Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CỦA GIÁO VIÊN TRUNG HỌC PHÓ THÔNG 1. Khai q lịch sử nghiên cứu n đề 1. Các công trình nghiên cứu ở nước ngoài có liên quan đến đề tài Có nhiều công trình nghiên cứu nước ngoài quan tâm đến nội dung NCKH, dưới đây là một số ví dụ tiêu biểu: 'W.Humboldt (1767-1835) người sáng lập trường Đại hoc Berlin đã cho rằng với nhiệm vụ đi tìm tri thức, trường đại học không thể gạt bỏ toàn bộ lĩnh vực. NCKH cho các viện khoa học và nếu làm như vậy thi đã tự phủ định mình.
Trong tác phẩm “Nghiên cứu và viết báo cáo”, tác giả Francesco Cordasco và Elliots S.Galner đã chỉ dẫn những kĩ năng cụ thé để sinh viên thực hiện công trình nghiên cứu. Đó là những kĩ năng lựa chon dé tai, cách sử dụng thư viện, thu thập tai ligu,. đã giúp cho sinh viên phần nao tránh được những khó khăn, trở ngại trong thời gian đầu tập nghiên cứu [17] Năm 1972, trong tác phẩm * chức và phương pháp công tác NCKH” P.Prikhodko đã giới thiệu những nét đặc trưng cơ bản của hoạt động NCKH của sinh viên. Tác giả đánh giá tầm quan trọng của việc tổ chức cho sinh viên làm niên luận, khóa luận tốt nghiệp, coi đây là những hình thức tập dượt NCKH nhờ đó mà sinh viên có khã năng tự học suốt đời [34, tr.50] Các trường đại học ở Liên Xô trước đây cũng rất coi trọng các hình thức tổ chức NCKH cho sinh viên, trong đó tổ chức cho sinh viên làm khóa luận, luận văn tốt nghiệp được xem là một trong những hình thức tạo điều kiện cho sinh viên tham gia hoạt động NCKH.
Những kết quả nghiên cứu trước đây có thể kế thừa Chủ tịch Hồ Chí Minh rất quan tâm đến KHCN, Người cho rằng KHCN có nghĩa rất lớn đối với sự nghiệp đầu tranh và giải phóng dân tộc. Người không ngừng. chăm lo bồi dưỡng, đào tạo đội ngũ cán bộ khoa học kỹ thuật phục vụ nước nhà. Từ khi ra đời cho đến nay, thông qua các Văn kiện, các Nghị quyết, Chỉ thị 13 Dang va Nhà nước ta đều thể hiện rõ sự quan tâm đến phát triền KHCN và GDĐT.
Các Nghị quyết, chủ trương luôn coi trọng KHCN và tạo nhiều điều kiện thuận lợi để KHCN phát triển. Nhiều tác giả đã cụ thể hóa những giai đoạn của quá trình thực hiện cũng như những nội dung liên quan đến hoạt động NCKH. Giáo trình “Phương pháp luận và các phương pháp nghiên cứu khoa học giáo dục” của tác giả Đăng Vũ Hoạt và Hà Thị Đức đã đưa ra những khái niệm chung về phương pháp luận khoa học. giáo dục và những giai đoạn nghiên cứu một để tài khoa học để trang bị cho sinh viên những kĩ năng cần thiết về NCKH [29], Nam 2006, trong giáo trình “Hoạt động NCKH giáo dục của sinh viên sư phạm” tác giả Phạm Hồng Quang đã giới thiệu thực trạng hoạt động NCKH của sinh viên, cung cấp các thông tin bổ ích và hướng dẫn cách tiến hành NCKH nhằm đạt hiệu quả cao, ứng dụng thực tiễn đạt chất lượng [36, tr.
