đặt vấn đề phải tích hợp các môn học nhƣ thế nào để có thể DHTH. Wraga nhấn mạnh rằng: “DHTH làm cho việc học có nhiều ý nghĩa hơn và ngƣời học cảm thấy hứng thú hơn vì đƣợc thể hiện năng lực của chính mình” [118, p. Trong lĩnh vực giáo dục nghề nghiệp, DHTH còn đƣợc gọi là dạy học theo “năng lực thực hiện” (competency) và đã xuất hiện ở nhiều nƣớc nhƣ Liên xô cũ, CHLB Đức, các nƣớc Bắc Âu vào cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX. Năm 1968, các trƣờng đại học, cao đẳng của Hoa Kỳ đã biên soạn chƣơng trình và tài liệu bồi dƣỡng GV dựa trên NLTH.
Đến khoảng 1970, hầu hết các nhà nghiên cứu Bắc Mỹ đều thừa nhận rằng “đào tạo dựa trên NLTH có gốc rễ từ đào tạo và bồi dƣỡng GV” [104] bởi “Lĩnh vực đào tạo và bồi dƣỡng GV có đặc điểm là tạo ra các sản phẩm giống nhau luan an 10 theo khuôn mẫu đã định, hơn nữa CTĐT có nét độc đáo, dễ định ra chuẩn mực và đào tạo theo những chuẩn mực đó” [104]. Đến cuối thập kỷ 80, Trung tâm giáo dục quốc gia về GDNN ở Columbus, Ohio đã soạn thảo 100 bộ CTĐT theo mô đun tích hợp giữa lý thuyết và thực hành để đào tạo và bồi dƣỡng GV [112]. Ở Anh, tài liệu “Giáo dục và đào tạo dựa trên NLTH” của John W Burke xuất bản năm 1995 đã trình bày nguồn gốc của đào tạo dựa trên NLTH, quan niệm về NLTH và chuẩn NLTH, về đánh giá dựa trên NLTH và cải tiến CTĐT dựa trên NLTH [109]. Shirley Fletcher cũng viết tài liệu “Các kỹ thuật đánh giá dựa trên NLTH” năm 1995 và tài liệu “Thiết kế đào tạo dựa trên NLTH” năm 1997 trong đó phân tích sự khác biệt về đào tạo theo NLTH ở Anh và Mỹ [113], [114].
Ở Australia, vào cuối thập kỷ 80 đã thiết lập một hệ thống đào tạo dựa trên NLTH. Các tác giả nhƣ Roger Harris, Hugh Guthrie, Bary Hobart, David Lundberg [107] đã nghiên cứu khá toàn diện về đào tạo dựa trên NLTH, đặc biệt nhấn mạnh đến tiêu chuẩn NLTH, phát triển chƣơng trình, đánh giá hoạt động dạy học theo tiêu chuẩn NLTH. Ở Việt Nam, từ thập niên 90 của thế kỷ trƣớc đã có một số nhà khoa học nghiên cứu về DHTH (còn đƣợc gọi là dạy học theo“năng lực thực hiện” tích hợp giữa lý thuyết và thực hành) nhƣ Nguyễn Minh Đƣờng [28], Nguyễn Đức Trí [86], Phan Chính Thức [78]. Với chủ trƣơng phát triển DHTH theo NLTH trong đào tạo nghề, hiện nay nhiều nhà khoa học đã có nhiều nghiên cứu và bài viết về lĩnh vực này nhƣ Đỗ Mạnh Cƣờng [18], Nguyễn Văn Tuấn [89], Hồ Ngọc Vinh [101], Bùi Thế Dũng [22].
Với các nghiên cứu cụ thể, các tác giả đã đƣa ra những quan điểm, những nhận định về DHTH trong GDNN hiện nay nhƣ: “DHTH xuất hiện cùng với phƣơng thức đào tạo theo mô đun NLTH”, “DHTH chính là dạy học theo công việc của nghề nhằm đạt mục tiêu năng lực hành nghề của ngƣời học” [22, tr. “Thực chất của DHTH trong GDNN là vừa dạy lý thuyết và hƣớng dẫn thực hành trong cùng một bài dạy và thể hiện quan điểm giáo dục theo mô hình năng lực [89, tr. Bộ LĐTB&XH, Tổng cục GDNN cũng đã ban hành các quyết định, quy định về cấu trúc của CTĐT theo mô đun [11], hệ thống biểu mẫu, sổ sách quản lý dạy và luan an 11 học trong GDNN trong đó có giáo án tích hợp [12]; tài liệu bồi dƣỡng về phƣơng pháp biên soạn, tổ chức giảng dạy và đánh giá BGTH [79], [80], [81], [82]. Trong giáo dục phổ thông, hơn một thập kỷ gần đây DHTH với quan niệm tích hợp giữa các môn học cũng đã đƣợc nhiều nhà khoa học quan tâm nghiên cứu nhƣ: Cao Thị Thặng [72], Hoàng Thị Tuyết [95] và các nhà khoa học trong Hội thảo quốc gia [93].
