Chương 1: Cơ sở lí luận của việc dạy học môn Giáo dục học cho sinh vi n Đại học Sư phạm theo tiếp cận trải nghiệm. Chương 2: Thực trạng dạy học môn Giáo dục học cho sinh vi n Đại học Sư phạm theo tiếp cận trải nghiệm. Chương 3: Tổ chức dạy học môn Giáo dục học cho sinh vi n Đại học Sư phạm theo tiếp cận trải nghiệm. Chương 4: Thực nghiệm sư phạm.
CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA VIỆC DẠY HỌC MÔN GIÁO DỤC HỌC CHO SINH VIÊN ĐẠI HỌC SƢ PHẠM THEO TIẾP CẬN TRẢI NGHIỆM 1. Tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài Từ thời kỳ Hy lạp cổ ại, nhà giáo dục học lỗi lạc của nhân loại Khổng tử (551- 479 tr.CN) khẳng ịnh: “Những gì tôi nghe, tôi sẽ qu n; những gì tôi thấy, tôi sẽ nhớ; những gì tôi làm, tôi sẽ hiểu” [99]. Mục ích giáo dục từ quan iểm này chính là việc người dạy cần phải thiết kế và tổ chức các hoạt ộng cho người học trải nghiệm ể tạo ra tri thức, kinh nghiệm mới.CN) từng nói: “Với những việc chúng ta phải học hỏi trước khi làm, chúng ta h y học bằng cách làm chúng” [68]. Nhấn mạnh việc học phải bắt ầu từ chính hoạt ộng của người học, ó là cách học nhanh và hiệu quả nhất, qua ó ề cao vai trò tích cực của người học trong quá trình dạy học.
Trải qua các thời kỳ lịch sử, John Locke (1632-1704) nhà triết học và giáo dục học Anh thế kỷ XVII cho rằng: Mọi tri thức của con người ều rút ra từ cảm giác, từ kinh nghiệm sống. Đối với ông, việc quan sát, thực nghiệm.trải nghiệm thực tiễn là hết sức quan trọng vì nó là tiền ề cho sự khái quát lí thuyết [56, tr22]. Đây ược ánh giá là một tư tưởng giáo dục tiến bộ, chứng tỏ rằng việc coi trọng sự trải nghiệm của người học trong dạy học ược khẳng ịnh từ rất lâu trong lịch sử. Jean - Jacques Rousseau (1712-1778) là nhà giáo dục lớn của Pháp và thế giới thế kỷ XVIII.
Khi bàn về giáo dục, ông l n tiếng: “Tật xấu của những nhà giáo dục là luôn muốn dạy cho trẻ tất cả những gì mà tự nó có thể học ược… Hỡi những nhà giáo dục hăng say, các bạn h y giản dị, kín áo, ít nói… chỉ n n ể cho học trò của các bạn học bằng kinh nghiệm mà thôi” [14,tr66-67]. Qua ây cho thấy, việc coi trọng tính chủ thể và kinh nghiệm sẵn có của người học trong dạy học ược Rousseau ánh giá rất cao. Như vậy, không phải cho tới ngày nay, khi khoa học - kỹ thuật phát triển nhanh chóng, mạnh mẽ, xu thế hội nhập và nền kinh tế tri thức ngày càng mở rộng, khiến cho nhu cầu học vấn của người học tăng l n một cách a dạng và có chọn lọc, òi hỏi phải dạy học theo tiếp cận trải nghiệm, mà ngay từ thời cổ ại cho ến thế kỷ XVIII, các nhà giáo dục lớn rất quan tâm và ề cao vai trò của học qua làm, 9 qua trải nghiệm.Tuy nhi n, những quan niệm tiến bộ tr n về vấn ề này mới chỉ là manh nha tự phát của một vài cá nhân ti u biểu, nó chưa trở thành trào lưu có tầm ảnh hưởng sâu rộng tới nền giáo dục ương ại. Cho ến những năm cuối thế kỷ XIX, trong hệ thống lí luận về giáo dục, nhiều tác giả sử dụng thuật ngữ: Học qua làm, học qua thực hành, học qua trải nghiệm.
