lời mở đầu trong kế hoạch quốc gia về “Đổi mới hệ thống giáo dục mầm non” từ năm 1997 của Hàn Quốc cũng đã ghi nhận rằng môi trƣờng giáo dục đầu đời đóng vai trò thiết yếu trong việc xây dựng nền tảng phát triển tổng thể của con ngƣời. Điều này chứng minh rằng cơ sở giáo dục trẻ ở bậc học mầm non là rất quan trọng, vì đó là tiền đề để GDMN đào tạo ra những thế hệ trẻ phát triển tốt về tầm vóc, sức khỏe, tinh thần có thể thích nghi và hội nhập quốc tế. Hiệp hội Giáo dục trẻ thơ không khuyến khích các trƣờng mầm non phải theo một chƣơng trình mẫu nào, mà họ chỉ cung cấp sự hƣớng dẫn và dựa trên nguồn tài liệu phong phú, GV đƣợc chủ động chọn nội dung, cách thức và sự đánh giá phù hợp với trẻ của mình. Chƣơng trình GDMN của Philippines và một số nƣớc ở châu Á là chƣơng trình khung.
Các sở GD có trách nhiệm tự xây dựng chƣơng trình chi tiết và triển khai trên địa bàn mình quản lý. Môi trƣờng chăm sóc sức khỏe và giáo dục trẻ có đầy đủ các phƣơng tiện học tập, vui chơi và có phân chia các góc hoạt động. Chƣơng trình GDMN đƣợc thực hiện dựa trên việc tổ chức các hoạt động giáo dục theo hƣớng tích hợp chủ đề. Ở nƣớc Úc, chất lƣợng trƣờng mầm non đƣợc quản lý rất chặt chẽ.
Cũng giống nhƣ nƣớc Mỹ, trƣớc hết là việc chăm sóc để trẻ luôn khỏe mạnh, an toàn 7 và phát triển tốt về thể chất. Vấn đề quản lý chất lƣợng chăm sóc sức khỏe, cơ sở giáo dục trẻ mầm non cũng rất đƣợc quan tâm nhƣng chủ yếu hƣớng vào việc hình thành bản lĩnh, tính tự lập, cách ứng xử xã hội và phát triển những tiềm năng cá nhân của trẻ. Trƣớc hết trẻ em phải trở thành con ngƣời có giáo dục. Một phụ huynh đã trình bày quan điểm “Con tôi lớn, phải thành người tự lập, có bản lĩnh, suy nghĩ độc lập và ứng xử cho ra hồn người.
Còn nó muốn làm gì, trở thành ai, thành cái gì. Đó phải là quyết định của chính nó”. Vì vậy, nội dung và phƣơng pháp chăm sóc nuôi dƣỡng, chăm sóc sức khỏe và cơ sở giáo dục trẻ mầm non rất đa dạng, phong phú và việc quản lý hƣớng trẻ kích thích tính sáng tạo là của mỗi GV. Nhìn chung, những kinh nghiệm về quản lý trƣờng mầm non ở các nƣớc phát triển là rất quí đáng để chúng ta học tập.
Tuy nhiên, việc vận dụng chúng vào điều kiện kinh tế - xã hội của chúng ta đòi hỏi phải có một quá trình chọn lọc, thử nghiệm để phù hợp với những đặc điểm cụ thể của Việt Nam.Những nghiên cứu ở trong nƣớc Ngày nay với sự phát triển nhƣ vũ bão của nền khoa học kỹ thuật, chất lƣợng hoạt động giáo dục luôn đóng một vai trò chủ đạo trong việc đào tạo nguồn nhân lực chất lƣợng cao. Để có đƣợc nguồn nhân lực chất lƣợng cao, đáp ứng nhu cầu phát triển của xã hội, việc nâng cao chất lƣợng hoạt động giáo dục là vấn đề hết sức quan trọng và cần thiết, trong đó GDMN là bậc học đầu tiên đặt nền móng cho sự hình thành và phát triển nhân cách của mỗi con ngƣời. Trên báo Nhân dân số 5526 ngày 01/6/1969 có bài viết của Bác về thiếu niên, nhi đồng có tựa đề “Nâng cao trách nhiệm chăm sóc, giáo dục thiếu niên nhi đồng”. Ngƣời đã khẳng định “Thiếu niên nhi đồng là người chủ tương lai của nước nhà.