Cách thức tổ chức DHTH và cách kiểm tra, đánh giá trong DHTH cũng đƣợc thể hiện trong các nghiên cứu của Trần Bá Hoành [38], Đinh Quang Báo - Hà Thị Lan Hƣơng [5]. Một số tác giả nhƣ Nguyễn Thanh Hùng [45], Đoàn Thị Kim Nhung [59], Nguyễn Văn Khải [51] và Đỗ Hồng Thái [71] đã đề cập đến quan điểm, nguyên tắc, phƣơng pháp dạy học theo hƣớng tích hợp, cũng nhƣ việc vận dụng sƣ phạm tích hợp vào dạy học các môn Ngữ văn, Vật lý, Lịch sử ở bậc học phổ thông. Nhƣ vậy, DHTH đang là một xu hƣớng dạy học đƣợc nhiều nƣớc trên thế giới quan tâm và thực hiện. Đây là một bƣớc chuyển từ cách tiếp cận nội dung sang tiếp cận NL để đào tạo đƣợc con ngƣời vừa có đủ tri thức, vừa biết hành động một cách năng động, sáng tạo khi giải quyết các vấn đề trong thực tiễn nghề nghiệp và cuộc sống.
Nghiên cứu về năng lực dạy học tích hợp * Nghiên cứu về năng lực dạy học Các tác giả nổi tiếng ở Liên Xô và các nƣớc Đông Âu những năm 70 của thế kỷ XX nhƣ O.N Gonobolin [33] đã có các công nghiên trình nghiên cứu về NLDH của ngƣời GV.Kixêgôv và các cộng sự đã nêu ra hơn 100 kỹ năng nghiệp vụ giảng dạy và giáo dục trong đó tập trung vào 50 kỹ năng cần thiết để hình thành NL nghề nghiệp cho SV [52].Ia và Sapôrinxkin. Y đã phân tích các NLDH trong các giai đoạn tổ chức dạy học thực hành nghề [4]. Các nƣớc nhƣ Ôxtrâylia, Canađa, Mỹ,… cũng đặc biệt quan tâm đến NLDH của SV sƣ phạm, công trình “Teaching methodology” của Duminy (1987) và “Beginning teaching” của K. luan an 12 Ở Việt Nam cũng đã có nhiều nhà khoa học nghiên cứu về NL sƣ phạm nói chung, NLDH nói riêng nhƣ Phạm Minh Hạc [35], Nguyễn Đình Chỉnh [16], Trần Bá Hoành [38], Nguyễn Đức Trí [87].
Đặc biệt, xem NLDH nhƣ là khả năng tƣ duy và hành động nhằm thực hiện dạy học đạt kết quả cao đƣợc thể hiện trong nghiên cứu của các tác giả Lê Khánh Bằng [6], Đặng Vũ Hoạt, Hà Thị Đức [40]. Trần Khánh Đức đã đƣa ra quan điểm hệ thống để phân tích quá trình dạy học và chỉ ra rằng: cần nâng cao NL thực hành cũng nhƣ kỹ thuật dạy học cho đội ngũ GV hiện nay [26]. Trong lĩnh vực sƣ phạm kỹ thuật, đã có một số công trình nghiên cứu về NLDH. Trong luận án “Một số giải pháp bồi dƣỡng NL sƣ phạm kỹ thuật cho cho GVDN Việt Nam hiện nay” của Trần Hùng Lƣợng [56], tác giả cho rằng GVDN hiện nay đang yếu về kỹ năng thực hành, do vậy cần quan tâm bồi dƣỡng cho họ về mặt này.
Luận án “Bồi dƣỡng NLDH cho giáo viên thực hành các trƣờng dạy nghề khu vực miền núi phía Bắc” của Trƣơng Đại Đức [27]. Luận án “Phát triển kỹ năng dạy thực hành cho sinh viên ĐHSPKT” của Nguyễn Trƣờng Giang [32]. Luận án “Dạy học theo tiếp cận NLTH ở trƣờng ĐHSPKT” của Cao Danh Chính [15]. Các công trình này đã đề cập đến NLDH thực hành trong các trƣờng SPKT.
