Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ QUẢN LÍ HOẠT ĐỘNG BỒI DƯỠNG THƯỜNG XUYÊN CHO GIÁO VIÊN MẦM NON 1. Tổng quan nghiên cứu về quản lí hoạt động BDTX cho GVMN Giáo viên là nhân tố quyết định chất lượng GD&ĐT. Đặc trưng của người GV nói chung và GVMN nói riêng là hoạt động lao động sư phạm, đặc trưng của lao động này đòi hỏi người GVMN phải thường xuyên học tập, học tập suốt đời, trong đó, bồi dưỡng và tự bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ mới có thể đáp ứng được nhiệm vụ GD&ĐT trong tình hình mới. Một trong những biện pháp để thực hiện nhiệm vụ trên và nhằm nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ cho đội ngũ GVMN là tổ chức bồi dưỡng và BDTX.
Tình hình nghiên cứu về quản lí hoạt động BDTX cho giáo viên ở nước ngoài Đa số các quốc gia trên thế giới đều coi hoạt động bồi dưỡng và BDTX GVMN là vấn đề cơ bản quan trọng trong phát triển GD&ĐT. Phương châm hành động của các nhà quản lí giáo dục (QLGD) các cấp là tạo mọi điều kiện thuận lợi để giáo viên (GV) có cơ hội BDTX để bổ sung kiến thức và đổi mới phương pháp dạy học phù hợp với sự phát triển kinh tế - xã hội. Năm 1998, UNESCO đã đưa ra thông điệp: “bồi dưỡng đội ngũ giáo viên là vấn đề cơ bản trong phát triển giáo dục (UNESCO, 1998). Ở Anh có chương trình cố vấn cho GV mới vào nghề cũng là một hình thức BDTX cho GV (Teaching and Teacher Education, 2009).
Ở Pháp, GV cũng như các công chức, viên chức ở các ngành nghề khác, việc bồi dưỡng chuyên môn và nghiệp vụ tùy thuộc vào nhu cầu của người lao động. Cụ thể là trong 3 năm, nếu công chức (bao gồm GV) không được đào tạo, bồi dưỡng thì có quyền đề nghị được đi đào tạo, bồi dưỡng hoặc đề nghị giải thích vì sao họ không được đi đào tạo, bồi dưỡng (Trần Văn Khánh, 2015). Trong mấy năm gần đây, việc bồi dưỡng nghiệp vụ cho GV có thể thấy nó cũng là bắt buộc ở một số quốc gia ở các nước Đông Á. Ví dụ: ở Trung Quốc sau mỗi chu kỳ 5 năm GV phải tham gia khóa bồi dưỡng nghiệp vụ trong 240 giờ.
Ở Luan van 11 Nhật Bản thì qui định là 300 giờ cho năm thứ nhất, 30 buổi trong năm thứ 10; Còn ở Hàn Quốc thì 182 giờ trong năm thứ năm và ở Đài Loan thì bắt buộc là 90 giờ mỗi chu kỳ 3 năm GV phải tham gia đào tạo bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ. Để phát triển đội ngũ GV cho quốc gia mình, Cộng hòa dân chủ nhân dân Triều Tiên, nước này đã đưa ra 2 Chương trình lớn, đó là Chương trình bồi dưỡng giáo viên mới và chương trình trao đổi, hợp tác trong và ngoài nước. Theo đó, buộc giáo viên phải tham gia học tập đầy đủ các chương trình bồi dưỡng để nâng cao trình độ chuyên môn và nghiệp vụ (Thân Thị Hoàng Vy, 2013). Tại Philippin, việc bồi dưỡng cho GV được thực hiện trong các khóa bồi dưỡng vào bốn kỳ nghỉ hè.
Hè thứ nhất bao gồm các nội dung môn học: nguyên tắc giảng dạy, tâm lí giảng dạy và đánh giá trong giáo dục. Hè thứ hai các môn về quan hệ con người, triết học giáo dục, nội dung và phương pháp giáo dục. Hè thứ ba: nghiên cứu giáo dục, viết tài liệu giám sát trong giáo dục. Hè thứ tư gồm kiến thức nâng cao, kỹ năng nhận xét, lập kế hoạch giảng dạy, viết tài liệu giảng dạy, sách giáo khoa, tài liệu tham khảo (Thân Thị Hoàng Vy, 2013).
