Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VE QUAN LY NANG CAO CHÁT LƯỢNG ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊN ‘TRUNG CÁP CHUYÊN NGHIỆP. LICH SU VAN ĐÈ NGHIÊN CỨU 1. Các nghiên cứu ở nước ngoài Hầu hết các quốc gia trên thế giới đều coi hoạt động bồi dưỡng nâng cao chất lượng đội ngũ giáo vi là vấn đcơ bản trong chiến lược phát triển giáo dục. Việc tạo điều kiện để mọi người có cơ hội học tập, học tập thường xuyên, học tập suốt đời để kịp thời bổ sung kiến thức và đổi mới phương pháp.
giảng đạy để phù hợp với sự phát triển kinh tế - xã hội là phương châm hành động của các cấp quản lý giáo dục. Chúng ta có thể thấy rằng một số nước trong khu vực ASEAN như: Singapore, Thái Lan,. các nước ở khu vực châu Á như: Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc,. và các nước phát triển khác như: Anh, Pháp, Hoa Kỳ.
trong phát triển giáo dục đã luôn luôn quan tâm nghiên cứu về khoa học quản lý giáo dục, ứng dụng thành công việc quản lý nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo của nước mình, đáp ứng yêu cầu của xã hội, đã đóng góp vào sự thành công về sự phát triển giáo dục nói riêng và sự phát triển kinh tế - xã hội của mỗi nước nói chung. 1 Ở Việt Nam Ngay từ thời xa xưa, ông cha ta đã rất coi trong vai trò của người thầy giáo như: “Không thầy đố mày làm nên”, “Không có thầy giáo thì sẽ không. Điều đó nhắc nhở mọi người phải quan tâm mọi mặt và toàn. diện đến giáo dục mà chủ thể đóng vai trò quan trọng nhất đó chính là đội ngũ giáo viên.
'Vấn đề phát triển giáo dục và nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ ra trong thư gửi các cán bộ, các thầy giáo, cô gio, công nhân viên, học sinh, sinh viên nhân dịp đầu năm học mới ngày 16 tháng 10 năm 1968 rằng: “Giáo dục nhằm đào tạo những người kỀ tục sự nghiệp cách mạng to lớn của Đảng và nhân dân, do đó các ngành các cấp Đảng, chính quyền địa phương phải thực sự quan tâm đến sự nghiệp này, phải chăm sóc nhà trường vẻ mọi mặt, đẩy sự nghiệp giáo dục của ta những bước phát triển mới” [6]. “Can bé va giáo dục phải tiến bộ cho kịp thời đại mới làm được nhiệm vụ, chớ tự túc tự mãn cho là giỏi rồi thì đừng lạt" (17, tr. Ngày nay, thực hiện chính sách mở cửa, Đảng và Nhà nước ta chủ trương xã hội hoá giáo dục và đào tạo, làm cho sự nghiệp giáo dục là sự nghiệp chung của mỗi người dân, với quyết tâm cháy bỏng: chiến thắng nghèo nàn và lạc hậu, với chiến lược sáng tạo đi tắt - đón đầu. Thực chất quá trình phát triển giáo dục nói chung và quá trình phát triển đội ngũ giáo viên của ngành giáo dục chuyên nghiệp và đạy nghề nói riêng đó là cách nâng cao.
ý thức của toàn xã hội đối với giáo dục, huy đông các lực lượng, các nguồn lực của xã hội để phát triển quy mô và chất lượng của giáo dục, đồng thời biến giáo dục thành quyền và nghĩa vụ của mọi người dân, thành phúc lợi của. toàn dân, thành dịch vụ cho mỗi cá nhân có nhu cầu và điều kiện muốn học tập, phát triển. Đây cũng là cách để cho nền giáo dục nước nhà có chất lượng. cao, có khả năng đào tạo những người thực tài, có tầm nhìn chiến lược, có ý thức vươn lên, có năng lực sáng tạo và cạnh tranh quốc tế, có khả năng biến trí thức thành sản phẩm, lợi ích kinh tế.
