CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ ĐỘI NGŨ TỔ TRƯỞNG CHUYÊN MÔN Ở TRƯỜNG TIỂU HỌC 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Các nghiên cứu ở nước ngoài 1) Các nghiên cứu về đội ngũ giáo viên, đội ngũ tổ trưởng chuyên môn * Các nghiên cứu về đội ngũ giáo viên ĐNGV là nhân tố quyết định trực tiếp chất lượng của GD. Chính vì vậy, những nghiên cứu về ĐNGV theo hướng đáp ứng những yêu cầu đổi mới giáo dục luôn nhận được sự quan tâm của nhiều nước trên thế giới.
Trong một nghiên cứu trên 8 GV và 92 HS tiểu học ở Mỹ, Iwata (2013) đã chỉ ra rằng sự tự chủ chuyên môn của GV có khả năng dự báo đến tính sáng tạo của người học. Những GV có sự tự chủ chuyên môn cao thì khả năng sáng tạo của HS cũng cao. Tương tự, nghiên cứu của Jen-Chia và Yu-Mei (2009) cũng cho thấy tính tự chủ của GV có khả năng dự báo mạnh mẽ đến tính sáng tạo của người học (Iwata, 2013). Yusuf Kilinç Marmara (2013) đã tiến hành dự án nâng cao năng lực sử dụng phương pháp và kỹ thuật dạy học địa lý cho các sinh viên sư phạm tương lai.
Trong dự án này, sinh viên năm thứ ba và thứ tư của Khoa Giáo dục - Đại học Marmara được tham gia vào các khóa huấn luyện đặc biệt về năng lực dạy học môn địa lý, cụ thể gồm có: sử dụng phương tiện trực quan, sử dụng các nghiên cứu trường hợp, điều khiển bằng giọng nói, thiết lập, đối thoại với HS, kiểm soát lớp học, hỏi và trả lời câu hỏi về địa lý, sử dụng bảng đen, kỹ năng bản đồ. Sau đó, các giáo viên tương lai này được dạy trên những lớp mẫu. Kết quả pre-test và post-test cho thấy những khóa huấn luyện này thực sự đã giúp sinh viên cải thiện rất nhiều về năng lực dạy học địa lý (Marmara, 2013). 11 Một dự án khác mang tầm vĩ mô hơn được mô tả trong nghiên cứu của Linyuan Guo (2014) “Preparing Teachers to Educate for 21 Century Global Citizenship: Envisioning and Enacting”.
Dự án này đào tạo cử nhân sư phạm trong ba năm với sự hợp tác của Khoa Giáo dục của ĐH Prince Edward Island (UPEI) and UNICEF của Canada, với một chương trình đào tạo đặc biệt để các GV tương lai có thể có đầy đủ phẩm chất và năng lực dạy học và giáo dục công nhân toàn cầu của thế kỷ 21 (Guo, 2014). Những phát hiện từ nghiên cứu này chỉ ra những cơ hội độc đáo và thách thức phải đối mặt với các GV trong việc học để giáo dục cho công dân toàn cầu và sự cần thiết việc tích hợp chương trình giáo dục công dân toàn cầu trong chương trình đào tạo GV thông qua một phương pháp tiếp cận toàn diện. Những công trình nghiên cứu nêu trên đã xác định các phẩm chất và năng lực của người GV về trình độ chuyên môn, kỹ năng, tay nghề, cách tiếp cận giao tiếp với HS, phương pháp giảng dạy, cách thức quản lý… Bên cạnh đó, các nghiên cứu về xây dựng các chương trình, biện pháp tác động nâng cao năng lực và phẩm chất cho GV nhằm bồi dưỡng ĐNGV đạt chuẩn ngày càng cao phù hợp với những yêu cầu của nghề trong thời đại mới. * Các nghiên cứu về đội ngũ tổ trưởng chuyên môn Trong bài viết “Vai trò và nhiệm vụ của Tổ trưởng bộ môn trong trường trung học ở nước Anh và Xứ Wales: một lĩnh vực nghiên cứu bị lãng quên”, tác giả C.