ều muốn chỉ ra phương thức học tập hiệu quả, gắn với vận ộng, với thao tác vật chất, với thực tế, n n các thuật ngữ này dùng thay cho nhau. Điều này cho thấy chân dung của học tập qua trải nghiệm hòa trộn với các phương thức học tập khác, chưa có quan niệm thực sự tường minh về vấn ề này. Vì thế trong phần khái lược lịch sử nghi n cứu về học tập qua trải nghiệm và dạy học theo tiếp cận trải nghiệm, chúng tôi chỉ tập trung vào những nghi n cứu từ khoảng nửa ầu thế kỷ XX cho ến nay. Những nghiên cứu về học tập qua trải nghiệm Mặc dù tư tưởng về trải nghiệm trong dạy học ược ề cập từ rất lâu.
Nhưng lí thuyết học tập qua trải nghiệm mới ược xây dựng từ những năm ầu thế kỷ XX, John Dewey, Jean Piaget, Kurt Lewin là những người ại diện lớn của lí thuyết này. B n cạnh ó, William James, Carl Jung, Paulo Freire, Carl Rogers, D. là những người có những óng góp áng kể cho việc phát triển lí thuyết học tập qua trải nghiệm. John Dewey (1859- 1952) là nhà Triết học, Tâm lí học và là nhà Giáo dục thực dụng nổi tiếng của Mĩ.
Triết lí giáo dục của ông có ảnh hưởng lớn trong tiến bộ giáo dục và cải cách x hội Mĩ và trở thành trào lưu rộng lớn ở Canada và Tây Âu, ông là người ầu ti n xây dựng lí thuyết học tập qua trải nghiệm và lí thuyết này phản ánh rõ nét trong cuốn sách “Kinh nghiệm và giáo dục”. Trong nghi n cứu của mình, Dewey luôn ề cao vai trò của sự trải nghiệm ở mỗi người, với ông: “Không có một nội dung hoặc giá trị giáo dục hoặc hệ giá trị bản thân mang tính tuyệt ối, bất biến ược áp ặt từ b n ngoài vào cho trẻ. Mọi thứ ều phải do từng cá nhân tự mình tìm ra, khi trẻ tự mình trải nghiệm thì chúng mới tìm ra giá trị của iều chúng trải nghiệm. Bởi vì, giá trị là iều ược thấy trong khi cảm thụ, ánh giá cao hoặc ánh giá thấp một sự vật chứ không phải là giá trị tự thân, giá trị nằm b n trong sự vật” [6, tr17].
Ông tin rằng: Học tập qua trải nghiệm có thể ược sử dụng như cầu nối giữa lí luận và thực tiễn, giữa cá nhân và môi trường, n n cần có phán oán và 10 quan sát trước khi ưa ra hành ộng và hành ộng là nhân tố thiết yếu ể ạt ược mục ti u. Cách lập luận như vậy về học tập qua trải nghiệm, khiến cho tư tưởng của ông không chỉ có giá trị về mặt lịch sử mà còn là bài học bổ ích ối với nhà trường hiện ại. Năm 1932 ông sang ịnh cư tại Mĩ, bằng các nghi n cứu lí luận và thực nghiệm của mình, ông trở thành nhà Tâm lí học. Khi nghi n cứu về vấn ề học tập và các chiến lược hướng vào cá nhân.
Ông tin rằng: mọi cá nhân học tốt nhất khi có sự mâu thuẫn giữa tư tưởng tách rời và kinh nghiệm cụ thể của họ [100]. B n cạnh ó, thông qua các tác nhân của nhóm, người học òi hỏi phải biến ổi nhận thức ể thay ổi chính mình. Mô hình học tập của Lewin gồm 4 giai oạn: 1/Kinh nghiệm cụ thể; 2/Quan sát và phản hồi; 3/Hình thành khái niệm trừu tượng và khái quát hóa; 4/ Những tác ộng thử nghiệm [84,tr21]. Mô hình này nhấn mạnh hai khía cạnh ặc biệt giá trị.