Xuất phát từ những nhận thức trên, từ năm 1990 đến nay các chính sách của Nhà nước ta ngày càng quan tâm đến lĩnh vực giáo dục đào tạo và phát triển giáo viên. Tai ky họp Quốc hội lần thứ 6 khoá IX (tháng 11/2004), Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo nhắn mạnh: “Khâu quan trọng nhất là người thầy. Tắt cả hoạt động của chúng ta sẽ triển khai sắp tới phải xoay quanh vấn đề xây dựng đội ngũ giáo viên, bởi thầy giáo giỏi, tâm huyết với sự nghiệp mới có trò giỏi, có đội ngũ giáo viên đủ về số lượng, đảm bảo vẻ cơ cấu hợp lý. có chất lượng về chuyên môn, đạo đức thì mới có thể đưa giáo dục phát triển”.
Ở nước ta trong thời gian qua, vấn đề quản lý Giáo dục - Đào tạo nói chung, quản lý đội ngũ giáo viên nói riêng đã có nhiều tác giả đề cập và. nghiên cứu dưới nhiều góc đô. khía cạnh khác nhau. Đặc biệt là sau khi có Nghị quyết TW2 Khoá VII, Bộ Giáo dục và Đào tạo, nhiều học giả và nhà khoa học đã có những công trình nghiên cứu về công tác quản lý giáo dục như: ~ “Quản lý giáo dục nghề nghiệp ở Việt Nam” (Phan Văn Kha -Hà Nội, 1999) [12]; - “Quản lý quá trình giáo dục đào tạo" (Nguyễn Đức Trí - Hà Nội.
1999) [26]; ~ *Tổ chức quản lý quá trình giáo dục đào tạo" (Nguyễn Minh Đường - Hà Nội, 1996) [7]; - "Nghiên cứu việc bôi dưỡng cán bộ giảng dạy (CBGD) Đại học và giáo viên dạy nghÈ" (Phạm Thành Nghị, 1993) [18]; - "Chương trình bôi dưỡng cán bộ và công chức nhà nước” (Học viện hành chính Quốc gia, 1996) [11]; ~ "Chương trình bôi dưỡng cho cán bộ quản lý Trung học chuyên nghiệp và dạy nghể" (Trường cán bộ quản lý giáo dục Trung ương 2) [31]: - "Nghiên cứu tình hình đội ngũ Hiệu trưởng trường dạy ngh tư thục và xây dựng chương trình bồi dưỡng nghỉ vụ quản lý đội ngũ này tại thành phố Hỗ Chí Minh” (Trường cán bộ quản lý giáo dục thành phố Hỗ Chí Minh, 1993) [28]; ~ "Nghiên cứu thực trạng và đề xuất chương trình bôi dưỡng đội ngũ cán bộ quản lý trường dạy nghề công và bán côi tạ tại thành phố Hỗ Chí.Minh” (Trường cán bộ quản lý giáo dục thành phố Hồ Chí Minh và Phòng day nghề - Sở giáo dục thành phố Hồ Chí Minh, 1995) [29]; ~ *Chương trình bôi dưỡng cán bộ công chức nhà nước ngành Giáo. dục - Đào tạo” (Trường cán bộ quản lý giáo dục Trung ương 2, 1997) [30]:. ~ “Giáo dục Việt Nam những thập niên đầu thể kỷ XXI chiến lược phát triển” (Đặng Bá Lãm - Nhà xuất bản Giáo dục, 2003) [14]; Một số đề tài nghiên cứu luận văn thạc sỹ quản lý giáo dục như: - Những giải pháp tăng cường quản lý đào tạo tại Trường Công nhân kỹ thuật chế biển gỗ Trung ương (Trần Đính, 2000) [6]: - Các giải pháp cải tiễn quản lý quá trình đào tạo tại Trường Cao đẳng Văn hoá nghệ thuật quân đội (Tạ Thị Kim Thịnh - Hà Nội. 2000) [24]; ~ Thực trạng công tác đào tạo nguồn nhân lực trong hệ thông giáo dục nghề nghiệp ở Việt Nam của Trần Trung và Đỗ Thế Hưng [27]: ~ *Nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên ở Trường Cao đẳng Y tế Hà Đông" của Bùi Văn Tuấn [32]; Nhin chung, các đề tài nghiên cứu đã đạt được những thành tựu ban đầu đáng khích lệ và góp phần cải tiến, hoàn thiện hơn công tác quản lý giáo.
dục của đất nước và của từng cơ sở giáo dục cụ thể. Bên cạnh đó, các nghiên 10 cứu cũng chỉ ra được một số mặt hạn chế trong công tác quản lý giáo dục ở từng trường, từng địa phương. Qua đó, các tác giả cũng đề ra được biện pháp. nhằm khắc phục và cải thiện những khó khăn mà địa phương đang gặp phải.