Trong tác phẩm “Phương pháp luận nghiên cứu khoa học” của Vũ Cao Đàm cũng đã cung cấp cho sinh viên, học viên cao học và nghiên cứu sinh những phương, pháp luận, cấu trúc công trình NCKH, các giai đoạn tỉ iến hành một đề tài NCKH đề hỗ trợ họ thành công trong việc thực hiện các công trình NCKH [22] Trong lịch sử nghiên cứu hoạt động NCKH, nhiều tác giả đều nhắn mạnh việc đưa NCKH vào trường học sẽ thúc đẩy sự phát triển khoa học giáo dục, đem lại những tiến bộ vững chắc cho việc dạy học và giáo dục đồng thời nâng cao hiệu quả đào tạo. Có nhiều bài viết về hoạt động KHCN của trường đại học, cao đẳng được đăng trên các tạp chí đề cập tới các biện pháp nâng cao chất lượng KHCN gắn với đào tạo và thực tiễn kinh tế xã hội. Những kết quả nghiên cứu được công bố trên đã góp phần to lớn vào việc nâng cao chất lượng NCKH của giảng viên, sinh viên trong các trường Cao đẳng, Đại học. Những vấn đề chưa được giải quyết triệt để Mặc dù có rất nhiều bài viết, công trình nghiên cứu liên quan đến hoạt động NCKH nhưng chưa có tác giả nào đề cập sâu đến những nội dung liên quan đến hoạt động NCKH cũng như quản lý hoạt động NCKH của giáo viên THPT đồng thời đề ra những giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý hoạt động NCKH của giáo viên THPT.
14 Trên thực tế, nội dung chính liên quan đến hoạt động NCKH của giáo viên THPT chủ yếu là hoạt động viết sáng kiến kinh nghiệm, những năm gần đây là NCKH sư phạm ứng dụng và phong trào hướng dẫn học sinh tham gia cuộc thi khoa học kỹ thuật. Tuy nhiên, sáng kiến kinh nghiệm của giáo viên về bản chất chỉ là hoạt động đúc rút kinh nghiệm trong quá trình công tác, chưa mang đầy đủ các đặc trưng của hoạt động NCKH, chủ yếu phục vụ cho công tác thi đua, khen thưởng và đánh giá công chức, viên chức; số lượng sáng kiến kinh nghiệm của giáo viên hàng. năm nhiều nhưng ứng dụng vào thực tiễn rất hạn chế. Hoạt động NCKH sư phạm.
ứng dụng được ngành GDĐT quan tâm triển khai trong những năm gần đây, tuy nhiên số lượng giáo viên tham gia rất ít, mang tính tự phát. Hoạt động hướng dẫn học sinh tham gia hội thi khoa học kỹ thuật thực chất là NCKH của học sinh, giáo viên chỉ là người gợi mở, định hướng. Hoạt động này cho thấy năng lực NCKH của giáo viên chưa đáp ứng yêu cầu trong vai trò là người hướng dẫn học sinh NCKH. trong khi chính bản thân người giáo viên chưa thật sự quan tâm đầu tư đúng mức.
Những vấn đề cần phải tiếp tục nghiên cứu Trên cơ sở nghiên cứu những tài liệu liên quan hoạt động NCKH, những đường lối chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước và yêu cầu thực tiễn của công tác đổi mới căn bản giáo dục và đào tạo, kế thừa những thành quả nghiên cứu. trước đây, luận văn đi vào nghiên cứu sâu thực trạng quản lý hoạt động NCKH của giáo viên trường THPT tỉnh An Giang, từ đó tìm ra những biện pháp phù hợp nhằm. quản lý tốt hoạt động này trong thời gian tới. Các khái lệm cơ bản của đề 1.