Ở Thái Lan, từ năm 1998 việc bồi dưỡng giáo viên được tiến hành ở các Trung tâm học tập cộng đồng, nhằm huấn luyện kỹ năng nghề nghiệp và kỹ năng tư vấn giáo dục cộng đồng (Thân Thị Hoàng Vy, 2013). Nước Pakistan có hẳn một chương trình bồi dưỡng về nghiệp vụ sư phạm do nhà nước quy định. Trong thời gian 3 tháng, bắt buộc tất cả giáo viên vào nghề chưa quá 3 năm phải tham dự bồi dưỡng bao gồm các nội dung về nghiệp vụ dạy học, cơ sở tâm lí học và phương pháp đánh giá học sinh (Thân Thị Hoàng Vy, 2013). Công tác đào tạo bồi dưỡng nhằm đạt chuẩn, vượt chuẩn về trình độ năng lực nghiệp vụ cho giáo viên tại đất nước Lào đã đạt được nhiều kết quả đáng kể.
Bộ Giáo dục Lào đã xây dựng chương trình BDTX theo các chu kỳ. Ngoài ra các cấp quản lí giáo dục ở cơ sở còn chịu trách nhiệm tổ chức bồi dưỡng giáo viên về chính trị, chuyên môn và nghiệp vụ (Thân Thị Hoàng Vy, 2013). Luan van 12 Nhìn chung công tác bồi dưỡng GV ở nước ngoài xuất phát từ những yêu cầu thực tiễn của giáo dục của mỗi quốc gia và căn cứ vào nhu cầu bồi dưỡng của bản thân GV. Trên cơ sở đó, các cấp QLGD đề ra các biện pháp quản lí bồi dưỡng GV.
Việc bồi dưỡng GV luôn chú trọng đến năng lực tự bồi dưỡng của người GV. Tình hình nghiên cứu về quản lí hoạt động BDTX cho giáo viên ở trong nước Nói đến bồi dưỡng cho GV và quản lí hoạt động bồi dưỡng cho GV đã được các nhà khoa học, các nhà quản lí trong nước rất quan tâm và dành nhiều thời gian nghiên cứu. Thấy rõ tầm quan trọng của hoạt động bồi dưỡng và quản lí hoạt động bồi dưỡng cho GV, những năm gần đây, Đảng và Nhà nước đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách về bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ cho giáo viên nói chung và GVMN nói riêng. Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã ban hành Luật giáo dục sửa đổi năm 2005, trong đó điều 80 của Luật ghi rõ:“Quy định về bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ nhằm nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ cho giáo viên” (Luật Giáo dục, 2005).
Qui định về Chuẩn nghề nghiệp GVMN được ban hành kèm theo Quyết định số 02/2008/QĐ-BGDĐT, ngày 22 tháng 01 năm 2008 của Bộ trưởng Bộ GD&ĐT, tại Điều 3 - mục đích ban hành Chuẩn nghề nghiệp GVMN là “Giúp giáo viên mầm non tự đánh giá năng lực nghề nghiệp, trên cơ sở đó xây dựng kế hoạch học tập, rèn luyện phấn đấu nâng cao phẩm chất đạo đức, trình độ chính trị, chuyên môn, nghiệp vụ”. Tại Điều 5 - các yêu cầu thuộc lĩnh vực phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống , khoản 4, điểm b yêu cầu giáo viên “Tự học, phấn đấu nâng cao phẩm chất đạo đức, trình độ chính trị, chuyên môn, nghiệp vụ, khoẻ mạnh và thường xuyên rèn luyện sức khoẻ” (Bộ GD&ĐT, 2008). Ngày 09 tháng 02 năm 2010, Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án Phổ cập GDMN cho trẻ em 5 tuổi giai đoạn 2010-2015 ban hành kèm theo Quyết định số 239/QĐ-TTg, trong Phần IV- Nhiệm vụ và giải pháp xây dựng, nâng cao chất lượng đội ngũ GV và CBQL GDMN có đề cập: “Đổi mới nội dung và phương thức BDTX Luan van 13 cho đội ngũ GV và CBQL, cập nhật kiến thức và kỹ năng cho giáo viên để thực hiện chương trình GDMN…” (Thủ tướng Chính phủ, 2010). Chương trình BDTX GVMN được Bộ GD&ĐT ban hành kèm theo Thông tư số 36/2011/TT-BGDĐT, ngày 17 tháng 8 năm 2011 (Bộ GD&ĐT, 2011), Chương trình này được xem là công trình nghiên cứu đầy đủ, hệ thống nhất về công tác quản lí BDTX.