Tuy nhiên, chưa có đề tài nào nghiên cứu về các biện pháp quản lý nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên của trường Trung cắp chuyên nghiệp tại tỉnh Cà Mau. MỘT SỐ KHÁI NIỆM CƠ BẢN CỦA ĐÈ TÀI Để nghiên cứu đề tài đạt kết quả, trước tiên chúng ta cần làm rõ một số. khái niệm cơ bản của đề tài 1. Quản lý Trong từ điển tiếng Việt, quản lý là tổ chức điều khiển hoạt động của một số đơn vị, một cơ quan [33, tr.
“Trong lịch sử phát triển của xã hội loài người từ xưa cho đến nay, có 3 yếu tổ cơ bản là nền tảng tri thức, sức lao động và quản lý. là sự kết hợp giữa tri thức với sức lao động. Khái niệm quản lý đã xuất hiện từ lâu và ngày càng hoàn thiện cùng với lịch sử hình thành và phát triển của xã hội loài người. C6 nhiều quan niệm khác nhau về khái niệm “quản lý”.
Dưới đây là một số quan niệm chủ yếu về quản lý. ‘Theo Henri Fayol (1841-1925). người Pháp. ông là người đặt nền móng cho lý luận tổ chức cổ điển cho rằng: “Quản lý tức là lập kế hoạch, tổ chức, chỉ huy, phối hợp và kiểm tra".
Đây là khái niệm mang tính khái quát về chức năng quản lý. “Theo tác giá Nguyễn Ngọc Quang, “Quản lý là những tác động có định. hướng, có kế hoạch của chủ thể quản lý đến đối tượng bị quản lý trong tổ chức để vận hành tổ chức, nhằm đạt mục đích nhất định” [20, tr. tư cách là một hành động, theo các tác Ngọc Hải, và Đặng Quốc Bảo, “Quản lý là tác động có tổ chức, có hướng " đích của chủ thể quản lý tới tượng quản lý nhằm đạt mục tiêu đề ra” [10, trl2].
ất nhiều tác giả với nhiều định nghĩa về quản lý, tùy theo cách tiếp. cận dưc các góc độ khác nhau như: góc độ tổ chức, quản lý, hành động. Như vậy theo nghĩa rộng, quản lý là hoạt động có mục đích của con người, có thể hiểu quản lý là sự tác động chỉ huy, điều khiển, hướng dẫn các quá trình xã hội và hành vi hoạt động của con người, phát triển phù hợp với quy luật, đạt tới mục đích đã đẻ ra. Cần phải hiểu khái niệm quản lý đầy đủ, bao hàm những khía cạnh sau: -_ Đối tượng tác động của quản lý là một hệ thống hoàn chỉnh.
Hệ thống đó được cấu tạo liên kết hữu cơ từ nhiều yếu tố, theo một quy luật nhất định; phù hợp với điều kiện khách quan. ~ Quản lý bao giờ cũng là hoạt động hướng đích, có mục tiêu xác định. ~ Hệ thống quản lý gồm có 2 phân hệ. Đó là sự liên kết giữa chủ thể quản lý và đối tượng quản lý, đây là quan hệ ra lệnh - phục tùng, không đồng cấp và có tính bắt buộc.
Tuy nhiên, quản lý có khả năng thích nghỉ giữa chủ thể với đối tượng quản lý và ngược lại. ~ Tác động của quản lý thường mang tính chất tổng hợp, hệ thống tác động quản lý gồm nhiều giải pháp khác nhau nhằm đưa hệ thống tiếp cận mục tiêu, và nếu xét về mặt công nghệ là sự vận động thông tin.