Turner (2006) đã chỉ ra rằng: “chỉ tìm thấy một mối quan hệ rời rạc giữa kiến thức của Tổ trưởng bộ môn đối với các quy trình dạy và học. Không có nghiên cứu nào có thể tìm thấy mối quan hệ trực tiếp liên quan đến hai khía cạnh này”, nhưng một số gợi ý cũng đã được tác giả đưa ra có thể giúp định hướng nghiên cứu trong tương lai (C. Chris Turner và Ray Bolam (2010) khi “Phân tích vai trò của Tổ trưởng bộ môn trong trường trung học ở nước Anh và Xứ Wales” đã dựa trên nền tảng lý thuyết cơ bản, tiến hành khảo sát công việc của Tổ trưởng bộ môn 12 trong trường trung học, đặc biệt là nếu họ chủ động để gây ảnh hưởng đến chất lượng dạy và học của họ, đã phát triển một mô hình tạm thời mà có thể làm sáng tỏ hơn về cách tổ trưởng bộ môn thực sự làm việc với các đội ngũ khác” (Chris Turner và Ray Bolam, 2010). Theo tác giả Trail, K thì nhiệm vụ và trách nhiệm của Trưởng khoa (Bộ môn/ Nhóm các trưởng bộ môn) sẽ bao gồm những nội dung sau đây: - Thực hiện các nhiệm vụ của GV và Trưởng một khoa cho một bộ môn hoặc nhóm bộ môn cụ thể; - Tích cực hỗ trợ HT trường trong việc bảo đảm thực hành chuyên môn tốt, đúng tiêu chuẩn, chất lượng giảng dạy và học tập của môn học thông qua đối thoại phù hợp với các GV dạy lớp, và dưới sự chỉ đạo của cán bộ giáo dục liên quan, thúc đẩy quá trình lành mạnh của đối ứng quan sát không chính thức về các hoạt động giảng dạy lớp; - Tư vấn và góp phần phát triển chương trình giảng dạy ở trình độ trường học và hệ thống dưới sự chỉ đạo và hướng dẫn của các cán bộ giáo dục tương ứng; - Phối hợp việc giảng dạy và học tập của các môn học với người chịu trách nhiệm; - Thiết lập các giấy tờ kiểm tra, phối hợp đánh dấu các chương trình và điều chỉnh thi cử, quy trình đánh giá tại trường của một người cũng như ở các trường khác; - Đảm bảo cung cấp kịp thời và đầy đủ sách giáo khoa, tài liệu, thiết bị cần thiết cho việc giảng dạy hiệu quả của các bộ môn trên khắp các khoa tại trường đại học; - Đảm bảo rằng việc duy trì và bảo trì các thiết bị liên quan đến các môn học ở trường được thực hiện thường xuyên; - Chuẩn bị kỹ thuật và ngân sách cho các yêu cầu của các công cụ của bộ môn, thiết bị giảng dạy cụ thể, bao gồm thiết bị phòng thí nghiệm; 13 - Tổ chức và lãnh đạo các cuộc họp khoa thường xuyên và đảm bảo việc lưu biên bản; - Khuyến khích tham gia vào các dự án EU và các dự án khác phù hợp với các mục tiêu SDP và theo thoả thuận với đội ngũ quản lý cấp cao (Trail, K.
Những nghiên cứu trên đây nói lên vai trò và nhiệm vụ của TTCM là cần thiết và quan trọng đối với việc QLNT. Tuy nhiên, các nội dung này vẫn đang ít được quan tâm, cần tiếp tục triển khai nghiên cứu thêm trong thời gian tới. * Các nghiên cứu về điều kiện cần có của người TTCM Hệ thống hóa các công trình nghiên cứu của các nhà Tâm lý học, Giáo dục học, các tác giả đều thống nhất nhận định chung: Kỹ năng sư phạm được xem xét như là một thành phần thiết yếu tạo nên năng lực sư phạm. Các tác giả thống nhất quan điểm rằng hoạt động sư phạm là một hoạt động rất phức tạp, có đối tượng là con người nên GV muốn đạt hiệu quả cao trong công tác dạy học và giáo dục HS thì cần phải có năng lực sư phạm.
