Mở đầu Nội dung Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về quản lý hoạt động dạy học của giáo viên khối mẫu giáo tại trƣờng mầm non tƣ thục Chƣơng 2: Thực trạng quản lý hoạt động dạy học của giáo viên khối mẫu giáo tại một số trƣờng mầm non tƣ thục trong địa bàn thị xã Dĩ An tỉnh Bình Dƣơng Chƣơng 3: Một số biện pháp nâng cao công tác quản lý hoạt động dạy học của giáo viên khối mẫu giáo tại một số trƣờng mầm non tƣ thục trong địa bàn thị xã Dĩ An tỉnh Bình Dƣơng Kết luận - Kiến nghị 7 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC CỦA GIÁO VIÊN KHỐI MẪU GIÁO TẠI TRƢỜNG MẦM NON TƢ THỤC 1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề 1. Những nghiên cứu ở nước ngoài Giáo dục mầm non đƣợc xem là giai đoạn nền tảng có ảnh hƣởng mạnh mẽ đến sự phát triển năng lực và nhân cách của trẻ em sau này. Trong đó hoạt động giảng dạy của giáo viên khối mẫu giáo đóng vai trò quan trọng vì đây là giai đoạn mà trẻ phát triển khối lƣợng tri thức, kỹ năng sống hình thành nhân cách.
Chính vì vậy, các quốc gia trên thế giới đều quan tâm rất sớm đến việc nghiên cứu làm sao có thể quản lý hoạt động dạy học của giáo viên một cách hoàn thiện, hiệu quả, vừa tạo động lực, cảm hứng để giáo viên thực hiện tốt công tác giảng dạy cũng nhƣ giúp phát huy tối đa khả năng độc lập tƣ duy, cá tính và sức sáng tạo ở mỗi trẻ em. Từ cuối thế kỷ XIV, vấn đề dạy học và quản lý hoạt động dạy học (HĐDH) đã đƣợc nhiều nhà giáo dục quan tâm, nổi bật nhất trong thời kỳ đó là: nhà giáo dục vĩ đại ngƣời Nga Jan Amos Komenxki (1592 – 1670) với tác phẩm Khoa sư phạm vĩ đại (1632) đã đƣa ra quan điểm giáo dục phải thích ứng với thiên nhiên. Theo ông, quá trình dạy học để truyền thụ và tiếp nhận tri thức là phải dựa vào sự vật, hiện tƣợng do học sinh tự quan sát, tự suy nghĩ mà hiểu biết, không nên dùng uy quyền bắt buộc, gò ép ngƣời ta chấp nhận bất kỳ một điều gì. Ông cũng nêu ra một số nguyên tắc dạy học có giá trị rất lớn đó là: nguyên tắc trực quan, nguyên tắc phát huy tính tự giác tích cực của học sinh, nguyên tắc giảng dạy theo khả năng tiếp thu của học sinh [31].
Từ cuối thế kỷ XIX đến đầu thế kỷ XX, khoa học giáo dục đã thực sự có sự biến đổi cả về lƣợng và chất. Trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác- Lênin, các nhà nghiên cứu giáo dục đã đi sâu nghiên cứu về vai trò và trách nhiệm của đội ngũ cán bộ quản lý trong việc quản lý HĐDH trong nhà trƣờng. 8 Xtrezicodin, Jaxapov đã nghiên cứu và đề ra một số vấn đề quản lý (QL) của hiệu trƣởng nhƣ vấn đề phân công nhiệm vụ giữa Hiệu trƣởng và phó hiệu trƣởng. Các tác giả đã thống nhất và khẳng định Hiệu trƣởng phải là ngƣời lãnh đạo toàn diện và chịu trách nhiệm trong công tác QL nhà trƣờng [22].
Saxerdotop đã đi sâu nghiên cứu công tác lãnh đạo hoạt động giảng dạy, giáo dục trong nhà trƣờng và xem đây là khâu then chốt trong công tác quản lý của hiệu trƣởng. Các tác giả đều khẳng định: kết quả toàn bộ hoạt động quản lý của nhà trƣờng phụ thuộc rất nhiều vào việc tổ chức đúng đắn và hợp lý hoạt động giảng dạy của đội ngũ giảng viên [22]. Lindberg và Swedlow đã định nghĩa: “Một ngƣời giáo viên chuyên nghiệp là ngƣời cam kết sẽ duy trì và phát triển xã hội thông qua việc giúp những ngƣời khác có đƣợc chất lƣợng cuộc sống khá hơn” [25]. Họ còn cho rằng, ngƣời giáo viên chuyên nghiệp cần đáp ứng đƣợc các yêu cầu về chuyên môn thông qua việc học tập và làm việc thực tế.