Đầu ti n, nhấn mạnh kinh nghiệm cụ thể là ti u iểm của học tập, ưa cuộc sống, ý nghĩa chủ quan của cá nhân ến với khái niệm trừu tượng và khái quát hóa, khái niệm mới sẽ ược chia sẻ cộng ồng ể ánh giá tính ứng dụng và giá trị của ý tưởng ược sáng tạo trong quá trình học tập. Khía cạnh thứ hai: nghi n cứu hành vi là dựa tr n quá trình phản hồi thông tin nhằm cung cấp các ánh giá tác ộng của hành vi và ịnh hướng mục ti u hành vi tiếp theo. Rõ ràng, Lewin rất quan tâm ến sự tích hợp giữa lí thuyết và thực hành, ồng thời chú trọng ến những giá trị kinh nghiệm chủ quan của cá nhân trong học tập. Đây ược coi là nền tảng trí tuệ cho sự phát triển lí thuyết học tập qua trải nghiệm vào những năm cuối thế kỷ XX.
Như vậy, quan niệm của Lewin tương tự như Dewey ều nhấn mạnh học tập là quá trình biện chứng kết hợp giữa kinh nghiệm và khái niệm, quan sát và hành ộng, giữa lí thuyết và thực hành, giữa cá nhân và môi trường. Jean Piaget (1896-1980) là nhà Triết học, nhà Tâm lí học Thụy sĩ nổi tiếng với những nghi n cứu nhận thức luận về trẻ em. Theo ông: việc học luôn xuất phát từ sự tương tác của cá nhân với môi trường. Quan niệm này giống quan niệm của Dewey và Lewin, song có sự khác biệt là, mô hình học tập của ông gồm các giai oạn tuyến tính, không ề cập ến học tập người lớn mà chỉ giới hạn các giai oạn học tập dựa tr n ộ tuổi của trẻ.
Theo ông, sự phát triển nhận thức của mỗi ứa trẻ 11 phải trải qua 4 giai oạn: Cảm giác- vận ộng (sơ sinh- 2 tuổi); tiền thao tác cụ thể (2-6 tuổi); thao tác cụ thể (7-11 tuổi); thao tác hình thức (12-15 tuổi) [29]. Ông cho rằng, kiến thức không phải là bẩm sinh mà là sản phẩm của hành ộng. Vì vậy, lí thuyết của ông luôn mô tả cách trí thông minh ược ịnh hình từ trải nghiệm.Kolb là nhà Giáo dục Mĩ, năm 1984 ông phát triển từ nghi n cứu của Dewey, Lewin, Piaget. ể ưa ra lí thuyết học tập qua trải nghiệm và cho xuất bản cuốn sách nổi tiếng: Học tập qua trải nghiệm: Kinh nghiệm là nguồn gốc của học tập và phát triển [84].
Lí thuyết này ược ứng dụng tr n toàn thế giới, ặc biệt là ở những nước Tây Âu. Trong nghi n cứu của mình, Kolb ưa ra mô hình học tập qua trải nghiệm ể ứng dụng vào dạy học. Theo ông: mỗi người học muốn có kinh nghiệm mới phải thông qua các thao tác hành vi, hành ộng trực tiếp với ối tượng, với môi trường tr n cơ sở xuất phát từ kinh nghiệm sẵn có của họ, iểm này giống với Dewey, Lewin, Piaget và khắc phục ược iểm yếu của lí thuyết hành vi là phủ nhận kinh nghiệm chủ quan của người học trong quá trình học tập. Ngoài ra, Kolb còn nhấn mạnh, quá trình học tập qua trải nghiệm luôn gắn với cảm xúc của cá nhân, quan niệm này khắc phục ược iểm yếu của Piaget là nhấn mạnh sự nhận thức hơn là cảm xúc cá nhân trong học tập.
Khi phát triển và ứng dụng lí thuyết học tập qua trải nghiệm, quan niệm của các tác giả a phần ều ề cao kinh nghiệm chủ quan và cảm xúc cá nhân trong học tập. Do vậy, cần kích thích sự trải nghiệm một cách tích cực thông qua tổ chức sự tương tác giữa người học với môi trường, tạo không khí học tập cởi mở, lành mạnh nhằm giúp người học huy ộng kinh nghiệm sẵn có ể giải quyết tốt nhiệm vụ học tập.