Như vậy, năng lực sư phạm được coi là một yếu tố trong cấu trúc nhân cách của GV và CBQL giáo dục.Gônôbôlin đưa ra một hệ thống gồm 10 năng lực sư phạm điển hình của người GV.Kuzơmina trong “Sự hình thành các năng lực sư phạm” đã nêu 5 nhóm năng lực sư phạm cơ bản là: Nhóm năng lực nhận thức; Nhóm năng lực thiết kế; Nhóm năng lực kết cấu; Nhóm năng lực giao tiếp; Nhóm năng lực tổ chức và tác giả cũng đã trình bày 35 kỹ năng thành tố của 5 nhóm năng lực này. Về vấn đề kỹ năng quản lý trường học, trong nhiều tác phẩm, tài liệu, sách, giáo trình về khoa học quản lý, khoa học quản lý giáo dục, các tác giả ngoài nước như Harold, M.Kônđakôp, Pam Robbins Harvey B.Hoy… đã đề cập đến các chức năng quản lý giáo dục, quản lý trường học gồm các chức năng: lập kế hoạch, tổ chức thực hiện, chỉ đạo và 14 kiểm tra. Những chức năng quản lý này sẽ định hướng cho việc xác định hệ thống kỹ năng cần thiết của người TTCM. Tuy nhiên, đối với tình hình giáo dục của đất nước ta nói chung và giáo dục ở khu vực ĐBSCL nói riêng, việc xác định những năng lực cần thiết của người TTCM cần mang tính khái quát hơn, bao gồm các lĩnh vực phẩm chất đạo đức chính trị, năng lực quản lý, năng lực chuyên môn,… các vấn đề này sẽ được chúng tôi nghiên cứu và trình bày trong nội dung luận án.
Nghiên cứu về vai trò, nhiệm vụ của TTCM cho thấy vai trò của TTCM hỗ trợ HT, với nhiệm vụ phát triển chương trình giảng dạy, phối hợp với các TTCM khác, việc giảng dạy và học tập, thiết lập các giấy tờ kiểm tra về điều kiện cần có của người TTCM. 2) Các nghiên cứu về quản lý đội ngũ tổ trưởng chuyên môn Các nghiên cứu về phát hiện, bồi dưỡng Nghiên cứu về vai trò QL của HT đối với hoạt động chuyên môn ở nhà trường, SREM - Tài liệu dùng cho CBQL trường phổ thông - Sơ lược lịch sử giáo dục Việt Nam và một số nước trên thế giới đề cập đến một trong những cải cách chính gần đây của nền giáo dục nước Pháp là: “Kể từ năm 1999, Giám đốc cơ quan quản lý giáo dục đã được phân quyền quản lý GV, theo đó họ có thêm trách nhiệm mới và quan trọng là phân công các vị trí công tác, nâng chức và luân chuyển GV trong phạm vi khu vực giáo dục của họ. Từ năm 2001 ngành giáo dục có các kế hoạch nhằm hỗ trợ chuyên môn cho những GV tiểu học và trung học mới vào nghề cũng như có hoạt động đào tạo tại chức cho những GV này” (Dự án Hỗ trợ đổi mới quản lý giáo dục do Cộng đồng Châu Âu tài trợ, 2000). Kinh nghiệm trên cho thấy vai trò của HT trong việc phát hiện và bồi dưỡng đội ngũ là rất quan trọng, có ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng công việc của các bộ phận và hiệu quả đào tạo của nhà trường.
Tuy nhiên, việc phát hiện và bồi dưỡng đội ngũ dựa vào những căn cứ nào, cần bồi 15 dưỡng những nội dung gì để đội ngũ có khả năng đảm nhận và thực hiện đúng nhiệm vụ được giao? Vấn đề này chưa thấy các tài liệu trên đề cập đến. Đây cũng là vấn đề mà chúng tôi quan tâm và sẽ đề cập đến trong nội dung của luận án.