Vì vậy, chăm sóc giáo dục tốt các cháu là nhiệm vụ của toàn Đảng, toàn dân”, thấm nhuần lời dạy của Bác chúng ta phải luôn quan tâm đến chất lƣợng giáo dục trẻ ngay từ bậc học mầm non, bởi đó là cả một thế hệ của tƣơng lai đất nƣớc. Những năm gần đây, phong trào xây dựng trƣờng mầm non đạt chuẩn quốc gia ngày càng phát triển, do đó chất lƣợng cơ sở giáo dục trẻ ngày một tốt hơn. Giáo dục mầm non tồn tại với đủ các quy mô trƣờng, lớp, nhóm, với các loại hình công lập, bán công, dân lập, tƣ thục. Giáo dục mầm non ngày càng đáp ứng đƣợc lòng tin và yêu cầu của xã hội.
Trong những năm qua (từ 1995 trở lại đây) vấn đề quản lý bậc học mầm non đã đƣợc nhiều nhà nghiên cứu quan tâm, nhiều công trình nghiên cứu ở các cấp độ khác nhau đã đƣợc thực hiện đề tài cấp Nhà 8 nƣớc và cấp Bộ, một số luận văn tiến sỹ, thạc sỹ. Quản lý hoạt động giáo dục trẻ ở các trƣờng mầm non nhằm nâng cao chất lƣợng giáo dục trẻ là một vấn đề đƣợc nhiều ngƣời quan tâm và đã có một số công trình nghiên cứu với các đề tài nghiên cứu khoa học, các bài viết đăng trên các tạp chí chuyên ngành, các luận văn thạc sĩ cụ thể là: Võ Thị Kim Chi: „„Một số giải pháp quản lý nâng cao chất lượng hoạt động giáo dục trẻ ở các trường mầm non huyện Lấp Vò, tỉnh Đồng Tháp‟‟. Luận văn thạc sĩ khoa học giáo dục năm 2012, Trƣờng đại học Đồng Tháp. Lê Thị Quỳnh Trâm: „„Một số biện pháp quản lý hoạt động hoạt động giáo dục trẻ ở các trường mầm non trên địa bàn thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An”.
Luận văn thạc sĩ khoa học giáo dục năm 2013, Trƣờng đại học Vinh. Nguyễn Mai Phƣơng: „„Quản lý hoạt động giáo dục trẻ của Hiệu trưởng ở các trường mầm non thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp‟‟. Luận văn thạc sĩ khoa học giáo dục năm 2016, Trƣờng Dại học Đồng Tháp. Nguyễn Thị Thu Hiền : „„Biện pháp quản lý hoạt động giáo dục trẻ ở các trường mầm non huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp‟‟.
Luận văn thạc sĩ khoa học giáo dục năm 2016, Trƣờng Dại học Đồng Tháp. Nguyễn Thị Thu An : „„Quản lý hoạt động giáo dục trẻ mầm non tại các trường mầm non công lập Quận Hà Đông, Hà Nội”. Luận văn thạc sĩ khoa học giáo dục năm 2016, Học viện khoa học xã hội. Những đề tài luận văn trên đây chỉ ra cơ sở lý luận về quản lý hoạt động giáo dục trẻ mầm non; thực trạng quản lý hoạt động giáo dục trẻ mầm non tại huyện Lấp Vò, tại thành phố Cao Lãnh, tại huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp, tại thành phố Vinh tỉnh Nghệ An và tại Quận Hà Đồng, Hà Nội và các biện pháp quản lý hoạt động giáo dục trẻ trƣờng mầm non.
Từ các đề tài trên giúp tác giả kế thừa cơ sở lý luận, tham khảo cách tiến hành khảo sát thực trạng và một số biện pháp; cũng qua thực tế nghiên cứu cho thấy tại địa phƣơng quận Cái Răng chƣa có đề tài nghiên cứu về quản lý hoạt động giáo dục trẻ tại các trƣờng mầm non; nhƣ vậy đề tài tác giả chọn nghiên cứu là cần thiết, đáp ứng yêu cầu nâng cao chất lƣợng giáo dục trẻ mầm non tại quận Cái Răng nói riêng và thành phố Cần Thơ nói chung. CÁC KHÁI NIỆM CƠ BẢN 1. Khái niệm “Hoạt động giáo dục trẻ” 1.Hoạt động Theo các nhà tâm lý học Macxit, cuộc sống con ngƣời là một dòng hoạt động. Con ngƣời là chủ thể của các hoạt động.
