đặt vấn đề, tự giải quyết vấn đề và tự nghiên cứu. Từ đó, phát huy tính nàng động, tự giác và lòng say mê nghiên cứu khoa học trong môn học. Dạy học định hướng phát triển năng lực 1. Khái niệm năng lực Năng lực có thể được định nghĩa và hiểu theo nhiều cách khác nhau, tuỳ thuộc vào ngữ cảnh, lĩnh vực, thời điểm cụ thể.
Theo từ điển tiếng việt, năng lực là khả năng, điều kiện chủ quan hoặc tự nhiên sẵn có đế thực hiện một hoạt động nào đó. [14] Theo Bemd Meier và Nguyễn Văn Cường: “Năng lực là một thuộc tỉnh tăm lý phức hợp, là điêm hội tụ của nhiều yếu tố như tri thức, kĩ năng, kĩ xảo, kinh nghiêm, sự sẵn sàng hành động và trách nhiệm đạo đức ” [6] Theo chương trình giáo dục phổ thông tồng thể, năng lực là thuộc tỉnh cá nhân được hình thành, phát triển nhờ tố chất sẵn có và quả trình học tập, rèn luyện, cho phép con người huy động tông họp các kiến thức, kĩ năng và các thuộc tỉnh cá nhân khác như hứng thú, niềm tin, ý chí,. thực hiện thành công một loại hoạt động nhất định, đạt kết quả mong muốn trong những điểu kiện cụ thể. [3] 7 Như vậy năng lực là một thuộc tính cá nhân, là điếm hội tụ của nhiều yếu tố như kiến thức, kĩ năng, kinh nghiệm, niềm tin, ý chí,.cho phép con người thực hiện thành công một hoạt động nào đó.
Năng lực không chỉ gồm những đặc tính bấm sinh, mà còn được hình thành và phát triển nhờ quá trình học tập và rèn luyện không ngừng nghỉ của mỗi người. Đặc điểm của năng lực Như đã nói ở trên, năng lực là một thuộc tính cá nhân, phản ánh quá trình học tập, rèn luyện của mỗi người khi thực hiện một hành động nào đó để đạt được kết quả. Từ đó, có thể thấy năng lực gồm các đặc điểm sau : Nàng lực được tích họp từ kiến thức, kỹ năng, thái độ [8]. Kiến thức là những hiếu biết, thông tin và nhận thức của một người về thế giới xung quanh.
Kiến thức chính là nền tảng cho năng lực. Kỹ năng là khả năng thực hiện các nhiệm vụ hoặc công việc cụ thế một cách hiệu quả và thành thạo. Thái độ là tư duy và cách tiếp cận công việc. Thái độ tích cực có thê tạo điều kiện thuận lợi cho việc sử dụng kiến thức và kỹ năng một cách hiệu quả, từ đó phát triển được năng lực.
Năng lực thường được áp dụng để đạt được mục tiêu cụ thể hoặc hoàn thành một nhiệm vụ nhất định, phục vụ một mục đích rõ ràng và có thế đo lường được dựa trên mức độ đạt được thông qua các tiêu chí đánh giá các mục tiêu này. [10] Năng lực có thể phát triền được. Năng lực không phải lúc nào cũng ổn định mà có thể được phát triển và điều chỉnh để đáp ứng các yêu cầu và thách thửc thay đổi. Khả năng thích ứng và phát triển nãng lực giúp con người duy trì sự hiệu quả và tạo ra giá trị trong môi trường biến đổi.
Cẩu trúc của năng lực Có nhiều loại năng lực khác nhau, cấu trúc chung năng lực được mô tà là sự kết hợp của 4 năng lực thành phần: năng lực chuyên môn, năng lực phương pháp, năng lực xã hội, năng lực cá thề:[8] 8 Hình 1. Mô hình câu trúc năng lực Nâng lực cá thê ^TolOiiTiiỀ rtMMWft Nãng lực chuyên môn Năng lực xã hội Năng lực phtTơng pháp PvofnMMMl M1HMI rarapvtrRTY Năng lực hành động Nàng lực chuyên môn[8 là khả năng thực hiện các nhiệm vụ chuyên môn cũng như khả năng đánh giá kêt quả chuyên môn một cách độc lập, có phương pháp và chính xác về mặt chuyên môn. Trong đó bao gồm cả khả năng tư duy logic, phân tích, tống hợp, trừu tượng hoá, khả năng nhận biết các mối quan hệ hệ thống và quá trình. Năng lực phương pháp là khả năng đôi với những hành động có kê hoạch, định hướng mục đích trong việc giải quyết các nhiệm vụ và vấn đề, bao gồm khả năng xác định và thiết lập kế hoạch chi tiết đế thực hiện công việc và giải quyết vấn đề, khả năng đặt mục tiêu và hướng dẫn công việc theo hướng mục đích cụ thế và rõ ràng, khả năng sử dụng các phương pháp hệ thống để giải quyết nhiệm vụ và vấn đề, áp dụng quy trình có kế hoạch để đạt được mục tiêu, xác định ưu tiên công việc và đảm bảo tiến độ được duy trì theo kế hoạch.
Năng lực phương pháp giúp con người tổ chức công việc một cách có hệ thống và mục đích hóa hành động. Việc sử dụng phương pháp cụ thể và kế hoạch định hình hành vi làm việc và đảm bảo rằng các nhiệm vụ và mục tiêu được thực hiện một cách có tô chức và có hiệu quả [8]. Năng lực xã hội là khả năng đạt được mục đích trong những tình huông xã hội cũng như trong những nhiệm vụ khác nhau trong sự phối hợp sự phối hợp chặt chẽ với nhũng thành viên khác. Năng lực xã hội bao gồm khả năng hiểu và thích úng với 9 các tinh huống xã hội khác nhau để đạt được mục tiêu, khả năng làm việc nhóm và phối họp chặt chẽ với thành viên khác trong môi trường làm việc, khả năng truyền đạt ý kiến và thông tin một cách rõ ràng và hiệu quả, hiểu và đáp úng đúng cách đối với các thông điệp của người khác, khả năng giải quyết xung đột và các mối quan hệ [8].
