) tăng nhanh trong phạm vi cả nƣớc, đến năm 2016, có 76 nhà trƣờng có chức năng đào tạo GV các cấp cho bậc học phổ thông (34 trƣờng ĐHSP và khoa sƣ phạm trong các trƣờng đại học đa ngành, 42 trƣờng CĐSP và khoa sƣ phạm trong các trƣờng cao đẳng đa ngành), đƣợc phân bố trong hầu hết 63 tỉnh, thành [24]. Số lƣợng nhà trƣờng và hình thức đào tạo Trung cấp sƣ phạm đã cơ bản đƣợc nâng cấp thành các trƣờng CĐSP; loại hình và chuyên ngành đào tạo đƣợc mở rộng nhằm đáp ứng nhu cầu về GV các bộ môn mới và đặc thù của giáo dục phổ thông; công tác đào tạo lại, đào tạo nâng cấp không ngừng đƣợc củng cố và hoàn thiện nhằm đáp ứng yêu cầu về chuẩn trình độ GV. Chuẩn đầu ra của chƣơng trình đào tạo GV luôn đƣợc cập nhật, bám sát quy định chuẩn nghề nghiệp GV và chuẩn trình độ của các quốc gia có nền giáo dục hiện đại, nhằm tiến tới một nền giáo dục tiên tiến và hội nhập sâu, rộng [20]; [40].
Đội ngũ giảng viên trong các nhà trƣờng sƣ phạm hầu hết đã đƣợc chuẩn hóa về trình độ đào tạo; cơ cấu giảng viên có trình độ tiến sĩ tăng nhanh về số lƣợng và loại hình chuyên môn; cơ sở vật chất phục vụ hoạt động đào tạo không ngừng đƣợc bổ sung và hiện đại hóa [18]. Bên cạnh những thành tựu đó, thực tiễn đào tạo của hệ thống các nhà trƣờng sƣ phạm còn những tồn tại căn bản: Chất lƣợng và hiệu quả đào tạo còn thấp so với yêu cầu; công tác tổ chức đào tạo thiếu sự liên thông giữa các trình độ và giữa các phƣơng thức giáo dục, thiếu gắn kết với nghiên cứu khoa học và nhu cầu của thị trƣờng lao động; giáo dục đạo đức, lối sống và kỹ năng làm việc cho SV chƣa đƣợc chú trọng đúng mức. Quy định chuẩn nghề nghiệp GV chƣa thực sự trở thành định hƣớng trong đổi mới nội dung và tổ chức đào tạo của các nhà trƣờng, công tác xây dựng chuẩn đầu ra chƣa tiến hành đồng bộ với hoạt động đổi mới chƣơng trình đào tạo, phát triển NLSP cho SV chƣa đƣợc quan tâm đúng mức cả về nội dung và tổ chức đào tạo [10]; [54]. Phát triển NLSP cho SV còn nặng về lý thuyết, nhẹ về thực hành, SV ra trƣờng chậm thích nghi với diễn biến đổi mới giáo dục phổ thông, nhà trƣờng 3 phổ thông và thực tiễn giáo dục chƣa thực sự trở thành môi trƣờng để phát triển NLSP cho SV một cách có hiệu quả [23].
Những tồn tại đó đã hạn chế đáng kể chất lƣợng đào tạo của các nhà trƣờng sƣ phạm nói chung, trƣờng ĐHSP Hà Nội 2 nói riêng. Đã có một số đề tài nghiên cứu về NLSP và vấn đề phát triển NLSP cho sinh viên. Tuy nhiên, chƣa có đề tài nào nghiên cứu vấn đề đó trong bối cảnh đổi mới giáo dục phổ thông theo hƣớng căn bản và toàn diện, cùng với một điều kiện đặc biệt, từ năm học 2011- 2012, trƣờng ĐHSP Hà Nội 2 thực hiện chuyển đổi hình thức đào tạo từ đào tạo niêm chế sang đào tạo theo học chế tín chỉ, một thay đổi có tính chất bƣớc ngoặt trong công tác đào tạo của nhà trƣờng. Khoa Giáo dục thể chất trƣờng ĐHSP Hà Nội 2 là một trong 13 khoa và bộ môn trực thuộc trƣờng, có nhiệm vụ biên soạn chƣơng trình, giáo trình đào tạo và giảng dạy SV ngành GDTC cũng nhƣ bộ môn GDTC cho SV khối không chuyên đáp ứng đào tạo theo hệ thống tín chỉ của nhà trƣờng.
Tuy nhận đƣợc rất nhiều quan tâm từ phía lãnh đạo nhà trƣờng, song khoa GDTC trƣờng ĐHSP Hà Nội 2 vẫn tồn tại một số khó khăn nhất định trong quá trình đào tạo. Sau 5 năm thành lập và đào tạo ghép môn ngành Sƣ phạm TDTT - GDQP, năm học 2012 - 2013, khoa GDTC trƣờng ĐHSP Hà Nội 2 đƣợc giao nhiệm vụ đào tạo SV ngành GDTC. Nhiệm vụ mới đặt ra cho Ban chủ nhiệm khoa cũng nhƣ các thầy cô trong khoa rất nhiều khó khăn và thách thức trong khi xã hội ngày càng phát triển, chất lƣợng giáo dục ngày càng đƣợc nâng cao, NLSP của ngƣời GV ngày càng đƣợc quan tâm. Nhận thức đƣợc vai trò và trách nhiệm của mình, tập thể cán bộ của khoa đã không ngừng học tập, nghiên cứu để có những giải pháp tốt nhất nâng cao chất lƣợng đào tạo của khoa.