Giáo viên trung học phổ thông Theo Điều 30, Điều lệ trường THCS, THPT và trường phô thông có nhiều cấp học ban hành kèm theo Thông tư số 12/2011/TT-BGDĐT ngày 28/3/2011 của Bộ trưởng Bộ GDĐT định nghĩa: “Giáo viên trường trung học là người làm nhiệm. vụ giảng dạy, giáo dục trong nhà trường, gồm: Hiệu trưởng, Phó Hiệu trưởng, Giáo viên bộ môn, Giáo viên làm công tác Đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh (Bí thư, Phó bí thư hoặc Trợ lí thanh niên, Cố vấn Đoàn), Giáo viên làm công tác tư vấn cho học sinh” [7] Theo Điều 31, Điều lệ Trường THCS, THPT và trường phổ thông có nhiều 1§ cấp học ban hành kèm theo Thông tư số 12/2011/TT-BGDĐT ngày 28/3/2011 của Bộ trưởng Bộ GDĐT, giáo viên bộ môn trường trung học có những nhiệm vụ sau. đây: Dạy học và giáo dục theo chương trình, kế hoạch giáo dục, kế hoạch dạy học của nhà trường theo chế độ làm việc của giáo viên do Bộ trưởng Bộ GDĐT quy. định; quản lý học sinh trong các hoạt động giáo dục do nhà trường tổ chức; tham gia các hoạt động của tổ chuyên môn; chịu trách nhiệm về chất lượng, hiệu quả giáo.
dục; tham gia nghiên cứu khoa học sư phạm ứng dụng,. [7] Hiện nay, ở các quốc gia phát triển, giáo viên được định nghĩa trong ba chức năng chính: Là Nhà giáo, Nhà khoa học và là Nhà cung cấp dịch vụ. Giáo viên - với vai trò là “Nhà giáo”, đây là vai trò truyền thống, nhưng quan trọng và tiên quyết. Ở vai trò này, với chức năng dạy học người giáo viên có nhiệm vụ trang bị cho học sinh những tri thức khoa học, các kĩ năng, kĩ xảo tương ứng về một lĩnh vực khoa học nhất định; phát triển phẩm chất trí tuệ cho học sinh, trang bị cho học sinh phương pháp luận, phương pháp NCKH và phương pháp tự học.
Giáo viên với vai trò là “Nhà khoa học”, người giáo viên thực hiện chức năng giải thích và dự báo các vấn đề của tự nhiên và xã hội mà loài người và khoa học chưa có lời giải. Một trong các mục tiêu cốt lõi của các cơ sở giáo dục phổ thông là mở rộng tri thức thông qua NCKH. Đội ngũ giáo viên được biết đến như một nguồn nhân lực có trình độ, bởi vậy ngoài việc dạy học người giáo viên còn phải chủ động tham gia NCKH. Việc tham gia NCKH giúp người giáo viên nâng cao chất lượng hoạt động giảng dạy; hướng dẫn học sinh NCKH hiệu quả hơn.
Ngoài ra, việc tham gia NCKH cũng góp phần nâng cao vị thế, uy tín, cũng như. cơ hội thăng tiến của người giáo viên. "Giáo viên với vai trò là Nhà cung cắp dịch vụ”, với vai trò này, giáo viên đóng vai trí là cầu nối giữa khoa học và xã hội, để đưa nhanh các kiến thức khoa học vào đời sống cộng đồng. là một chức năng khá quan trọng và có.
ý nghĩa lớn trong việc truyền bá kiến thức khoa học và nâng cao dân trí 1. Nghiên cứu khoa học ién nay có khá nhiều định nghĩa về NCKH, sau đây là một số khái niệm co bản nhật: Theo Điều 3, Khoản 4 Luật KHCN định nghĩa: “NCKH là hoạt động khám phá, phát hiện, tìm hiểu bản chất, quy luật của sự vật, hiện tượng tự nhiên, xã hội và tư duy sáng tạo giải pháp nhằm ứng dụng vào thực tiễn” [37] 16 'Theo tác giả Nguyễn Văn Đệ, Phạm Minh Hùng: “NCKH là hoạt động nhằm khám phá ra những cái mới về bản chất của đối tượng nghiên cứu, sáng tạo ra những phương pháp và phương tiện kĩ thuật mới cao hơn, giá trị hơn”.14] Tác giả Dương Văn Tiển đã viết: *NCKH là quá trình nhận thức chân lí khoa học, một hoạt động trí tuệ đặc thù bằng những phương pháp nghiên cứu nhất định để tìm kiếm, để chỉ ra một cách chính xác và có mục đích những điều mà con người chưa biết đến (hoặc biết chưa đây đủ), tức là tạo ra sản phẩm dưới dạng tri thức mới, có giá trị mới về nhận thức hoặc phương pháp”.