Một đặc điểm khác của giáo viên mầm non chuyên nghiệp là không ngừng tiếp thu kiến thức mới để có đƣợc nền tảng kiến thức vững chắc trong lĩnh vực chuyên môn của mình, “là những người làm việc trong một nghề mà họ có ý thức tôn trọng đối với những điều mình làm… và không ngừng nỗ lực để duy trì và phát triển nhằm thoả mãn những tiêu chuẩn cao hơn không chỉ vì bản thân họ mà còn vì nghề họ đang làm” [22]. Ngày nay, mục tiêu của quá trình dạy học là đảm bảo và nâng cao chất lƣợng đào tạo. Chính vì vậy, bên cạnh những nhà nghiên cứu về giáo dục, trong thực tiễn đã có nhiều trƣờng quan tâm, nghiên cứu việc quản lý HĐDH để tìm ra biện pháp quản lý phù hợp và hiệu quả nhất cho đơn vị của mình. Tại Nhật Bản, liên quan đến vấn đề quản lý hoạt động giảng dạy của giáo viên mầm non đã có rất nhiều các nghiên cứu có giá trị, Minoura Yasuko - đại học Ochanomizu trong quyển “Vài nét về giáo dục mầm non Nhật Bản” đã đề cập đến tầm quan trọng của sự tự quyết của giáo viên, trong đó các quy định của chính phủ về phƣơng pháp và nội dung giáo dục trƣớc tuổi học đƣợc giới hạn thiết kế, nên những chỉ dẫn có tính cơ bản, trong khi việc hiện thực hóa hƣớng dẫn này lại phụ thuộc vào cá nhân từng trƣờng mẫu giáo, cá nhân từng giáo viên, 9 điều này không giống với các giáo viên Việt Nam, giáo viên Việt Nam tiến hành các hoạt động trung thành với những gì đã quy định chi tiết cụ thể của các cấp quản lý.
Các giáo viên trƣớc buổi học ở Nhật tham gia trực tiếp vào giáo dục trẻ, họ có quyền tự quyết rất lớn về cách dạy và nội dung dạy [61]. Hầu hết các nhà nghiên cứu giáo dục và thực tiễn hoạt động giáo dục tại một số trƣờng đều nêu cụ thể các khuynh hƣớng giáo dục, sứ mạng của dạy và học đồng thời cũng chỉ ra những cách thức quản lý một lớp học cũng nhƣ quản lý HĐDH cho có hiệu quả để hoàn thành mục tiêu chung. Nhƣ vậy, những vấn đề về QLGD đã đƣợc nhiều tổ chức, nhà giáo dục hàng đầu trên thế giới quan tâm và nghiên cứu nhƣ một vấn đề nổi trội trong công cuộc đƣa giáo dục trở thành một lĩnh vực quan trọng đúng với vai trò của nó. Những nghiên cứu ở Việt Nam Việt Nam là đất nƣớc xem trọng giáo dục cũng nhƣ thấy rõ đƣợc tầm quan trọng của công tác quản lý ở cơ sở giáo dục.
Quản lý HĐDH là một công việc mang tính thách thức của hiệu trƣởng đặc biệt là trong giai đoạn phát triển mạnh mẽ về khoa học kỹ thuật hiện đại. Chính vì vậy, tại Việt Nam cũng có rất nhiều tác giả đã quan tâm nghiên cứu đến HĐDH cũng nhƣ công tác quản lý HĐDH để tìm ra những biện pháp hữu hiệu nhằm giúp các hiệu trƣởng thực hiện tốt mục tiêu giáo dục của nhà trƣờng. Các nhà tâm lý học trẻ em Nguyễn Ánh Tuyết, Nguyễn Quang Uẩn, Phạm Minh Hạc xác định rõ dạy và học là hai thành tố có tác động qua lại trong giáo dục trẻ từ 0-6 tuổi. Vai trò của ngƣời thầy trong mối tƣơng tác hai chiều này cũng đƣợc các tác giả nhấn mạnh thông qua việc nghiên cứu tƣờng lứa tuổi với các đặc điểm tâm lí tƣơng ứng [26], [33], [57].