Nàng lực cá thế là khả năng xác định, đánh giá được những cơ hội phát triển cũng như những giới hạn của cá nhân, phát triền năng khiếu, xây dựng và thực hiện kế hoạch phát triển cá nhân, những quan điểm, chuẩn giá trị đạo đức và động cơ chi phối các thái độ và hành vi ứng xử [10]. Từ cấu trúc của năng lực cho thấy giáo dục định hướng phát triển năng lực không chi nhằm mục tiêu phát triển năng lực chuyên môn bao gồm tri thức, kỹ năng chuyên môn mà còn phát triển năng lực phương pháp, năng lực xã hội và năng lực cá thế. Những năng lực này không tách rời nhau mà có mối quan hệ hừu cơ chặt chẽ. Năng lực hành động được hình thành trên cơ sở có sự kết hợp các năng lực này.
Vai trò của việc dạy học phát triển năng lực cho HS Bước sang thể kỉ 21, tốc độ phát triển của xã hội hết sức nhanh chóng với những biến đổi liên tục và sự tăng khối lượng tri thức một cách nhanh chóng, đặc biệt trong các lĩnh vực thông tin truyền thông, công nghệ vật liệu, điện/điện tử tự động hóa, phương pháp tiếp cận nội dung dần trở nên lạc hậu. Đe chuẩn bị cho thế hệ trẻ đối mặt và đứng vững trước những thách thức cùa đời sống, vai trò của giáo dục ngày càng trở nên quan trọng. Thay đổi, sửa sang, cải tiến chương trinh, thậm chí cải cách giáo dục đã được nhiều quốc gia và cả Việt Nam tiến hành. Có khá nhiều mục tiêu được đặt ra khi đổi mới chương trinh.
Xu thể thiết kể chương trinh theo hướng tiếp cận và phát triến năng lực được bộ giáo dục, vận dụng chương trinh giáo dục phô thông tổng thể. Tiếp cận năng lực chù trương giúp người học không chỉ biết học thuộc, ghi nhớ mà còn phải biết làm thông qua các hoạt động cụ thể, sử dụng những tri thức học được để giải quyết các tình huống trong cuộc sống. Phát triển năng lực giúp HS thích nghi và thành công trong môi trường học tập cũng như trong cuộc sống. Khi các em có kiến thức, kỹ năng, và thái độ phù họp, các em có khả năng nhận thức, tiếp thu bài giảng tốt hon, tham gia tích cực các 10 hoạt động học tập trên lớp và đạt điểm số cao hơn.
Phát triển năng lực cho HS cũng giúp các em có thế tự đặt ra mục tiêu, lập kể hoạch, và thực hiện nhiệm vụ, giải quyết vấn đề một cách hiệu quả. Khi HS nhận thấy mình có khả năng giải quyết vấn đề và đối mặt với thách thức, các em sẽ cảm thấy tự tin hơn trong việc học tập và trong cuộc sống hàng ngày. Việc phát triển năng lực không chỉ giúp HS đối mặt với thách thức học tập hiện tại mà còn chuấn bị cho tương lai. Các kỳ năng quản lý thời gian, giao tiếp, và tư duy logic HS được hình thành và phát triển cũng là những công cụ quý báu khi HS bước vào cưộc sống sau này, giúp HS trở thành những công dân toàn diện, có khả năng đóng góp tích cực cho đất nước, cho xã hội.
Phát triển năngƯ lực • • cho học tự• học • sinh ờ trường ơ THPT 1. Khái niệm • tự • học • Tự học là quá trình mà người học tự chủ, tự nguyện tìm hiểu, nghiên cứu, và học hỏi mà không cần sự hướng dẫn hoặc giảng dạy từ người khác. Người học tự động tìm kiểm tài liệu, thực hành và áp dụng kiến thức, và đánh giá tiến trình học tập. Tự học thường xảy ra dưới nhiều hinh thức, bao gồm đọc sách, xem video, tự làm bài tập, các nhiệm vụ học tập cúa bản thân.
Tự học thường đòi hởi sự tự’ quản lý và tự thúc đẩy, khả năng tìm kiếm thông tin và tài liệu cần thiết, thậm chí là khả năng tự đánh giá tiến trình học tập. Tự học áp dụng được trong nhiều lĩnh vực và liên quan đến việc phát triển kiến thức chuyên môn, kỹ năng cá nhân, hoặc bất kỳ lĩnh vực nào người học quan tâm. Tự học là một phần quan trọng của quá trình học tập suốt đời và phát triển bản thân. Knowles, một chuyên gia hàng đầu về lý thuyết học tập của người trưởng thành đã đưa ra định nghĩa về tự học trong cuốn sách cùa ông, định nghĩa này được sử dụng rộng rãi trong các nghiên cứu về giáo dục học: “ Tự học là một quá trình mà người học có khả năng tự thực hiện các hoạt động học tập, có thê cần hoặc không cần sự hồ trợ của người khác, dự đoán được nhu cầu học tập của bản thân, xác định được mục tiêu học tập, phát hiện ra nguồn tài liệu, giúp ích, hỗ trợ cho quá trình học tập, biết lựa chọn và thực hiện chiến lược học tập và đánh giá được kết quả thực hiện”.
[37] Năng lực tụ’ học là khả năng của người học thực hiện các hoạt động tự học.