Trong đó, vấn đề NLSP của ngƣời GV đƣợc lãnh đạo khoa đặc biệt quan tâm, coi đó là phần cốt lõi tạo nên thƣơng hiệu đào tạo của khoa cũng nhƣ của nhà trƣờng. Vấn đề phát triển NLSP cho sinh viên ngành GDTC tuy không mới nhƣng đặt trong các điều kiện: trƣớc yêu cầu của đổi mới giáo dục phổ thông theo hƣớng căn bản và toàn diện, trƣớc bối cảnh đổi mới phƣơng thức đào tạo của nhà trƣờng và trƣớc nhiệm vụ đào tạo chuyên ngành 4 riêng của khoa thì chƣa có bất kì một tác giả hay một đề tài nào đề cập đến. Đây đƣợc coi là một vấn đề cấp thiết đặt ra cho khoa cũng nhƣ nhà trƣờng. Đối với ngƣời GV TDTT, do đặc thù của môn học mang nội dung chuyên biệt là dạy học vận động, phát triển các tố chất vận động của con ngƣời.
Do đó, vấn đề phát triển NLSP cho SV ngành GDTC cũng có những yêu cầu đặc trƣng riêng. Trong dạy học vận động, ngoài chƣơng trình đào tạo ra thì việc tổ chức các hoạt động đào tạo là một yếu tố rất quan trọng tạo nên chất lƣợng của buổi học. Ngƣời GV cần phải biết cách tổ chức, liên kết các thành viên lớp học, vừa phát huy đƣợc năng lực và tố chất vận động của từng cá nhân; vừa đáp ứng đƣợc đặc thù thi đấu của các môn thể thao mang tính tập thể vừa phát triển thế mạnh của từng vận động viên trong các môn thi đấu cá nhân. Đổi mới giáo dục phổ thông theo hƣớng căn bản, toàn diện đã hình thành nên những nội dung và yêu cầu mới về NLSP của ngƣời GV nói chung, GV thể dục thể thao (TDTT) nói riêng.
Trong phạm vi trƣờng ĐHSP Hà Nội 2, nghiên cứu đổi mới nội dung và công tác tổ chức đào tạo để phát triển NLSP cho SV ngành giáo dục thể chất (GDTC) là vấn đề cấp thiết, có ý nghĩa khoa học và thời sự. Xuất phát từ thực trạng đó, tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu biện pháp phát triển năng lực sư phạm nhằm nâng cao chất lượng đào tạo giáo viên thể dục thể thao trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2”. Mục đích nghiên cứu Thông qua đánh giá thực trạng NLSP của SV ngành GDTC nhằm phát hiện những hạn chế trong công tác đào tạo GV TDTT của trƣờng ĐHSP Hà Nội 2, tìm ra nguyên nhân. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số biện pháp phát triển NLSP cho SV nhằm góp phần nâng cao chất lƣợng đào tạo GV TDTT của trƣờng ĐHSP Hà Nội 2.
Mục tiêu nghiên cứu Để đạt đƣợc mục đích nghiên cứu, đề tài xác định mục tiêu nghiên cứu sau: Mục tiêu 1: Đánh giá thực trạng NLSP của SV ngành GDTC trƣờng ĐHSP Hà Nội 2. 5 Mục tiêu 2: Nghiên cứu các biện pháp phát triển NLSP cho SV ngành GDTC trƣờng ĐHSP Hà Nội 2. Mục tiêu 3: Thực nghiệm và đánh giá hiệu quả các biện pháp phát triển NLSP cho SV ngành GDTC trƣờng ĐHSP Hà Nội 2. Giả thuyết khoa học của đề tài: Giả thuyết rằng, NLSP của SV ngành GDTC trƣờng ĐHSP Hà Nội 2 chƣa đáp ứng yêu cầu đào tạo của nhà trƣờng và nhu cầu của thực tiễn giáo dục phổ thông.
Nguyên nhân cơ bản là do nội dung đào tạo và công tác tổ chức đào tạo chƣa giúp ngƣời học nhận thức đúng về vai trò của NLSP cũng nhƣ chƣa có phƣơng pháp phát triển NLSP phù hợp. Nếu có các biện pháp đảm bảo tính khoa học, tính khả thi, có giá trị phát triển NLSP cho SV, thì thực trạng nêu trên sẽ đƣợc khắc phục và chất lƣợng đào tạo GV TDTT của trƣờng ĐHSP Hà Nội 2 sẽ đƣợc cải thiện đáng kể. TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. NĂNG LỰC SƢ PHẠM VÀ CÁC YẾU TỐ CẤU THÀNH NĂNG LỰC SƢ PHẠM CỦA NGƢỜI GIÁO VIÊN 1.