Cùng với các nhà tâm lý học, các nhà giáo dục học với các giáo trình dạy học cho trẻ em cũng xác định rõ nội dung, nhiệm vu, phƣơng pháp và hình thức dạy học cho trẻ từ 0-6 tuổi ở trƣờng mầm non thông qua hoạt động dạy học của GVMN. Điều này đƣợc các tác giả Nguyễn Ánh Tuyết, Phạm Minh Hạc thể hiện rõ trong các giáo trình về Giáo dục học trẻ em lứa tuổi mầm non [26], [52],[59]. Năm 1998, tác giả Đinh Văn Vang và Trịnh Dân với giáo trình Giáo dục học trẻ 10 em, tập 2, phần 2 xuất bản tại nhà xuất bản (XB) ĐH Sƣ Phạm cùng với việc hệ thống lại toàn bộ các cơ sở lý luận (CSLL) về giáo dục trẻ em trƣớc tuổi học nhƣ các khái niệm, phƣơng pháp, hình thức và nội dung giáo dục đã nhấn mạnh vai trò của việc quản lý hoạt động dạy học của giáo viên mầm non tại trƣờng mầm non. Đây đƣợc xem nhƣ “kim chỉ nam” trong việc định hƣớng và thực hiện các nhiệm vụ quản lý chủ yếu tại các cơ sở GDMN [58].
Tiếp nối các nghiên cứu về tâm lý học và giáo dục học về hoạt động dạy học của giáo viên ở trƣờng mầm non là các công trình nghiên cứu về quản lý hoạt động dạy học và quản lý hoạt động dạy học của giáo viên mầm non tại các cơ sơ giáo dục mầm non. Dịch giả Nguyễn Lợi (1992) với tác phẩm Những vấn đề cốt yếu của quản lý đƣa ra các khái niệm cơ bản nhất về công tác quản lý mà nhất là quản lý về nhân sự trong các cơ sở giáo dục [38]. Nguyễn Thế Vinh, Tạ Văn Doanh, Nguyễn Văn Tƣờng với Nghiệp vụ quản lý trường mầm non đã hệ thống lại các nội dung trong công tác quản lý chung về con ngƣời, cơ sở vật chất và hoạt động chăm sóc giáo dục tạo các trƣờng mầm non vào năm 1996. Nhóm tác giả cũng đồng thời nghiên cứu về Lý luận quản lý vận dụng và quản lý trường mầm non đƣợc giới chuyên môn đánh giá cao bởi các lý luận và vận dụng sát thực với thực tiễn GDMN Việt Nam hiện nay [59].
Bác Hồ đã từng dạy: “về cách học phải lấy tự học làm cốt”.Thủ tƣớng Phạm Văn Đồng cũng yêu cầu “Ngành giáo dục và đào tạo phải vũ trang cho mình phương pháp giảng dạy, phát huy vai trò chủ động của người học, giải đáp tốt bốn câu hỏi: dạy ai? Dạy cái gì? Dạy như thế nào? Dạy để làm gì?” [59]. Các tác giả nhƣ: Nguyễn Ngọc Quang với “Những khái niệm cơ bản về lý luận quản lý giáo dục”, Trần Kiểm với “Khoa học quản lý giáo dục”, Hoàng Chúng, Phạm Thanh Liêm với “Một số vấn đề về lý luận quản lý giáo dục”….đã nghiên cứu và đi sâu vào những bình diện khác nhau nhƣng đều giải quyết mối quan hệ giữa giáo viên và nhà quản lý, những nội dung quản lý HĐDH của hiệu trƣởng, những nguyên tắc quản lý giáo dục và quản lý trƣờng học [44]. 11 Tuy nhiên, các vấn đề quản lý giáo dục, quản lý trƣờng học và quản lý HĐDH mới chỉ đƣợc các tác giả đề cập ở bình diện tổng quát, mang tính nguyên tắc chứ chƣa cụ thể cho công tác quản lý hoạt động giảng dạy trong thực tiễn. Trong lĩnh vực Giáo dục mầm non, QL HĐDH cũng là một vấn đề đƣợc quan tâm.