Luận án “Rèn luyện NLDH cho sinh viên ĐHSPKT trong thực tập sƣ phạm theo tiếp cận NLTH” của Vũ Xuân Hùng [46] đã phân tích về các NLDH cần có của SV sƣ phạm kỹ thuật để có thể DHTH nhằm hình thành NLTH nghề nghiệp cho ngƣời học, tuy nhiên luận án này chỉ nghiên cứu ở giai đoạn thực tập sƣ phạm. Nhƣ vậy, các nghiên cứu trên đã đề cập đến NLDH - một thành phần quan trọng trong nhân cách nghề nghiệp của ngƣời GV. Các nghiên cứu về NLDH trong lĩnh vực sƣ phạm kỹ thuật cũng đã đƣợc chú ý trong các luận án tiến sĩ, tuy nhiên các tác giả mới chỉ chú ý đến việc bồi dƣỡng cho đội ngũ nhà giáo GDNN tại các cơ sở GDNN khi họ đã tham gia vào thực tiễn nghề nghiệp nhƣ luận án của Trần Hùng Lƣợng hay Trƣơng Đại Đức. Việc nghiên cứu NLDH trên SV sƣ phạm kỹ thuật cũng đã đƣợc thể hiện ở luận án của Vũ Xuân Hùng và Nguyễn Trƣờng Giang nhƣng Vũ Xuân Hùng mới chỉ nghiên cứu trong một giai đoạn ngắn của quá trình đào tạo là thực tập sƣ phạm và Nguyễn Trƣờng Giang thì mới chỉ nghiên cứu về kỹ năng dạy học thực hành của SV sƣ phạm kỹ thuật chứ chƣa nghiên cứu về năng lực DHTH.
luan an 13 * Nghiên cứu về năng lực dạy học tích hợp Những năm gần đây, Việt Nam đã có một số công trình nghiên cứu về năng lực DHTH cho SV và GV ở trƣờng phổ thông. Trong đề tài NCKH cấp Bộ của Nguyễn Phúc Chỉnh [17], tác giả đã phân tích các quá trình tích hợp và các năng lực DHTH của GV trung học phổ thông. Trần Thị Gái [31] đƣa ra hệ thống năng lực DHTH cần hình thành cho SV sƣ phạm trong quá trình đào tạo. Luận án tiến sỹ của Đặng Thị Thuận An [1] đã đƣa ra cấu trúc năng lực DHTH, khung năng lực DHTH của SV sƣ phạm hóa học.
Nguyễn Thị Việt Hà [34] trong luận án tiến sỹ cũng đã phân tích về cấu trúc năng lực DHTH giáo dục biến đổi khí hậu của SV sƣ phạm Địa lí. Nhƣ vậy, các công trình kể trên đã đề cập đến năng lực DHTH, tuy nhiên các công trình này chỉ nghiên cứu năng lực DHTH của GV phổ thông và của SV các trƣờng ĐHSP nói chung mà chƣa nghiên cứu về năng lực DHTH của nhà giáo GDNN cũng nhƣ năng lực DHTH của sinh viên ĐHSPKT. Nghiên cứu về dạy học theo tiếp cận mô đun Sau chiến tranh thế giới thứ II, Pháp đã nghiên cứu và xây dựng các CTĐT theo tiếp cận mô đun ở các trƣờng dạy nghề để giải quyết công ăn việc làm cho công nhân mỏ trong tình trạng thất nghiệp. Tại Australia, đào tạo theo mô đun đƣợc nghiên cứu và áp dụng rộng rãi từ năm 1975, đặc biệt trong hệ thống TAFE (học viện kỹ thuật và giáo dục sau đại học của Australia).
Ở Thụy Điển, chƣơng trình dạy nghề theo mô đun đã đƣợc sử dụng từ những năm 50 của thế kỷ XX. Tuy nhiên, việc nghiên cứu để xác định cơ sở triết học cho sự xuất hiện và tồn tại của phƣơng thức đào tạo theo mô đun đƣợc lý giải trong công trình của Meyer. R (1996) [110] với việc xây dựng chƣơng trình bổ túc “Năng lực sƣ phạm cho sinh viên” ngành Vật lý của Viện đại học Ohio. trong công trình nghiên cứu “Competency Based training - Theory and practice” năm 1998 đã thiết kế CTĐT nhân viên quản lý khách sạn với 18 mô đun và 68 tiểu mô đun [116].
Với tính ƣu việt của nó nhƣ đã nêu trên, phƣơng thức đào tạo theo mô đun đã nhanh chóng đƣợc phổ biến và áp dụng rộng rãi ở nhiều nƣớc trên thế giới.