Hoạt động là quá trình con ngƣời thực hiện các quan hệ của con ngƣời với thế giới tự nhiên, xã hội, ngƣời khác và bản thân. Do đó có thể hiểu một cách sơ lƣợc, hoạt động là sự tƣơng tác tích cực giữa chủ thể và đối tƣợng nhằm biến đổi đối tƣợng theo mục tiêu mà chủ thể đặt ra. Giáo dục trẻ Giáo dục trẻ là hoạt động hƣớng dẫn chỉ dạy trẻ, cung cấp kĩ năng sống phù hợp với lứa tuổi; giúp trẻ em biết kính trọng, yêu mến, lễ phép với ông bà, cha mẹ, thầy cô giáo; yêu quý anh, chị, em, bạn bè; thật thà, mạnh dạn, tự tin và hồn nhiên, yêu thích cái đẹp; ham hiểu biết, thích đi học. Hoạt động giáo dục trẻ “Hoạt động giáo dục trẻ” là khái niệm dùng để chỉ hoạt động đặc thù của xã hội loài ngƣời, hoạt động sƣ phạm đƣợc tổ chức trong nhà trƣờng đối với sự tác động của CBQL, GV đến các trẻ em một cách có kế hoạch, có mục đích, nhằm hình thành, bồi dƣỡng trẻ để đạt mục tiêu giáo dục và đáp ứng yêu cầu của xã hội.
Khái niệm “Quản lý hoạt động giáo dục trẻ” 1. Quản lý Theo từ điển tiếng Việt. Quản lý nghĩa là: - Quản: Trông coi và giữ gìn theo những yêu cầu nhất định;[33] - Lý: Tổ chức và điều khiển các hoạt động theo yêu cầu nhất định [33]. Gần với quan điểm trên, nhà nghiên cứu Đặng Quốc Bảo cho rằng khái niệm quản lý (là một từ có nguồn gốc từ tiếng Hán) lột tả đƣợc bản chất của vấn đề chính là hoạt động chăm sóc, giữ gìn (quản) là sửa sang, sắp xếp (lý) để cho cộng đồng theo sự phân công hợp tác lao động đƣợc phát triển[2].
10 Tác giả Trần Kiểm quan niệm: “Quản lý là nhằm phối hợp nỗ lực của nhiều người sao cho mục tiêu của từng cá nhân biến thành những thành tựu của xã hội” [21]. Theo Trần Hữu Cát và Đoàn Minh Duệ quan niệm: uản lý là một hoạt động thiết yếu nảy sinh khi con người lao động và sinh hoạt tập thể nhằm thực hiện các mục tiêu chung”[8]. Hai tác giả Hà Thế Ngữ và Đặng Vũ Hoạt quan niệm: „„ uản lý là một quá trình định hướng, quá trình có mục đích, quản lý là một hệ thống, là quá trình tác động đến hệ thống nhằm đạt được mục tiêu nhất định‟‟[23]. Từ những luận điểm nêu trên, ta có thể rút ra đƣợc những nội dung cơ bản nhất để áp dụng vào thực tiễn nhằm giúp cho các hoạt động của nhà quản lý đạt đƣợc kết quả nhƣ mong muốn đó là: - Quản lý là một hoạt động có tính khoa học, do vậy hoạt động quản lý phải tuân theo các quy luật tự nhiên cũng nhƣ xã hội và muốn quản lý có hiệu quả thì ngƣời quản lý phải thực hiện tốt các chức năng: Kế hoạch hóa, tổ chức, lãnh đạo (Chỉ đạo) và kiểm tra đánh giá.
Ngày nay, quản lý đƣợc coi là một trong năm nhân tố phát triển kinh tế -xã hội, đó là vốn, nguồn lực lao động, khoa học kỹ thuật, tài nguyên và quản lý. Nhƣ vậy, “Quản lý” đƣợc hiểu là: Sự điều khiển, phối hợp, tác động của chủ thể quản lý tới đối tƣợng quản lý trong quá trình hoạt động (lao động, học tập, nghiên cứu, ứng dụng.) của một tổ chức, một đơn vị với các điều kiện nhất định (không gian, thời gian, nguồn lực.) nhằm đạt đƣợc mục tiêu đề ra.Chức năng quản lý Có 4 chức năng cơ bản sau: a.