Để tổ chức thực hiện chương trình BDTX GVMN theo qui định, ngày 10 tháng 7 năm 2012 Bộ GD&ĐT đã ban hành Thông tư số 26/2012/TT-BGDĐT về Quy chế BDTX GVMN, GV phổ thông và GV giáo dục thường xuyên (Bộ GD&ĐT, 2012). Quy chế này là công cụ mang tính pháp lí để quản lí hoạt động BDTX trong toàn bộ hệ thống quản lí giáo dục của cả nước. Nghị quyết số 29-NQ/TW, ngày 4 tháng 11 năm 2013 của Hội nghị lần thứ 8 Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa XI có đề cập: “Xây dựng quy hoạch, kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lí giáo dục gắn với nhu cầu phát triển kinh tế xã hội, bảo đảm an ninh quốc phòng và hội nhập quốc tế” (Ban Chấp hành Trung ương, 2013). Chỉ thị số 40/CT-TW, ngày 15 tháng 6 năm 2014 của Ban Bí thư Trung ương Đảng về việc “Xây dựng, nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lí giáo dục giai đoạn 2015-2020” (Ban Chấp hành Trung ương, 2014), trong mục tiêu tổng quát đã nêu “Xây dựng đội ngũ nhà giáo và CBQL giáo dục được chuẩn hóa, đảm bảo chất lượng, đủ về số lượng, đồng bộ về cơ cấu, đặc biệt chú trọng nâng cao bản lĩnh chính trị, phẩm chất, lối sống, lương tâm, tay nghề của nhà giáo thông qua việc quản lí, phát triển đúng định hướng và có hiệu quả sự nghiệp giáo dục để nâng cao chất lượng đào tạo nguồn nhân lực, đáp ứng những đòi hỏi ngày càng cao của sự nghiệp CNH, HĐH đất nước”.
Thông tư số 02/2014/TT-BGDĐT, ngày 08 tháng 02 năm 2014 Ban hành Quy chế công nhận trường MN đạt chuẩn quốc gia, tại Điều 7 – Đội ngũ GV và nhân viên, khoản 3, điểm c có đề cập: “GV tham gia đầy đủ các hoạt động chuyên môn, chuyên đề và hoạt động xã hội do trường mầm non tổ chức hoặc phối hợp tổ chức” và khoản 4, điểm b “Thực hiện nghiêm túc chương trình BDTX, bồi dưỡng hè, bồi dưỡng chuyên đề theo quy định của Bộ GD&ĐT” (Bộ GD&ĐT, 2014). Luan van 14 Thông tư liên tịch số 20/2015/TT-BGDĐT-BNV, ngày 14 tháng 9 năm 2015 của BGDĐT-Bộ Nội Vụ Quy định mã số, tiêu chuẩn, chức danh nghề nghiệp GVMN, để đạt được các tiêu chuẩn, chức danh, nghề nghiệp giáo viên hạng II, III và hạng IV, GVMN có nhiệm vụ “Rèn luyện sức khỏe; hoàn thành các chương trình bồi dưỡng; tự bồi dưỡng trau dồi đạo đức, chuyên môn, nghiệp vụ để nâng cao chất lượng nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ; tham gia các hoạt động chuyên môn; bảo quản và sử dụng thiết bị giáo dục được giao” (Bộ GD&ĐT, 2015). Bên cạnh các chính sách, Chỉ thị đó, vấn đề BDTX cho GV đã được các nhà khoa học nghiên cứu, tiêu biểu như: “Vấn đề giáo viên - Những nghiên cứu lí luận và thực tiễn” (Trần Bá Hoành, 2006), đã dành một phần lớn nói về công tác đào tạo bồi dưỡng GV ở Việt Nam cũng như những kinh nghiệm nước ngoài về đào tạo, bồi dưỡng GV ở một số nước Châu Á, Đông Nam Á và ở Anh.